Chương 1. Lịch sử kỹ nữ
I. Nguồn gốc của nghề kỹ nữ
1. Sự manh nha của nghề kỹ nữ
Trương Mẫn Duân tiên sinh cho rằng "Phải tìm kiếm nguồn gốc của việc mại dâm trong lịch sử xã hội. Trong thời kỳ mông muội, loài người trải qua giai đoạn quần hôn, quyết không có sự tồn tại của hiện tượng mại dâm, thời đại trước đó tức giai đoạn loạn hôn và tính giao không theo quy củ thì càng không thể nói về sự tồn tại của việc mại dâm. Theo đó đủ biết mại dâm là hiện tượng phát sinh trong thời kỳ sau... Có điều trong thời kỳ ấy cũng có thể có những thực tế ngoại lệ tương tự việc mại dâm. Ví dụ một cô gái vì không đủ cái ăn cái mặc, bèn khuất thân với đàn ông trong tập đoàn để đánh đổi cái ăn, trong thời kỳ tư liệu sinh hoạt còn thiếu thốn cũng thường có hiện tượng như vậy. Về sau bước vào xã hội thị tộc phụ hệ, tài sản riêng và hôn nhân một vợ một chồng đã bắt đầu manh nha, mặt khác vì có sự xuất hiện nô lệ, nghề mại dâm cũng theo đó gia tăng, đây không phải là hiện tượng khó hiểu. Trong xã hội thị tộc, bị chủng tộc khác tấn công bắt làm tù binh, trở thành nô lệ, trong đó cũng có phụ nữ, là giai cấp nô lệ bị đè nén. Sau đó trong thị tộc gia trưởng phụ hệ xuất hiện chế độ một chồng nhiều vợ. Lúc chế độ một vợ một chồng bắt đầu nảy sinh, các tộc trưởng, tù trưởng, tăng lữ có quyền lực đều chọn hình thức một chồng nhiều vợ. Một bộ phận nữ nô lệ chưa được chọn vào hạng thê thiếp, lại có ý thức bán thân đế đổi lấy lợi ích, đó cũng là sự thật dễ hiểu. Không chỉ giới hạn trong các nô lệ, ngay một bộ phận phụ nữ thuộc tầng lớp dưới của thị tộc cũng có khuynh hướng ấy. Cho dù trong hoàn cảnh khai hóa của loài người ngày nay không coi trọng sự trinh tiết trước khi kết hôn, phụ nữ chưa kết hôn phần nhiều dựa vào việc bán thân để có tiền bạc lấy chồng, phụ nữ bản xứ ở Nam Dương cũng có nhiều người như thê. Hiện tượng này về sau vì sản xuất phát triển, vật đổi vật đơn thuần đã phát triển tới giai đoạn thương phẩm hóa và trao đổi hàng tiền, việc bán thân lại càng xuất hiện rõ ràng, trở thành thị trường xác thịt. Trong thời đại ấy, đúng vào thời kỳ sùng bái sinh thực khí đang thịnh hành, cho rằng hành vi tính giao là một loại khoái lạc thần bí, từ chế độ quần hôn tự do tiến vào chế độ một vợ một chồng, đàn ông đột nhiên bị chế độ ấy ràng buộc, nên mượn vật chất đế đổi lây thân xác của phụ nữ, đó cũng là một sự thật dễ hiểu. Lúc đầu là cưỡng ép hoặc có ý thức, nhưng cũng có thể ngẫu nhiên xuất hiện hành vi "chế độ kỹ nữ" (Haeterism), trong một thời gian dài, về sau dần dần trở thành nghề mại dâm bình thường" (1)
Luận điểm này của Trương tiên sinh có đủ sức thuyết phục khiến người ta tin tưởng. Trong quá khứ, giới học thuật thường cho rằng kỹ nữ ở Trung Quốc bắt đầu từ Vu xướng (Đồng bóng) (2). Trong thực tế, cách nói ấy khiến người ta ngờ vực. Trước hết, lập luận ấy xuất phát từ điểm giống nhau về việc giỏi ca múa của nữ vu và kỹ nữ về sau, nhưng lại bỏ qua việc phụ nữ đời sau làm kỹ nữ cơ bản vì lý do kinh tẽ và chính trị bức bách. Thứ nữa, sự suy lý và những luận cứ mà phái ấy dùng để chứng minh cũng không đứng vững được. Luận điểm ấy rõ ràng chịu ảnh hưởng của cái gọi là "Mại dâm tôn giáo" của học giới Tây phương, không phù hợp với tình hình Trung Quốc. Về việc này các ông Trương Mẫn Duân, Vũ Chu từng nói rõ trong các công trình của họ, ở đây không thuật lại (3)
Nói thật chính xác, thì sự xuất hiện của nghề kỹ nữ ở Trung Quốc có quan hệ chặt chẽ với sự xuất hiện chế độ tư hữu của xã hội thị tộc, vả lại sau khi chế độ một vợ một chồng hình thành, xã hội bị hạn chế nhất định trong việc hôn nhân tình dục, sau khi mọi người có quan niệm luân lý về trinh tiết và khoái lạc xác thịt. Lúc bấy giờ một số thủ lĩnh bộ lạc và tộc trưởng thiểu số lợi dụng chức quyền, trong quá trình phân phối sản phẩm nội bộ và trao đổi sản phẩm bên ngoài biến một số tài sản tập thể thành của mình, lương thực, tiền bạc và nô lệ đều thành một bộ phận quan trọng trong tài sản của họ, từ đó làm cơ sở vật chất cho sự nảy sinh của nghề kỹ nữ.
Đồng thời cùng cần chỉ ra rằng sự sản sinh của nghề kỹ nữ còn có quan hệ với quan niệm về tính dục của người nguyên thủy. Trong thời kỳ xã hội phụ hệ, quan hệ tính giao giữa nam nữ ngoài nhu cầu sinh con đẻ cái, còn xuất hiện nhu cầu tình dục. Thi kinh, Nhị nam, Thảo trùng có miêu tả "Diệc ký cẩn thượng, Ngã tâm tắc giáng... Ngã tâm tắc duyệt... Ngã tâm tắc di” (Đến khi thấy mặt, Thì lòng ta yên... Thì lòng ta đẹp... Thì lòng ta mừng) có quan hệ với tâm lý khoái cảm tình dục đã xuất hiện từ thời nguyên thủy. Nhưng trong chế độ một vợ một chồng, quan hệ tính giao giữa nam nữ đã có sự hạn chế nhất định, sự loạn luân bị cấm đoán, đàn ông trong sinh hoạt tình dục không được làm như ý mình, nhất định phải nghĩ tới lợi ích của tập thể và xã hội.
Sự nảy sinh của chế độ tư hữu và xuất hiện của quan niệm tình dục rốt lại là dùng tiền bạc hoặc những quyền lực, thủ đoạn khác để mua sự hiến thân của phụ nữ, sau cùng dẫn tới sự xuất hiện của nghề mại dâm. Chế độ xướng kỹ là sản phẩm của thời đại văn minh, so với cách thức quần hôn tạp giao trong thời đại mông muội, dã man thì tiến bộ hơn rất nhiều. "Từ bề ngoài mà nhìn, chế độ xướng kỹ là một quan hệ mua bán, là một hành vi tính giao có hình thức khế ước bảo hiểm, nó không chịu sự sai khiến và lăng nhục ngoài khế ước và tiền bạc. Nó không những tiến bộ hơn chế độ quần hôn, chế độ nhiều vợ nhiều chồng, chế độ hôn nhân cướp đoạt, mà rõ ràng cũng tiến bộ hơn chế độ một vợ nhiều chồng mà đàn ông nếu không dùng tiền bạc hay của cải thì là cậy vào quyền lực, đẳng cấp mặc ý chiếm hữu phụ nữ (4)
_____________________
(1) Trương Mẫn Duân biên dịch, Tính khoa học (Khoa học tình dục, Thượng Hải thời đại thư cục, 1950, tr. 139 - 140.
(2) Có thể lấy Trung Quốc xướng kỹ sử của Vương Thư Nô tiên sinh làm đại biểu cho đặc điểm này, ông đoán định nghề kỹ nữ ở Trung Quốc bắt nguồn từ nữ vu thời Ân Thương, lại gọi thời đại ấy là thời đại Vu xướng
(3) Xem thêm Trương Mẫn Duân biên dịch, Tính khoa học tr. 141-145 và Vũ Chu, Trung Quốc kỹ nữ sinh hoạt sử (Lịch sử sinh hoạt của kỹ nữ Trung Quốc) tr. 32-42.
(4) Đới Vĩ, Trung Quốc hôn nhân tính ái sử cảo (Lược sử hôn nhân và tình yêu ở Trung Quốc), Đông phương xuất bản xã 1992, tr. 45.
2. Thời đại kỹ nữ nô lệ
Kỹ nữ nô lệ là đặc điểm rõ ràng nhất của nghề kỹ nữ thời Hạ Thương. Trong thời kỳ này, không những bậc thiên tử là kẻ thống trị tối cao có hàng ngàn hàng vạn "nữ nhạc", 'xướng ưu", mà trong nhà các chư hầu và sĩ đại phu cũng nuôi dưỡng một số lượng lớn các "nô lệ trên giường", đó đều là tiền thân của loại cung kỹ và gia kỹ trong lịch sử kỹ nữ Trung Quốc.
Từ tư liệu sử sách mà nhìn, cung kỹ đã xuất hiện từ thời nhà Hạ. Lưu Hướng thời Hán trong Liệt nữ truyện, Hạ Kiệt Muội Hỷ truyện chép:
"Vua Kiệt bỏ lễ nghĩa, gian dâm phụ nữ, tìm mỹ nữ đưa vào hậu cung, thu gom xướng ưu, bọn lùn làm hề, bọn con hát biết trò lạ, gom lại trong phòng. Chế ra dâm nhạc, ngày đêm cùng Muội Hỷ và cung nữ uống rượu không lúc nào nghỉ, đặt Muội Hỷ lên gối nói gì cũng nghe. Dâm loạn vô đạo, mặc tình xa xỉ làm ao rượu có thể đi thuyền... Có người say quá chết đuối ở đó, Muội Hỷ thích thú lấy đó làm trò vui".
Lại như Quản tử, Khinh trọng chép:
"Vua Kiệt ngày xưa có ba vạn nữ nhạc, tiếng đàn hát rộn rã vang ra tận đường, không ai không mặc quần áo thêu thùa... Vua Kiệt không lo lắng gì tới thiên hạ, chỉ lo nhã nhạc yến ẩm với nữ nhạc".
Từ đó có thế thấy cung kỹ từ lúc vừa xuất hiện đã thể hiện xu thế phát triển thịnh vượng, phản ảnh bản chất dâm loạn vô độ của giai cấp thống trị.
Giống như nhà Hạ, vua cuối cùng của nhà Thương là Đế Tân tức Ân Trụ vương, cũng là một ông vua tàn bạo hiếu sắc dâm loạn. Sử ký, Ân bản kỹ miêu tả Đế Tân nói:
"Thích rượu chè và dâm nhạc, say mê phụ nhân. Yêu Đát Kỷ, Đát Kỷ nói là nghe theo. Vì thế sai Sư Quyên chế ra khúc nhạc dâm loạn mới, điệu múa Bắc lý, khúc nhạc Phỉ phỉ. Đánh thuế nặng để thêm tiền trong Lộc Đài, đầy thóc trong Cự Kiều. Lại thu gom những chó ngựa vật lạ, xây dựng cung thất. Mở rộng đài tạ thượng uyển ở Sa Khâu, bắt nhiều chim thú cho vào đó. Khinh mạn quỷ thần. Tụ họp nữ nhạc ở Sa Khâu, lấy rượu làm ao, treo thịt làm rừng, sai nam nữ khỏa thân đuổi nhau trong đó, uống rượu suốt đêm".
Từ đó chúng ta hoàn toàn có thể tưởng tượng ra cảnh tượng thịnh vượng cung kỹ như mây thời Thương.
Thời Hạ Thương, tuy tình hình chư hầu sĩ đại phu sử dụng kỹ nữ nô lệ không được ghi nhiều trong sử sách, nhưng chúng ta vẫn có thể thông qua giáp cốt văn và tư liệu khảo cổ để nhìn thấy một hai phần.
Trong giáp cốt văn khai quật được trong di chỉ khảo cổ thời Ân ở An Dương, chúng ta thường thấy những chữ "hề”, "quả", "bế". Theo sự khảo cứu của các chuyên gia, những chữ ấy có quan hệ với kỹ nữ nô lệ. Như chữ "thiếp" trong giáp cốt văn là chỉ nữ nô lệ. Quách Mạt Nhược tiên sinh giải thích rằng "Thiếp là nữ nô, Hựu thiếp thời Tổ Ất đại khái chỉ các nữ nô dùng làm vật tế thần" (5). Lại từ tình hình gieo quẻ để phân biệt thứ tự thê và thiếp của các quý tộc chủ nô mà nhìn, thì "thiếp" rõ ràng là gia kỹ không còn gì phải nghi ngờ, ý nghĩa gần với chữ "thiếp" trong cơ thiếp đời sau. Vì thế có học giả gọi đó là "nô lệ trên giường" (6). Tôi cho rằng cách nói ấy rất chính xác.
Chữ "quả" trong giáp cốt văn cũng chỉ gia kỹ. Triệu Kỳ thời Hán trong Mạnh tử chú nói "Quả là thị nữ được sủng ái, là loại ngựời nhỏ mọn được yêu thương".
Ngoài ra tù nhân phụ nữ dưới thời Thương và vợ, thiếp, hề, cơ, phụng, á, bế của nô lệ cũng có một bộ phận lớn trở thành "nô lệ trên giường" của quý tộc chủ nô, hoặc gọi là gia kỹ.
_______________________
(5) Ân khế tụy biên, Khoa học Xuất bản xã, 1965, tr. 218.
(6) Diêu Hiếu Toại, Thương đại đích phù lỗ (Tù binh thời Thương), cổ văn tự nghiên cứu, tập 1, Trung Hoa thư cục, 1979.
II. Sự phát triển của nghề kỹ nữ
Từ thời Xuân thu Chiến quốc đến thời Ngụy Tấn Nam Bắc triều, là thời kỳ phát triển mạnh của nghề kỹ nữ trong lịch sử Trung Quốc. Trong thời kỳ này, sự phát triển của nghề kỹ nữ có mấy đặc điểm như sau: một là Cung kỹ vẫn thịnh hành không suy, hai là Gia kỹ dần dần phổ biến, ba là Doanh kỹ bắt đầu xuất hiện và lưu hành, bốn là Thị kỹ (kỹ nữ ở đô thị) vẫn trong tình trạng không phát triển lắm.
1. Nghề kỹ nữ thời Xuân thu Chiến quốc
Thời Xuân thu Chiến quốc kẻ thống trị tối cao ở các nước phần lớn nổi tiếng hoang dâm vô độ. Họ ngoài việc lợi dụng đặc quyền có nhiều vợ để chiếm đoạt phụ nữ, còn thường chiếm hữu nhiều cung kỹ để phục vụ dâm lạc. Mạnh tử, Tận tâm nói "Thực tiền phương trượng, thị thiếp sổ bách nhân". Triệu Kỳ thời Hán chú "Thị thiếp đông tới vài trăm người". Mặc tử, Từ quá nói "Các vua ngày nay đều nuôi dưỡng cung kỹ. Nước lớn thì hàng ngàn, nước nhỏ thì vài trăm". Như "(Tề) Tương công, lầu cao ao rộng, say đắm tửu sắc. Chỉ lo săn bắn rong chơi, không lo quốc chính, khinh bỉ kẻ sĩ, chỉ trọng đàn bà, chín phi sáu tần, tỳ thiếp vài ngàn, ăn món ngon vật lạ, mặc lụa là gấm vóc, mà quân lính đói rét, nhung mã xếp sau chuyện vui chơi, binh sĩ lo sau việc tỳ thiếp, con hát và bọn làm hề thì trọng mà các bậc đại phu hiền tài thì khinh nên quốc gia không thịnh vượng" (7). Lúc Tề Cảnh công cầm quyền cũng hoang dâm vô sỉ, "tay trái ôm tay phải khoác" (8). Sở Trang vương lên ngôi, "say mê thanh sắc, tay trái khoác Tần cơ, tay phải ôm Triệu nữ" (9). Ngụy vương lúc yến ẩm, có "gái Sở múa phía trước, gái Ngô ca phía sau, gái Triệu dánh đàn sắt bên trái, gái Tần đánh đàn tranh bên phải" (10). Thái Thánh hầu "tay trái ôm thiếp trẻ, tay phải khoác Bế nữ" (11). Ngô vương Phù Sai lại càng gái đẹp đầy hậu cung, có ”cung kỹ mấy ngàn người" (12)
Số lượng kỹ nữ trong nhà các chư hầu sĩ đại phu cũng không kém gì quốc vương. Như đại phu Công Lương Hằng Tử nước Vệ trong nhà "phụ nữ mặc áo gấm thêu có mấy trăm người" (13). kỹ nữ tỳ thiếp trong nhà Bình Nguyên quân nước Triệu cũng có mấy trăm người (14).
Đương thời có một số thương nhân giàu có cũng bắt đầu nuôi dưỡng gia kỹ, như Sử ký, Lữ Bất Vi truyện nói "Lữ Bất Vi lấy một ca kỹ tuyệt sắc giỏi múa ở Hàm Đan, biết đã có mang. Tử Sở sang nhà Bất Vi, nhìn thấy đem lòng say mê, nhân đứng dậy chúc thọ mà xin. Bất Vi nghĩ giận mình đã vì Tử Sở phá hết gia sản, muốn dùng món lạ để câu, bèn dâng vợ. Người vợ giấu chuyện mình đã có mang, đến đủ tháng sinh con là Chính. Tử Sở bèn lập nàng làm phu nhân". Từ đó có thể thấy mẹ của Tần Thủy Hoàng là mỹ kỹ do đại thương nhân Dương Địch Lữ Bất Vi nuôi dưỡng trong nhà.
Đầu thời Xuân thu thị kỹ và kỹ viện nảy sinh, là một chuyện lớn trong lịch sử kỹ nữ Trung Quốc. Chiến quốc sách, Đông Chu sách chép Quản tử làm tướng nước Tề, từng đặt "Nữ lư bảy trăm người" để giúp quân phí (15). Lại như Hàn Phi tử, Nan nhị nói "Ngày xưa trong cung Hoàn công có hai chợ, nữ lư hai trăm, là phụ nữ bị phế làm kỹ nữ". Tuy hai sách ấy ghi chép số lượng kỹ nữ khác nhau, nhưng thời Tề Hoàn công đã bắt đầu thiết lập Nữ lư (tức kỹ viện đời sau) là chuyện có thật không còn gì phải nghi ngờ.
Tề Hoàn công thiết lập kỹ viện có bốn mục đích: một là đề tăng thêm thu nhập của quốc gia, như Chử Nhân Hoạch thời Thanh trong Kiên biều tục tập quyển 1 nói "Quản tử làm tướng nước Tề, đặt Nữ lư bảy trăm, đánh thuế khách ngủ lại hàng đêm để sung quốc dụng, đó là bắt đầu việc thu Tiền son phấn của giáo phường". Hai là để điều hòa và giảm thiểu mâu thuẫn xã hội. Quản tử, Quyền tu nói "Phàm kẻ chăn dân phải làm cho kẻ sĩ không xấu xa, phụ nữ không dâm tà. Kẻ sĩ không xấu xa là giáo, phụ nữ không dâm tà là huấn, giáo huấn thành phong tục thì hình phạt sẽ giảm". Lại như Hàn Phi tử, Ngoại trừ thuyết hữu hạ chép Hoàn công thấy dân có người "bảy mươi tuổi mà không có vợ", bèn nói với Quản Trọng. "Quản Trọng nói: Thần nghe người trên tích chứa của cải thì dân ắt thiếu thốn, trong cung có oán nữ thì dân sẽ có người già mà không vợ. Hoàn công nói: Hay. Bèn cho những phụ nữ trong cung chưa từng hầu vua xuất giá, lại ra lệnh đàn ông hai mươi tuổi phải cưới vợ, con gái mười lăm tuổi phải lấy chồng". Như vậy không những thỏa mãn tình dục cho một số lượng lớn đàn ông không vợ trong xã hội, mà còn khiến rất nhiều nô lệ phụ nữ được đặt vào vị trí thích hợp. Ba là ưu đãi du sĩ, chăng lưới bắt nhân tài. Đương thời chư hầu tranh hùng, Tề Hoàn công để đạt được mục đích làm bá chủ thiên hạ bèn lợi dụng gái đẹp để dẫn dụ nhân tài. Bốn là để cung đốn lạc thú cho Tề Hoàn công. Theo sử sách ghi chép, Tề Hoàn công là một người hiếu sắc, "thích việc trong phòng, nhiều người được thương yêu, như bậc phu nhân có tới sáu người" (16). Nhưng ông ta vẫn chưa thỏa mãn, thích tìm cảm giác mạnh. Hàn Phi tử, Ngoại trừ thuyết hữu thượng nói "Ngày xưa Hoàn công làm bá chủ, việc trong thì giao cho Bão Thúc Nha, việc ngoài thì giao cho Quản Trọng, xõa tóc chơi bời, hàng ngày la cà ở chợ búa".
Việc Tề Hoàn công và Quản Trọng sáng lập thị kỹ và kỹ viện có ảnh hưởng rất sâu xa đối với việc nảy sinh và phát triển của nghề kỹ nữ ở Trung Quốc về sau. Dưới ảnh hưởng của điều đó, không những các nước thời Xuân thu đua nhau bắt chước mà kẻ thống trị phong kiến đời sau cũng coi đó là mẫu mực, từ đó khiến chế độ xướng kỹ hàng ngàn năm sau thủy chung vẫn duy trì không mất, nuốt sống tuổi xuân và tính mạng của hàng ngàn hàng vạn phụ nữ, đó cũng là điều mà nhà chính trị, nhà tư tưởng Quản Trọng thời Xuân thu không nghĩ tới.
Tư kỹ đã xuất hiện trong thời Xuân thu Chiến quốc. Sử ký, Hóa thực liệt truyện chép "Gái Triệu là Trịnh Cơ, trang điểm lộng lẫy, đánh đàn thổi sáo, mặc áo dài, đi hài đẹp, liếc mắt đưa tình, ra ngoài trong vòng ngàn dặm, không chọn già trẻ, chỉ ngủ với người giàu có". Lại nói "Vùng Trung Sơn đất xấu người đông, còn có dân ở đất Sa Khâu của vua Trụ, phong tục nóng nảy, dựa vào cơ mưu mà sống. Đàn ông tụ họp rong chơi, bi ca khảng khái, động thì theo nhau làm bậy, thôi thì đủ việc đào mộ gian trá dâm đãng, nhiều người đẹp trai làm con hát. Đàn bà thì gảy đàn cầm, nối nhau rời quê, đi khắp nơi mê hoặc kẻ giàu có hay vào làm cung nữ ở khắp các nước chư hầu". Lại như Thi kinh, Chu Nam, Hán quảng nói "Hán hữu du nữ, Bất khả cầu tư" (Sông Hán có du nữ, Không thể mong cầu). Từ những sử liệu nói trên có thể thấy nàng Trịnh Cơ nước Triệu kia giỏi trang điểm, khéo ca múa, thông thạo mỵ thuật, quả có thể nói là sắc nghệ kiêm toàn. Nàng vì tiền bạc mà không nề vất vả, lặn lội đường xa, không tiếc đưa sắc đẹp và thân xác của mình ra bán. Từ phương thức kinh doanh của họ mà nhìn, chủ yếu là tới nhà phục vụ. Kinh Thi dùng từ "Du nữ", là cực kỳ làm sáng tỏ về đặc điểm kinh doanh của tư kỹ.
Doanh kỹ (hoặc gọi là quân kỹ) lúc bấy giờ đã bắt đầu xuất hiện. Theo ghi chép trong các sách Việt tuyệt thư, Ngô Việt Xuân thu thì khoảng trước sau năm 470 trước Công nguyên, "Việt vương Câu Tiễn chở những góa phụ có tội lên núi cho tướng sĩ lo buồn giải trí, để họ vui lòng". Việt vương Câu Tiễn lợi dụng "góa phụ có tội" phục vụ tình dục cho "những kẻ lo buồn" trong quân đội để giải quyết vấn đề sĩ khí sa sút, đó rõ ràng là một loại doanh kỹ điển hình. Tuy việc Việt vương Câu Tiễn lúc bây giờ bắt "góa phụ có tội" cung đốn tình dục cho quân sĩ có thể là một biện pháp chữa cháy mang tính nhất thời chứ hoàn toàn không làm thành một loại chế độ, nhưng chúng ta hoàn toàn có thể coi đó là sự hình thành chế độ doanh kỹ ở Trung Quốc. Ngoài ra, theo câu "Ra lệnh cho chợ búa trong quân không được có phụ nữ... Bọn dân lười biếng không vào chợ búa của quân, thì nông dân không làm bậy" trong Thương quân thư, Khẩn lệnh thiên cũng có thể đoán rằng thời bấy giờ doanh kỹ không những phục vụ cho tướng sĩ mà còn mở rộng ra cho cả xã hội, đã hướng tới phục vụ thương nhân, thợ thủ công, nông dân để thu tiền bạc, cung cấp quân phí.
________________________
(7) Quản tử, Tiểu khuông thiên.
(8) Án tử Xuân thu.
(9) Ngô Việt Xuân thu, quyển 1.
(10) Hoàng Hiến, Thiên Lộc các ngoại sử, quyển 4.
(11) Chiến quốc sách, sở sách.
(12) Nhiệm Phảng, Thuật dị ký.
(13) Mặc tử, Quý nghĩa.
(14) Sử ký, Bình Nguyên quân Liệt truyện.
(15) Chiến quốc sách, Đông Chu sách "Trong cung của Tề Hoàn công có bảy chợ, nữ lư bảy trăm, người trong nước cho là sai”. Chữ "lư" đây chỉ nơi quý tộc sĩ dân tụ cư
(16) Sử ký, quyển 32, Tề Thái công thế gia.
2. Nghề kỹ nữ thời Tần Hán
Nghề kỹ nữ thời Tần Hán trên cơ sở thời Xuân thu Chiến quốc lại tiến thêm một bước. Đặc điểm của nó là Cung kỹ vô cùng phát triển, Gia kỹ bắt đầu thịnh hành, chế độ Doanh kỹ chính thức xác lập, Thị kỹ từ từ phát triển.
a) Cung kỹ vô cùng phát triển.
Năm 221 trước Công nguyên Tần Thủy Hoàng không những thống nhất Trung Quốc, mà còn phát triển Cung kỹ tới mức cao độ. Theo sử sách, Tần Thủy Hoàng là một ông vua tàn bạo hoang dâm, ham mê tửu sắc, lấy gái đẹp làm đồ chơi. Đương thời có "Ly cung ở Quan Trung ba trăm sở, Quan ngoại bốn trăm sở, đều có chuông khánh, màn trướng, nữ nhạc ca kỹ", tổng cộng tới "hàng vạn người, chuông trống đàn sáo không dứt (17). Những người "trẻ tuổi xinh đẹp" "làm kỹ nữ ca hát" không những hàng ngày đàn hát ca múa phục vụ Tần Thủy Hoàng mà thỉnh thoảng còn phải cung đốn tình dục cho y. Vì thế người xưa từng có thơ rằng "Khấp dụ nhi yêu hề nạp kỳ thanh thanh, Lệ nhan ca trường tháp hề thán viết kỵ, Mỹ nhân ỷ ni phân thâu tiết" (Khóc lóc tiến cung chừ văng vẳng thanh âm, Rơi lệ hát ca lên giường chừ than thở, Giai nhân xinh đẹp đua kiều mỵ) (18). Thi nhân Đỗ Mục thời Đường cũng viết trong bài A Phòng cung phú rằng "Minh tinh huỳnh huỳnh, Khai trang kính dã, Lục vân ưu ưu, Sơ hiểu hoàn dã, Vị lưu trướng nhị, Khí chi thủy dã, Yên tà vụ hoành, Phần thúc lan dã. Lôi đình sạ kinh, Cung xa quá dã, Lộc lộc viễn thính, Hương bất tri kỳ sở chi dã. Nhất cơ nhất dung, Tận thái cực nghiên, Mạn lập viễn thị, Nhi vọng tễ yên. Hữu bất đắc kiến giả tam thập lục niên! Yên Triệu chi thu tàng, Hàn Ngụy chi kinh dinh, Tề Lương chi tinh anh, Kỹ thế kỹ niên, Phiếu lược kỳ nhân, Ỷ điệp như sơn. Nhất đán bất năng hữu, Thâu lai kỳ gian. Đỉnh đang ngọc thạch, Kim khuyết châu thước, Khí trịch dĩ ly, Tần nhân thị chi, Diệc bất kham tích" (Sao sáng lập lòe, Ra gương trang điểm, Tóc xanh mượt mà, Chải rồi mới búi, Óng ả buông dài, Không cần dầu gội, Khói mờ sương giăng, Đốt lò xông xạ. Chợt nghe ầm ầm, Xe cung đi lại, Lộc cộc xa xa, Mùi thơm không rõ từ nơi nào tới. Làn da khuôn mặt, Vô cùng xinh đẹp, Trông vời ra xa, Mỏi mòn mong đợi. Có kẻ không được gặp suốt ba mươi năm! Thu từ Yên Triệu, Gom từ Hàn Ngụy, Tinh hoa Tề Lương, Mấy đời mấy năm, Cướp bắt bao người, Chồng chất như non. Một sớm không được hưởng, Gom về nơi đây. Đỉnh đang châu báu, Vàng tan ngọc nát, Vứt bỏ vương vãi, Người Tần nhìn thấy, Cùng không nuối tiếc).
Sinh hoạt của giai cấp thống trị thời Hán còn hoang dâm vô sỉ hơn. Hán thư, Cống Võ truyện chép "Thời Vũ đế lại lấy thêm phụ nữ vài ngàn người đưa vào hậu cung. Đến khi bỏ thiên hạ, Chiêu đế còn nhỏ, Hoắc Quang chuyên quyền không biết lễ chính, cứ vơ vét tiền bạc, của cải, chim thú tôm cá, trâu ngựa, hổ báo, chim sống, mười phần lấy chín, đều cất giữ riêng. Lại đem hết mỹ nữ trong hậu cung ra ở viên lăng, là việc rất thất lễ, trái lòng trời, chưa chắc đã là ý của Vũ đế. Chiêu đế yến giá, quan lại làm như thế. Đến thời Hiếu Tuyên hoàng hậu, bệ hạ (Nguyên đế) ghét lời bà, quần thần cũng theo chuyện cũ, rất là đáng buồn! Cho nên khiến thiên hạ học theo người trên, đều cưới vợ quá mức, chư hầu có khi có tới vài trăm thê thiếp, nhà giàu và quan lại nuôi ca kỹ tới vài mươi người, vì thế ở trong có nhiều oán nữ, ở ngoài có nhiều khoáng phu... Lỗi ấy từ người trên sinh ra, đều là tội của các đại thần theo lệ cũ". Lại như Hậu Hán thư, Hoàng hậu kỹ nói "Từ sau đời Vũ đế Nguyên đế, mỗi đời mỗi chi phí vào việc hoang dâm nhiều hơn, đến nỗi Dịch đình có ba ngàn người, chia làm mười bốn bậc" (19).
Sinh hoạt hoang dâm của Hán Vũ đế mang tính chất tiêu biểu nhất trong các vua nhà Hán. "Trong niên hiệu Nguyên Sóc, nhà vua dựng cung Quang Minh, đem hai ngàn gái đẹp Yên Triệu vào đó, đều từ mười lăm đến hai mươi tuổi, đến ba mươi tuổi thì cho xuất giá. Theo sổ sách trong Dịch đình, các cung có tất cả 18.000 gái đẹp. Ba cung Kiến Chương, Vị Ương, Trường An đều có đường xe kiệu đi. Những bề tôi đươc thương yêu thì chia phụ nữ cho, hoặc lấy làm Bộc xạ, quan lớn thì lãnh bốn năm trăm, quan nhỏ thì lãnh một hai trăm người. Những người thường được hầu vua thì ghi vào sổ, được nâng bậc, hưởng lương sáu trăm thạch. Cung nhân đã rất nhiều, người được hầu vua mấy năm mới đến phiên một lần. Những phụ nữ giỏi mỵ thuật rất đông. Chọn hai trăm người thường theo vua ra ngoài, chở ở xe sau. Những người ngồi cùng xe với vua có mười sáu người, thường đủ số, đều xinh đẹp tự nhiên, không cần son phấn, được hưởng quần áo xe ngựa như nhà vua. Thường tự nói: Có thể ba ngày không ăn cơm, chứ không thể một ngày thiếu đàn bà. Rất giỏi thuật đạo dưỡng nên thân thể thường khỏe mạnh, ngủ với những người có thể có con, thường ghi lại ngày giờ, thưởng vàng trăm cân. Người có thai thì phong làm Dung hoa, sung vào hàng thị nữ" (20). Rõ ràng trong 18.000 gái đẹp ấy có một bộ phận rất lớn thuộc loại Cung kỹ.
Ngoài Vũ đế, các vua nhà Hán cũng có hàng ngàn hàng vạn cung kỹ trong hậu cung, sinh hoạt hoang dâm đồi bại. Như Nguyên đế có thụy hiệu là Nhân nhu Cung kiệm mà phi tần thê thiếp trong cung phần nhiều "ít khi gặp mặt", đến nỗi chỉ còn cách "sai thợ vẽ vẽ tranh, theo đó gọi vào hầu (21). Thành đế lại càng hoang dâm "say mê tửu sắc" (22), số người được yêu thương trong hậu cung còn vượt xa các vua trước, như Triệu Phi Yến mà ông ta sủng ái nhất là xuất thân từ ca kỹ (23). Hoàn đế thời Đông Hán cũng là một hôn quân cả ngày chìm đắm vào thanh sắc, Lý Hiền chú thích Hậu Hán thư, Hiếu Hoàn đế kỷ nói "Hoàn đế nạp ba hoàng hậu, lại thu thêm năm sáu ngàn cung nữ, mà không có con". Mà Linh đế còn hoang dâm hiếu sắc hơn Hoàn đế. Theo Hậu Hán thư, Hoạn giả liệt truyện thì thời Hán Linh đế, "Thể nữ trong hậu cung có mấy ngàn người, quần áo vật dùng hàng ngày tốn mấy trăm lượng vàng”. Từ đó có thể thấy mức độ thịnh vượng của cung kỹ thời Hán.
_______________________
(17) Xem thêm Thuyết uyển, quyển 52 và Sử ký, quyển 6, Tần Thủy Hoàng bản kỹ, Thoa chí dị của Chu Quỷ nói "Tần Thủy Hoàng thê thiếp hơn trăm, nhạc kỹ hàng ngàn".
(18) Giáng sử, quyển 149, dẫn lại từ Cầm uyển yếu lục.
(19) Hán thư, Ngoại thích truyện nói “Nhà Hán dấy lên theo cách gọi của nhà Tần, mẹ nhà vua gọi là Hoàng thái hậu, bà ngoại vua gọi là Thái hoàng Thái hậu, vợ chính gọi là Hoàng hậu, các thê thiếp thì có các bậc Phu nhân, lại gọi là Mỹ nhân, Luơng nhân, Bát tử, Thất tử, Trưởng sử, Thiếu sử, đến đời Vũ đế đặt ra các danh hiệu Tiệp dư, Khinh nga, Hoa dung, Sung y, đều có tước vị, đời Nguyên đế lại thêm Chiêu nghi, tất cả gồm mười bốn bậc".
(20) Hán Vũ cố sự.
(21) Tây kinh tạp ký, quyển 2.
(22) Hán thư, Thành đế kỹ.
(23) Xem thêm Hán thư, Ngoại thích Ân Trạch hầu Biểu và Thái Thuần, Triệu Phi Yến biệt truyện.
b) Gia kỹ bắt đầu thịnh hành.
Thời Tần Hán phong khí nuôi dưỡng gia kỹ bắt đầu dấy lên trong các nhà quý tộc sĩ đại phu, những sử sách có quan hệ tới việc kẻ thống trị hoang dâm vô sỉ, đắm chìm vào thanh sắc đều có rất nhiều, như Hán thư, Nguyên Hoàng hậu truyện nói "Năm em trai được phong hầu, tranh nhau xa xỉ... Cơ thiếp trong nhà đều có vài mươi người, gia đồng thì có hàng trăm hàng ngàn, gióng chuông trống, nghe nữ nhạc, xem vũ kỹ, ruổi ngựa thả chó săn bắn". Trọng Trường Thống thời Hán trong Xương ngôn, Lý loạn cũng nói các nhà quý tộc "Mắt nhìn no cảnh đấu vật, tai nghe chán nhạc Trịnh Vệ... Nhà cửa của kẻ quyền hào, có hàng trăm gian nối nhau... Gia đồng mỹ nữ tràn ngập trong nhà, nữ nhạc con hát xếp hàng chật thềm".
Phong khí "Thích thanh sắc, chuộng xa xỉ, coi nhẹ liêm sỉ, mặc ý dâm loạn" của giai cấp thống trị thời Hán bắt đầu từ thời Vũ đế. Hán thư, Cống Võ truyện nói "Đời Vũ đế... thiên hạ làm theo người trên, đều cưới vợ quá mức, chư hầu có khi có tới vài trăm thê thiếp, nhà giàu và quan lại nuôi ca kỹ tới vài mươi người, vì thế trong có nhiều oán nữ, ngoài có nhiều khoáng phu”. Lại như Ban Cố trong bài Tây Đô phú nói "Vu thị ký thứ thả phú, ngụ lạc vô cương. Đô nhân sĩ nữ, Thù dị hồ ngũ phương. Du sĩ nghĩ vu công hầu, Liệt tứ xỉ vu cơ thiếp" (Từ đó người giàu kẻ khó, hưởng lạc không thường. Kinh đô trai gái, Khác hẳn mọi phương. Du sĩ học theo công hầu, Xa xỉ trong chuyện cơ thiếp). Ví dụ Vũ An hầu Điền Phân đời Hán Vũ đế, "phòng sau có hàng trăm thê thiếp" (24). Đến đời Thành đế, sinh hoạt hoang dâm của giai cấp thống trị còn quá hơn trước, như ngoại thích Vương Đàm, Vương Thích, Vương Lập, Vương Căn, Vương Phùng năm anh em "đều được phong tước hầu, xây dựng phủ đệ ở kinh sư, tỳ thiếp còn đẹp hơn cung nữ... Việc kiêu xa dâm dật từ xưa chưa bao giờ tới mức như vậy" (25). Một số quý tộc sĩ đại phu khác cũng tranh nhau nuôi dưỡng gia kỹ, như Sử Chu đời Thành đế "Có hàng trăm gia đồng, vài mươi thê thiếp, trong nhà xa xỉ, thích uống rượu, chìm đắm trong thanh sắc" (26)
Thời Hậu Hán phong khí nuôi dưỡng gia kỹ ngày càng thịnh hành, không những quý tộc sĩ đại phu nuôi dưỡng gia kỹ mà cả một số địa chủ phú thương cũng nuôi dưỡng vài mươi gia kỹ. Hậu Hán thư, Lương Thông truyện chép "Nhân đi trên đường bắt kỹ nữ về hầu". Mà con Lương Thống là Lương Ký còn nuôi dưỡng trên một ngàn ca kỹ để hầu hạ, sử chép "lúc cưỡi xe ra ngoài chơi đều có tỳ thiếp ca kỹ thành đàn thành lũ theo sau xe, khua chuông thổi sáo, ca hát ầm ĩ trên đường" (27).
________________________
(24) Văn tuyển, quyển 1.
(25) Vương Gia, Thập nhi ký, quyển 10.
(26) Hán thư, Vương Thích Sử Đan Phó Hỷ truyện.
(27) Hậu Hán thư, Lương Ký truyện
c) Chế độ doanh kỹ chính thức xác lập.
Như trên đã nói, doanh kỹ bắt đầu hình thành cuối thời Xuân thu, đầu thời Chiến quốc đã xuất hiện, nhưng sự chính thức xác lập chế độ doanh kỹ xảy ra dưới thời Hán. Chính tự thông dẫn lại Hán Vũ đế ngoại sử nói "Hán Vũ bắt đầu đặt doanh kỹ, để tiếp đãi những tướng sĩ không có vợ". Theo sử sách ghi chép, Hán Vũ đế không những phong lưu thành thói, mà còn ưa thích võ công. Ông ta liền năm chinh phạt, khiến mấy mươi vạn tướng sĩ bận rộn chinh chiến, không sao đoàn tụ với người nhà. Để ổn định quân tâm, đề cao sĩ khí, bèn đặt doanh kỹ trong quân doanh, để các tướng sĩ thỏa mãn nhục dục.
d) Thị kỹ dần dần phát triển.
Tương tự cảnh tượng thịnh vượng của cung kỹ, gia kỹ và doanh kỹ, thị kỹ thời Tần Hán cùng dần dần hiện rõ, nhưng còn ở giai đoạn bắt đầu. Từ ghi chép trong sử sách mà nhìn, vào thời kỳ này thị kỹ vẫn noi theo di phong thời trước, ngoài việc cung cấp thanh sắc cho giới công thương quân dân, còn chủ yếu tới biểu diễn vào các dịp yến tiệc ở nhà các quý tộc sĩ đại phu và địa sĩ thân hào, cung cấp lạc thú cho họ. Có thị kỹ còn nhờ sắc nghệ kiêm toàn nên được kẻ thống trị sủng ái. Như em gái Lý Diên Niên vốn là kỹ nữ xuất thân ở Trung Sơn, vì Lý Diên Niên trước mặt Hán Vũ đế hát một bài ca ngợi sắc đẹp của em gái, nên được Hán Vũ đế ưng ý, đưa vào trong cung, phong làm Lý phu nhân (28).
_______________________
(28) Xem thêm Hán thư, quyển 97. Lý Diên Niên ca rằng "Bách phương hữu giai nhân, Tuyệt thế nhi độc lập. Nhất cố khuynh nhân thành, Tái cố khuynh nhân quốc. Ninh bất tri khuynh thành dữ khuynh quốc, giai nhân nan tái đắc" (Phương bắc có giai nhân, Tuyệt thế ở một mình. Ngoái nhìn là nghiêng thành, Nhìn nữa là nghiêng nước. Há chẳng biết nghiêng thành cùng nghiêng nước, Giai nhân khó mà được)
3. Nghề kỹ nữ thời Ngụy Tấn Nam Bắc triều
Nghề kỹ nữ thời Ngụy Tấn Nam Bắc triều cũng có mấy đặc điểm như sau: một là gia kỹ bắt đầu thịnh hành, hai là cung kỹ bắt đầu giảm sút, ba là doanh kỹ và thị kỹ tiếp tục phát triển.
a) Sự thịnh hành của gia kỹ.
Thời Ngụy Tấn Nam Bắc triều, phong khí nuôi dưỡng gia kỹ của quý tộc sĩ đại phu và địa chủ phú thương cực kỳ thịnh hành, trở thành một đặc điểm lớn của nghề kỹ nữ đương thời. "Công hầu khanh tướng, ca kỹ đầy nhà, phú thương quý tộc, vũ nữ thành đàn. Tranh nhau khoe khoang, ra sức giành giật, như sợ không bằng, không hề có cấm lệnh" (29). Đó không những biểu hiện gia kỹ trở thành công cụ thỏa mãn xác thịt cho quý tộc thân hào, mà còn trở thành phẩm vật cho họ khoe khoang, ganh đua giàu có, là một biểu trưng về quyền thế, địa vị, của cải của họ.
Nhìn từ ghi chép trong sử sách, thì trong thời kỳ này quý tộc sĩ đại phu nuôi dưỡng gia kỹ trong nhà, ít thì vài người, nhiều thì hàng trăm hàng ngàn. Ở đây căn cứ ghi chép trong sử sách sao ra:
Quý tộc, quan lại sĩ đại phu nuôi dưỡng gia kỹ không có hạn độ, buông thả phóng túng, ắt sẽ ảnh hưởng tới chính trị của quốc gia. Vì thế, Tuyên Vũ đế nhà Bắc Ngụy hạ lệnh lập ra chế độ, hạn chế sinh hoạt phóng đãng của quan lại. Nhà Tề thời Nam triều thậm chí còn quy định chính sách "Chưa làm tới chức Hoàng môn lang thì không được nuôi dưỡng gia kỹ". Nhưng những chính sách pháp lệnh ấy ở đương thời chỉ là nói suông, chứ trong thực tế không những phong khí nuôi dưỡng gia kỹ ở các quan lại cấp thấp tuy có lệnh vẫn không dứt được, mà ngay cả dân gian cũng có hiện tượng nuôi dưỡng ca kỹ. Như Tùy thư, Địa lý chí hạ ghi lại phong tục vùng Dự Chương có nói "Phong tục Dự Chương cũng giống Ngô Trung, quân tử giỏi trị việc nhà, tiểu nhân siêng năng cày cấy. Những người áo mão phần nhiều có vài vợ, chơi bời thị kỹ, lại trả tiền cho chồng họ. Đến như những kẻ được cử Hiếu liêm, vì muốn giàu có, tuy vợ trước đã nhiều năm vất vả, con cái đầy đàn vẫn bị đuổi ra, để cưới vợ khác".
________________________
(29) Thái Bình ngự lãm, dẫn lại Thuật lược của Bùi Tử Dã
b) Sự giảm sút của cung kỹ.
Thời Ngụy Tấn Nam Bắc triều, vì thế nước suy yếu, nên cung kỹ không thể sánh với thời Tần Hán, bộc lộ hiện tượng suy giảm. Nhưng sinh hoạt hoang dâm vô độ của kẻ thống trị phong kiến vẫn không vì thế mà giảm đi, ngược lại phong thái kiêu xa dâm dật còn ngày càng phát triển.
Ngụy Vũ đế Tào Tháo đồng thời với việc đưa ra câu "Đối tửu đương ca, Nhân sinh kỹ hà" (Trước rượu nên ca, Đời người mấy lúc) cũng thu nạp "ca kỹ bên cạnh, thường từ sáng đến tối" (30), hy vọng thông qua thuật trong phòng đạt được kết quả kéo dài tuổi thọ. Con là Tào Phi cũng ưa thích nữ sắc không kém Tào Tháo, ông ta không những nuôi nhiều mỹ nữ trong nước, mà ngay cả những sủng thiếp của cha cũng nạp vào cung mình để thỏa mãn nhục dục.
Lưu Thiện Hậu chủ nhà Tây Thục và Tôn Hạo vua cuối cùng của Đông Ngô cũng là phường hiếu sắc. Lưu Thiện cả ngày trời hoa đất rượu, mê đắm nữ sắc, đến nỗi sau khi mất nước vẫn say đắm trong "kỹ nữ ca múa đất Thục", "vui vẻ không nhớ nước Thục", bị người sau gọi là "Cái đấu đỡ không đứng nổi" (A Đẩu phù bất khởi). Tôn Hạo nổi tiếng xấu "cùng dâm cực xỉ" (31) trong lịch sử, hậu cung của ông ta có vài ngàn mỹ nữ, sớm tối truy hoan, thậm chí lúc đang để tang cha cũng mượn cớ tế thần để nghe hát xem múa" (32)
Tấn Vũ đế Tư Mã Viêm tuy là một nhà chính trị khá giỏi nhưng trong sinh hoạt cũng hoang dâm vô độ như thế, người đẹp trong hậu cung có hơn một vạn, cung cấp mọi lacj thú. Đương nhiên, trong hơn một vạn mỹ nữ ấy không thiếu những kỹ nữ dâm đãng kiều mỵ (33). Các vua chúa thời Nam Bắc triều tuy chỉ chiếm cứ một góc thiên hạ nhưng phần nhiều cũng buông thả vào vòng thanh sắc. Ở phương Bắc vua nhà Hậu Triệu là Thạch Hổ xây dựng cung thất to lớn gom hơn ba vạn mỹ nữ từ mười ba đến hai mươi tuổi, mặc ý hành lạc" (34). Đương thời có truyền thuyết, "cướp vợ bắt con người ta, trong hậu cung có mười vạn người" (35). Ngoài ra vua nhà Tiền Yên là Mộ Dung Hoảng "Hậu cung có hơn bốn ngàn người" (36). Phù Kiên nhà Tiên Tần trong hậu cung gái đẹp như mây, có lần ban cho Vương Mãnh "mỹ nữ năm người, kỹ nữ hạng nhất mười người, kỹ nữ hạng vừa ba mươi tám người" (37)
_______________________
(30) Ngụy chí, Vũ đế kỹ chú thích dẫn từ Tào Man truyện.
(31) Tam quốc chí, Ngô thư Tôn Hạo truyện.
(32) Kiến Khang thực lục, quyển 4 và Bảo Phác tử, Ngô thất thiên.
(33) Xem thêm Tấn thư, Vũ Nguyên Dương Hoàng hậu truyện và Tấn thư, Hồ Quý tân truyện.
(34) Nghiệp Trung ký.
(35) Tấn thư, Thạch Lý Long tải ký.
(36) Tấn thư, Mộ Dung Hoảng tải ký.
(37) Thập lục quốc Xuân thu, Tiền Tần lục.
c. Doanh kỹ và thị kỹ tiếp tục phát triển.
Chế độ doanh kỹ thời Ngụy Tấn Nam Bắc triều kế tục nhà Hán, lại phát triển thêm một bước. Như Hạ Hầu Đôn đánh Tôn Quyền có công, Tào Tháo vui vẻ thưởng cho ông ta "danh kỹ" hưởng dụng trong quân (38). Lúc Nguyên Thám nhà Bắc Ngụy giữ chức Thứ sử Tần Châu, "Người Khương làm phản, mấy lần đánh dẹp không chịu đầu hàng, Thám sai Triêu Vân giả làm đàn bà nghèo thổi ống trì xin ăn. Người Khương nghe thấy đều sa nước mắt, nói với nhau rằng: Tại sao bỏ làng xóm mà lên núi làm giặc cướp? Lập tức nối nhau quy hàng. Ngạn ngữ người đất Tần có câu: Khoái mã kiện nhi bất như lão ẩu xuy trì (Quân mạnh ngựa khỏe không bằng bà già thổi ống trì)" (39). Phế đế nhà Hậu Tống là Lưu Lạp thường tư thông với doanh kỹ trong doanh Hữu vệ, mỗi lần bỏ ra mấy ngàn đồng mua dâm" (40). Tề Phế đế Úc Lâm vương thường giả dạng thường dân tới quân doanh hành lạc (41). Những điều đó đều phản ảnh sự phát triển của doanh kỹ đương thời.
Thị kỹ trong thời kỳ này bắt đầu thịnh vượng dần. Như ở phương bắc đã xuất hiện kỹ nữ mang tính kinh doanh đơn thuần. Thái bình quảng ký dẫn lại sách Thập tam châu chí nói, đương thời vùng Quy Tư, Vu Điền "đặt nữ thị, thu tiền khách chơi đóng thuế" (42). Mà ở phương nam thì hiện tượng bán dâm mang tính thương nghiệp cũng ngày càng phổ biến, có thể thấy rõ điều này qua các thơ văn đương thời. Như bài Ô thê khúc của Lương Giản Văn đế nói " Thanh ngưu đan cốc thất hương xa, Khả linh kim dạ túc xương gia. Xướng gia cao thụ ô dục thê, La duy thúy bị nhiệm quân đê" (Bảy cỗ xe thơm mấy nhịp cầu, Đáng thương tối ngủ lại thanh lâu. Thanh lâu cây cao quạ muốn đỗ, Màn là đệm thúy tùy chàng ngủ). Bài Tương Dương nhạc nói "Triêu phát Tương Dương thành, Mộ chí đại đê túc. Đại đê chư nữ nhi, Hoa diễm kinh lang mục" (Sáng đi từ Tương Dương, Tối tới đê lớn ngủ. Trên đê các cô em, Xinh đẹp cùng quy tụ). Bài Tương Dương nhạc nói "Hạc Đình cố nhân khứ, Cửu Lý tân nhân hoàn. Tống nhất khước nghênh lưỡng, Vô hữu tạm thời nhàn" (Hạc Đình người cũ đi, Cửu Lý khách lạ tới. Đưa một lại đón hai, Không lúc nào rảnh rỗi). Bài Thạch Thành nhạc nói "Sinh trưởng Thạch Thành hạ, Khai song đối thành lâu, Thành trung chư thiếu niên, Xuất nhập kiến y đầu" (Sinh trưởng dưới Thạch Thành, Mở song ra trước lầu, Thiếu niên trong thành quách, Nhìn thấy lúc ra vào). Bài Dạ độ nương nói "Dạ lai mạo sương tuyết, Thần khứ khởi phong ba. Tuy hữu tự ví tình, Nại nùng thân khổ hà?" (Tuyết sương đêm gấp bước, Sóng gió sáng rời chân, Tuy được chút tình nghĩa, mà chuốc khổ vào thân). Bài Tảo hành phùng cố nhân xa trung vi tặng nói "Tàn chu do hoảng hoảng, Dư phấn hựu phi phi. Tạc tiêu hà xứ túc, Kim thần phất lộ quy” (Son tàn còn phớt phớt, Phấn sót vẫn rơi rơi. Đêm trước nơi đâu ngủ, Sáng nay đạp móc về). Từ đó có thể thấy tình hình thịnh vượng của thị kỹ đương thời.
________________________
(38) Tam quốc chí, Ngụy chí.
(39) Lạc Dương già lam ký, quyển 4.
(40 )Nam sử, Chương Chiêu Đạt truyện.
(41) Tống thư, Hậu Phế đế bản kỷ.
(42) Nam sử, Tề Phế đế Úc Lâm vương bản kỹ.
III. Sự phồn vinh của nghề kỹ nữ
Từ Tùy Đường đến Tống Nguyên, là thời kỳ phồn vinh của nghề kỹ nữ ở Trung Quốc. Trong thời kỳ này nghề kỹ nữ có mấy đặc điểm dưới đây: một là thị kỹ quật khởi mau lẹ thể hiện cảnh tượng phồn vinh thịnh vượng, hai là cung kỹ từng bước chuyển biến thành quan kỹ, cuối cùng bị quan kỹ thay thế, ba là gia kỹ và doanh kỹ phát triển theo xu thế phổ biến hóa, đại chúng hóa.
Nhà Tùy tuy là một vương triều ngắn ngủi, chỉ tồn tại có ba mươi năm, nhưng trong lịch sử kỹ nữ Trung Quốc thì lại là một trong những thời kỳ cung kỹ phát triển nhất. Theo sử sách ghi chép, Tùy Dạng đế là một ông vua hoang dâm vô sỉ nhất trong vua chúa các đời ở Trung Quốc. Ông ta lên ngôi rồi, "rất thích dâm nhạc", vì thế Ngự sử đại phu Bùi Uẩn Sủy biết ý vua, "tập hợp bọn tử đệ nhạc công các nước Chu, Tề, Lương, Trần cùng những người giỏi ca hát trong dân gian, tất cả hơn ba trăm người, làm ban đại nhạc. Điệu mới dặt dìu, tiếng dâm uyển chuyển, đều hơn những khúc điệu thời vua Cao Tề ở Nghiệp Thành cũ" (43). Sau đó những kẻ giỏi ca hát có tài vặt đều đưa vào nhạc phủ, lại đặt chức Bác sĩ đệ tử, nối nhau truyền dạy, dần dần tăng lên tới hơn ba vạn người. Tùy thư, Âm nhạc chí hạ chép:
"Lúc đầu trong niên hiệu Vũ Bình nhà Tề, rồng cá lẫn lộn, có bọn Bài ưu, Thù nho, Sơn xa, Cự tượng, Phát tỉnh, Chủng qua, Sát mã, Tước lư, kỳ quái dị đoan, loại nào cũng có, gọi là Bách hý. Thời Chu Trịnh Dịch được Tuyên đế sủng ái, tâu xin chiêu mộ nhạc công các nơi đưa hết về kinh sư, đều là con hát đất Tần. Đầu niên hiệu Khai Hoàng, lại thả về. Đến năm Đại Nghiệp thứ 2, người Đột Quyết Nhiễm Can vào chầu, Dạng đế muốn khoe khoang, bèn thu thập nhạc công bốn phương, tập hợp ở kinh đô... Từ đó họ đều do Thái thường dạy dỗ. Tháng giêng hàng năm các nước vào chầu, giữ lại đến ngày rằm, ngoài cửa Đoan Môn, trong cửa Kiến Quốc căng màn dài tám dặm, bày ra hý trường. Các quan chen chúc trên đường từ sáng đến tối để xem, đến ngày ba mươi thì ngưng. Người biểu diễn đều mặc gấm vóc, người ca múa phần lớn mặc quần áo phụ nữ. Những người đeo hoàn bội, đầu giắt hoa có trên ba vạn. Đầu tiên do Kinh triệu, Hà Nam may quần áo, mà hai kinh thêu thùa, gọi là Trung hư. Năm thứ 3 vua ra Du Lâm, người Đột Quyết vào chầu ở hành cung, vua bày nhạc kỹ cho xem. Năm thứ 6 các nước rợ cống hiến rất nhiều phương vật, từ Đột Quyết trở xuống đều do quốc chủ các nước đích thân vào chầu. Bèn bày trò Bách hý trên đường Thiên Tân, trong nước phàm có ai có tài lạ cũng đều tập hợp. Vật dùng xa xỉ, y phục lộng lẫy, đều dùng châu ngọc, vàng bạc, gấm lụa, vải thêu, phí tổn tới ức vạn... Tiếng nhã nhạc tiêu thiều trỗi lên vang xa vài mươi dặm. Những kẻ đánh đàn thổi sáo có môt vạn tám ngàn người, đèn đuốc bày ra sáng rực trời đất. Trò Bách hý thịnh vượng từ xưa chưa từng được như thế. Từ đó hàng năm đều lấy đó làm lệ thường”
Lại nói:
"Nhạc công từ thời Hán đến Lương Trần số lượng không hơn nhau nhiều lắm. Đến thời Chu, Tề, Tùy, Trần thì các nhạc công phần lớn đều được ghi tên vào sổ. Năm Đại Nghiệp thứ 6, vua ra lệnh tập hợp nhạc công tử đệ ở Ngụy, Tề, Chu, Trần, giao hết cho Thái thường, đặt thành nhạc phường ở Quan Trung, số lượng vượt xa các đời trước".
từ đó khai sáng chế độ nhạc vũ giáo phường trong lịch sử Trung Quốc.
Tùy Dạng đế không những lợi dụng cung kỹ để khoe khoang quốc thế, mà còn có ý gian dâm cung kỹ. Sau khi ông ta tức vị, lập tức lấy việc hưởng thụ làm tôn chỉ, tuyển gái đẹp khắp thiên hạ. Hậu cung ở Trường An ngoài hoàng hậu còn có 3 phi, 9 tần, 12 Tiệp dư, 15 Mỹ nhân Tài nhân, 24 Bảo lâm, 24 Ngự nữ, 36 Thể nữ, tổng cộng 124 mỹ thiếp, ngoài ra còn có ba bốn ngàn cung nữ. Nhưng bấy nhiêu mỹ nữ vẫn không thể thỏa mãn ham muốn về thanh sắc của ông ta, ông ta vẫn sai xây thêm năm hồ, mười sáu viện ở Đông đô Lạc Dương, tập hợp gái đẹp cho vào đó, mỗi viện do một vị phu nhân tứ phẩm đứng dầu, ngày đêm cung đốn lạc thú. Ông ta thường vào đêm trăng sáng suất lãnh vài ngàn cung nữ cưỡi ngựa khỏe, mặc áo thêu ra đường tấu khúc Thanh dạ du khúc tới Tây uyển du ngoạn, ca cơ vũ nữ đi theo thường có hơn ba vạn người. Cùng lúc ấy ông ta lại xây dựng hơn bốn mươi hành cung trên đường từ Trường An tới Giang Đô, bắt ép gái đẹp trong dân gian vào đó để cung đốn lạc thú lúc xuống nam tuần du. Nhất là trong hành cung tại Giang Đô càng đông đúc gái đẹp vùng Giang Hoài. "Trong cung có hơn trăm phòng, đều trần thiết đẹp đẽ, cho mỹ nhân vào ở, mỗi ngày sai một phòng làm chủ nhân" (44). Lúc ông ta nam tuần không những có hơn một ngàn phi tần cung nữ tùy giá để cung đốn lạc thú, mà còn tuyển thêm một ngàn gái đẹp vùng Ngô Việt mười sáu mười bảy tuổi làm Điện cước nữ để kéo thuyền, đây là cái mà sử sách gọi là "mày ngài thành đội, son phấn thành hàng". Trong hành cung Giang Đô, ông ta "hoang dâm ngày càng quá", suốt ngày chìm đắm trong tửu sắc, thường dùng dâm cụ "đồng xa" gian dâm thiếu nữ. Tùy Dạng đế sinh hoạt hoang dâm tột cùng như thế, sau cùng gặp kết cục nhục nhã bị phản tướng Vũ Văn Hóa Cập thắt cổ giết chết, nhà Tùy cũng vì thế mà mau chóng diệt vong.
_______________________
(43) Xem thêm Ngụy thư, Quy Tư truyện.
(44) Xem thêm Tùy thư, Âm nhạc chí, Tùy thư, Bùi Uẩn truyện
2. Nghề kỹ nữ thời Đường
Thời Đường là thời kỳ khá phồn vinh của nghề kỹ nữ ở Trung Quốc. Trong giai đoạn này nghề kỹ nữ có mấy đặc điểm dưới đây: một là cung kỹ thịnh hành không suy, lại chính thức hình thành chế độ kỹ nữ giáo phường, hai là quan kỹ ở các địa phương phát triển mau lẹ, ba là doanh kỹ và gia kỹ tiếp tục có sự phát triển.
a) Sự thịnh vượng và phát triển của cung kỹ thời Đường.
Sự thịnh vượng của cung kỹ thời Đường không kém gì thời Tùy. Như năm Vũ Đức thứ 9 (626), lúc Đường Thái tông mới tức vị, cung nữ có ba ngàn người, nghe nói sau đó đến các năm Trinh Quan thứ 2 (628), Khai Nguyên thứ 2 (714) cũng đều có việc thả ra ba ngàn cung nữ. Mà đến đời Đường Huyền tông lại có lối nói "tám ngàn thị nữ của tiên đế , ba ngàn người đẹp trong hậu cung" (45), điều đó cho thấy hậu cung của Đường Huyền tông và các vua nhà Đường không thua kém gì Tùy Dạng đế.
Chế độ cung kỹ thời Đường căn bản bắt nguồn từ việc thi hành chế độ giáo phường thời Tùy, trong niên hiệu Vũ Đức (618 - 626) bắt đầu đặt ra Giáo phường, giao cho Thái thường tự quản lý. Năm Như Ý thứ 1 (692) đời Vũ Tắc Thiên đổi gọi là phủ Vân Thiều, đời Trung tông lại khôi phục tên gọi Giáo phường. Đến năm Khai Nguyên thứ 2 (714) thực hành chế độ phân ty quản lý đối với Thái thường tự và Giáo phường, đều có chức trách riêng, từ đó khiến cơ quan Giáo phường mở ra rất lớn. Ngoài Nội Giáo phường đặt trong cung, còn đặt bốn Ngoại Giáo phường ở Tây kinh Trường An và Đông kinh Lạc Dương, trực thuộc cung đình, do cung đình phái hoạn quan giữ chức Giáo phường sứ. Nghệ nhân trong Giáo phường đông, như đời Đường Huyền tông các Giáo phường nội ngoại ở Trường An có tất cả 11.409 người, các nữ nghệ nhân trong Giáo phường theo tài sắc cao thấp mà chia thành cấp bậc khác nhau. Cung kỹ trong Nghi Xuân viện chia ra cao thấp, vì họ thường biểu diễn trước mặt hoàng đế nên được gọi là Nội nhân hoặc Tiền đầu nhân. Nhưng số lượng Nội nhân tương đối ít, những lúc biểu diễn lớn trong cung họ thường đứng ở đầu hoặc cuối đội ca múa, những tiết mục họ biểu diễn lại thường khó hơn rất nhiều so với kỹ nữ giáo phường. Các kỹ nữ trong Giáo phường gọi là Cung nhân, phần lớn là con gái nhà thường dân, dung mạo xinh đẹp, không vào hậu cung, "Học đàn tỳ bà, đàn tam huyền, đàn không hầu, đàn tranh, gọi là Tảo đàn gia" (46). Giáo phường ký nói "Biểu diễn dưới lầu, đưa Nghi Xuân viện ra. Nếu thiếu người thì đưa thêm phủ Vân Thiều vào. Người trong phủ Vân Thiều gọi là Cung nhân, đều là nô lệ hèn hạ". Đủ thấy, trong các buổi biểu diễn lớn ở cung đình, tất cả các kỹ nữ Giáo phường (tức Cung nhân) là phụ diễn cho Nội nhân, họ thường đứng giữa đám ca múa, biểu diễn một số tiết mục dễ.
Từ đời Đường Huyền tông trở đi, vì chính quyền suy yếu nên số kỹ nữ trong Giáo phường cũng dần dần giảm sút, tuy nhiên vẫn còn khá đông. Tháng 3 năm Trinh Nguyên thứ 21 (805), Thuận Tống ra lệnh cắt giảm số người trong Giáo phường, "Thả sáu trăm nữ kỹ Giáo phường trong hậu cung" (47). Đến năm Nguyên Hòa thứ 7 (812), "Giáo phường chợt nhận được mật chỉ, lấy sĩ nữ con nhà lương dân và kỹ nữ trong các phủ đệ riêng của quan lại, kinh sư nháo nhác" (48). Tháng giêng năm Nguyên Hòa thứ 14 (819), Hiến tông suy nghĩ về kinh tế, đồng ý cho Giáo phường biểu diễn rộng rãi trong xã hội, nhưng phải bảo đảm việc biểu diễn trong cung. Sau khi Mục tông lên ngôi, "Ban cho Nội Giáo phường một vạn quan làm chi phí theo xa gía" (49). Đời Văn tông, Giáo phường có lần biểu diễn điệu múa Nghê thường vũ y gồm ba trăm người. Đồng thời nội dung và đối tượng phục vụ trong việc biểu diễn của kỹ nữ Giáo phường cũng có chỗ khác biệt và mở rộng hơn so với đời Huyền tông. Kỹ nữ Giáo phường ngoài việc biểu diễn ca múa âm nhạc, còn biểu diễn thêm các môn tạp kỹ như đi dây, đi sào. Đối tượng phục vụ mở rộng ra khỏi cung đình, kỹ nữ Giáo phường (đặc biệt là Ngoại Giáo phường) ra khỏi cung hầu rượu là chuyện thường thấy, thậm chí ở Kinh triệu "Các bộ viện mỗi khi đến hai ngày Trùng dương, Thượng tỵ mở tiệc, hay các đại thần ra lãnh phiên trấn, đều phải thuê âm nhạc của Giáo phường để tiếp đãi tân khách" (50)
Ngoài Giáo phường Lê viên đặt trong cung đình cũng tập trung hơn một trăm cung kỹ tài sắc kiêm toàn. Tân Đường thư quyển 22, Lễ nhạc chí chép "Huyền tông hiểu âm luật, lại rất thích Pháp khúc, tuyển ba trăm tử đệ, dạy trong Lê viên. Nếu âm thanh có chỗ nào sai, ắt vua sẽ sửa cho, gọi là Lê viên đệ tử cùa hoàng đế. Có vài trăm cung nữ là Lê viên tử đệ, đặt ở Nghi Xuân Bắc viện. Lê viên Pháp bộ lại đặt tiểu bộ hơn ba mươi nhạc công". Mấy trăm cung nữ này cũng như kỹ nữ trong Nội Giáo phường, đều thuộc loại cung kỹ, chúng ta cứ tạm gọi chung là kỹ nữ Lê viên. Điểm khác biệt chủ yếu giữa họ với kỹ nữ Giáo phường là kỹ nữ Giáo phường nặng về biểu diễn ca múa còn kỹ nữ Lê viên thì nặng về biểu diễn nhạc cụ. Về nghề nghiệp chuyên môn đôi bên tuy có chỗ khác nhau, nhưng bổ sung cho nhau, giúp nhau phát triển. Đến năm Đại Lịch thứ 14 (709), Đại tông vì cung đình không đủ sức nuôi dưỡng một đội ca nhạc hoàng gia to lớn như thế nên hạ lệnh giải tán Lê viên, Ty Lê viên đổi thuộc Giáo phường.
_______________________
(45) Tư trị thông giám, quyển 185, Đường kỹ nhất.
(46) Xem thêm Đỗ Phủ, Quan Công Tôn đại nương vũ kiếm khí hành và Bạch Cư Dị, Trường hận ca, lại theo Tân Đường thư, Hoạn giả liệt truyện thượng thì con số thực tế về cung nữ trong đời Khai Nguyên Thiên Bảo là hơn 40.000 người, đủ thấy hai cách nói trên đếu khá bảo thủ.
(47) Thôi Lệnh Khâm, Giáo phường ký.
(48) Tân Đường thư, Thuận tông kỷ.
(49) Cựu Đường thư, Lý Giáng truyện.
(50) Tư trị thông giám, quyển 243.
b) Sự quật khởi của quan kỹ thời Đường.
Người trên mà ưa thích, người dưới ắt làm theo. Dưới ảnh hưởng của kẻ thống trị tối cao nhà Đường, xã hội dâm dật thành thói. Trương Đoan Nghi thời Bắc Tống trong Quý nhĩ tập nói "Người thời Đường thích văn nhã ưa chơi gái". Loại phong tục ấy biểu hiện trong giai cấp thống trị lại càng rõ ràng, bất kể là quan lại tiễn người cũ đón người mới, điển lễ yến tiệc mời khách hay quan viên tụ họp ngâm thơ, du sơn ngoạn thủy, đều phải lấy kỹ nhạc giúp hứng, vì thế hình thành một chi phái kỹ nữ to lớn lệ thuộc quan lại các cấp tức quan kỹ.
Quan kỹ thời Đường còn gọi là Phụ nữ của quan (Quan sử phụ nhân), Nữ tử của quan (Quan sử nữ tử), Nô lệ của quan (Quan nô) vân vân (51). Đầu thời Đường họ đã thể hiện xu thế phát triển mau lẹ, Đường hội yếu, quyển 33 viết "Theo cựu chế, Tán nhạc có một ngàn người, số lượng này nhiều ít tùy theo các châu huyện, thay phiên theo tháng mà trực... Tháng 12 năm Trinh Quan thứ 23 hạ chiếu sai Tán nhạc các châu dâng lên Thái thường chỉ lưu lại hai trăm người, còn bao nhiêu giải tán". Từ năm Vũ Đức thứ 9 (618), "Quan ở ty Thái thường mượn hơn năm trăm bộ quần áo trong dân làm trang phục cho Tán nhạc" (52), một việc đó đủ cho thấy phần lớn nghệ nhân trong tán nhạc là nữ kỹ. Điều này cho thấy đầu thời Đường quan lại các địa phương đã có một số lượng quan kỹ nhất định, vả lại còn có trình độ nghệ thuật khá cao, nếu không thì không thể nào dâng vào cung để phục vụ.
Đến giữa thời Đường quan kỹ địa phương đã trở thành khá phổ biến, ngoài quan kỹ do trưởng quan các châu phủ quận thiết lập, chính quyền địa phương cấp huyện cũng đặt quan kỹ. Như Thôi Hiệt trong bài tựa Đắc thể ca nói "Đầu niên hiệu Thiên Bảo, Vi Kiên làm Thái thú Thủy lục Chuyển vận sứ Thiểm quận, đào đầm Quảng Vận ở Sản Thủy phía đông Trường An để thông đường thuyền bè ở mấy mươi quận vùng Ngô Hội. Đầu tiên dân gian vui thích ca hát, gọi là Đắc thể, khi đầm đào xong, Huyện úy Thiểm huyện là Thôi Thành Phụ đổi điệu ấy thành Đắc bảo ca, tập hợp kỹ nữ ở hai huyện cho hát". Lại Lý Đức Dụ trong Văn vũ lưỡng triều hiến tán ký nói Lý Đức Dụ sau khi đã làm Tể tướng, "Hoàn toàn không ra lệnh cho hai huyện đặt quan kỹ mới", cũng chứng minh điều này.
Thời Vãn Đường quan kỹ ở các địa phương lại càng hưng thịnh. Đường yếu hội, quyển 34 chép tháng 9 năm Bảo Lịch thứ 2 (826) Kinh triệu doãn Lưu Thê Sở tâu "Lại thấy phương trấn các nơi cho tới châu huyện quân trấn bên dưới đều đặt nữ nhạc để giải trí, há có phải là để làm mạnh quân ngũ đâu, mà thật ra là để tiếp đãi khách khứa. Các bộ viện mỗi khi đến hai ngày Trùng dương, Thượng tỵ mở tiệc, hay các đại thần ra lãnh phiên trấn, đều phải thuê âm nhạc của Giáo phường, để tiếp đãi tân khách. Nay xin lấy trong số tiền ấy hàng năm hai ba mươi ngàn để chi lương thực quần áo cho nhạc công. Lại xin đừng sai giáo phường thu quản, để mong công tư đều được tiện lợi lâu dài". Từ đó có thể thấy sự thịnh vượng của quan kỹ.
________________________
(51) Cựu Đường thư, Kính Tống kỹ.
(52) Đường hội yếu, quyển 43, Luận nhạc.
c) Sự thay đổi và phát triển của doanh kỹ thời Đường.
Doanh kỹ thời Đường, còn gọi là Doanh tịch kỹ, vì hộ tịch của họ thuộc vào nhạc doanh, trong quân trấn, nên còn gọi là Kỹ nữ nhạc doanh (Nhạc doanh kỹ nhân), Phụ nữ nhạc doanh (Nhạc doanh tử nữ) vân vân. Tất cả bọn họ đều sống tập trung trong doanh thự hoặc nhạc doanh của quân trấn, do Doanh tướng, Nhạc tướng (hoặc gọi là Doanh tướng sứ, Nhạc tướng sứ) phụ trách quản lý, không được tùy ý ra ngoài, cũng không được tùy ý tiếp khách. Nhưng hạn chế này không phải thật nghiêm khắc, hoàn toàn dựa vào sự thương ghét của quan trưởng mà định ra, như Vân Khê hữu nghị, quyển 12 chép:
"Trì Châu do Đỗ Thiếu phủ tạo, Hào Châu do Vi Trung thừa ra lệnh, hai ông đều lớn tuổi, hâm mộ đạo Thích đạo Lão. Phụ nữ trong nhạc doanh đều hậu cấp lương thực quần áo, cho tùy ý ra ngoài ở, nếu có yến tiệc mới gọi tới, đường hoa ngõ liễu cho tùy ý vui vẻ. Cử tử đất Hoài Trung là Trương Lỗ Phong vì thế làm thơ đùa gởi cho Lý Thượng thư ở Đại Lương, thơ rằng
"Đỗ tẩu học tiên khinh huệ chất,
Vi công sự Phật úy thanh nga.
Nhạc doanh khước thị nhàn nhân quản,
Lưỡng địa phong tình nhật tạm đa"
(Họ Đỗ học tiên khinh mỹ nữ,
Ông Vi thờ Phật sợ giai nhân.
Nhạc doanh giao lại cho người quản,
Hai xứ phong tình cứ thế tăng)
Dưới sự cho phép của trưởng quan trong quân doanh, doanh kỹ cũng có thể đi lại giao thiệp với nhân sĩ ngoài quân doanh. Như doanh kỹ Tiết Đào nổi tiếng nhất thời Đường, năm mười lăm tuổi đã được Trấn thủ Tứ Xuyên Vi Cảo gọi vào làm thơ hầu rượu, rất được Vi Cảo thưởng thức và sủng ái. Ngoài ra lúc bấy giờ nàng còn đi lại xướng họa với các văn nhân sĩ đại phu như Nguyên Chẩn, Bạch Cư Dị, Lệnh Hồ Sở, Trương Hựu, Lưu Vũ Tích, Bùi Độ, Ngưu Tăng Nhụ, Nghiêm Thụ
Nhưng cho dù là thế, họ chủ yếu vẫn phải cung đốn lạc thú cho tướng sĩ trong quân, điều này có thể nhìn thấy từ ví dụ dưới đây:
"Thượng thư Dương Nhữ Sĩ trấn thủ Đông Xuyên, con là Tri Ôn thi đậu, Nhữ Sĩ mở tiệc ở nhà ăn mừng, các doanh kỹ đều hội họp ở đó. Nhữ Sĩ sai thưởng mỗi người một tấm hồng lăng, có thơ rằng
"Lang quân đắc ý cập thanh xuân,
Thục quốc tương quân hựu bất bần.
Nhất khúc cao ca hồng nhất sất,
Lưỡng đầu nương tử tạ phu nhân
(Lang quân đắc ý lúc thanh xuân,
Đất Thục coi quân lắm bạc vàng.
Một khúc ca xong lăng một tấm,
Cúi đầu nương tử tạ phu nhân). (53)
"Lúc đầu, Lý Thạnh Thường làm tướng quân Thần sách ở Thành Đô. Đến khi trở về, đưa doanh kỹ Cao Hồng Tự theo. Tiết độ sứ Tây Xuyên Trương Diên Thưởng tức giận đòi trả lại, vì thế có hiềm khích với nhau" (54)
"La Cù thi đậu, làm Tùng sự ở Phường Châu, có doanh kỹ tên Hồng Nhi, trước đó được quan trưởng trong quận cưới, người ta không ai dám gần. Cù cũng thích nàng, Quận tướng không chịu, Cù bỏ quan đi, nhưng vẫn không quên được Hồng Nhi. Nghĩ tới người đẹp, bèn làm một trăm bài thơ Tỷ Hồng Nhi" (55)
"Trương Tích Thượng giữ chức Tấn Châu mục, dan díu với doanh kỹ ở ngoài, sinh được con trai tên Nhân Quy" (56).
Vì từ thời Trung Đường tới Vãn Đường các Phiên súy, mục thú trấn thủ biên cương không những nắm quyền quân sự mà còn quản lý cả việc dân sự, tài chính, nên người đương thời dần dần gộp quan kỹ và doanh kỹ làm một. Như Thái bình quảnq ký quyển 252 chép "Thượng thư Lý Diệu thời Đường thôi giữ Háp Châu, đi lại với Ngô Viên, có Tá tửu lục sự tên Mỵ Xuyên, thông minh mẫn tuệ, Lý rất để ý, nhưng đã cưới doanh tịch kỹ Thiều Quang". Rõ ràng mấy chữ doanh tịch kỹ ở đây là một loại quan kỹ địa phương (tức Châu kỹ). Điều đó cho thấy rõ rằng đến cuối thời Đường, phạm vi chức năng và nghiệp vụ của doanh kỹ đã hòa làm một với quan kỹ ở địa phương, nên trong danh xưng cũng có thể thay đổi qua lại với nhau!
________________________
(53) Xem thêm Cựu Đường thư, Vũ Văn Dung truyện và bài Kỹ tịch của Lý Thương Ẩn.
(54) Đường hội yếu, quyển 43.
(55) Bắc lý chí.
d) Sự phổ biến của gia kỹ thời Đường.
Như trên đã nói, "Người thời Đường chuộng văn nhã thích chơi gái", vì thế hiện tượng quý tộc sĩ đại phu và các phú thương địa chủ nuôi dưỡng gia kỹ trong nhà trở nên cực kỳ phổ biến. Câu thơ
"Hoàng kim bất tích mãi nga my,
Luyện đắc như hoa tứ ngũ chi"
(Dốc hết ngàn vàng cưới mỹ nhân,
Bốn năm đóa đẹp rộn cành xuân)
của Bạch Cư Dị chính miêu tả chân thực về phong khí đương thời.
Về số lượng và quy mô nuôi dưỡng gia kỹ của quan liêu quý tộc, triều đình nhà Đường từng căn cứ vào cấp bậc của quan lại mà quy định rõ ràng. Tháng 9 năm Thần Long thứ 2 (706) Trung tông ra lệnh "Các quan tam phẩm trở lên có thể được một bộ nhạc kỹ, từ ngũ phẩm trở xuống không được có nữ nhạc quá ba người" (57). Ngày 2 tháng 9 năm Thiên Bảo thứ 10 (751) Huyền tông lại hạ chiếu nói "Các quan lại làm trưởng quan từ ngũ phẩm trở lên, Tiết độ sứ và Thái thú các đạo đều cho nuôi dưỡng nữ nhạc trong nhà để giải trí" (58). Từ đó đưa ra một sự bảo đảm về mặt pháp luật cho việc nuôi dưỡng gia kỹ của quý tộc quan lại, khiến họ có thể công khai nuôi dưỡng gia kỹ, hưởng thụ lạc thú.
Từ tư liệu trong các sử sách mà nhìn, thì thời Đường không chỉ quan lại quý tộc có gia kỹ mà cả một số văn nhân, phủ thương và địa chủ thân hào không có quan phẩm cũng rất nhiệt tình trong việc nuôi dưỡng gia kỹ. Ở đây căn cứ theo sử liệu, chọn ra một số ví dụ như bảng dưới đây:
Trở lên đều là những con số có thể kiểm tra, còn như những sử sách ghi chép về hiện tượng người thời Đường nuôi dưỡng gia kỹ thì kể ra không hết. Như Thoa tiểu chí chép Đường Thân vương vào mùa đông sai cung nữ ngồi vây quanh để chống rét, gọi là Màn kỹ nữ (Kỹ vi). Khai Nguyên Thiên Bảo di sự chép Kỳ vương Thiếu ham mê nữ sắc, mỗi khi đến mùa đông, không sưởi lửa mà luồn tay vào ngực kỹ nữ xoa bóp da thịt, gọi là Sưởi tay (Noãn thủ). Tân Đường thư, Hứa kính Tôn truyện chép Hứa Kính Tôn xây dựng nhà cửa hoa lệ, lầu gác liền nhau, sai kỹ nữ phi ngựa trên đó uống rượu tấu nhạc để làm vui. Từ những trò vui Màn kỹ nữ, Sưởi tay chơi bời hoang đường của số quý tộc đại thần này mà nhìn, thì số người nuôi dưỡng gia kỹ trong bọn họ nhất định không phải là ít.
_______________________
(57) Văn kiến hậu lục.
(58) Nam bộ tân thư, Đinh.
e) Sự phát triển của thị kỹ thời Đường.
Theo với sự phồn vinh của kinh tế thành thị thời Đường, thị kỹ cũng phát triển mau lẹ, trở thành một lực lượng không thể coi thường trong kỹ nữ thời Đường.
Thị kỹ đã phát triển nhộn nhịp từ đầu thời Đường, bài Trường An cổ ý của Lư Chiếu Lân nói
"Yêu đồng ngọc mã thiết liên tiền,
Xướng phụ bàn long kim khuất tất...
Cụ yêu hiệp khách phù dung kiếm,
Cộng túc xướng gia đào lý khê.
Xướng gia nhật mộ tử la quần,
Thanh ca nhất chuyển khẩu phân ôn.
Bắc đường dạ dạ nhân như nguyệt,
Nam mạch triêu triêu kỵ tự vân...
La nhu bảo đới vị quân giải,
Yên ca Triệu vũ vị quân khai"
(Gia đồng tuấn mã chuỗi tiền đồng,
Kỹ nữ rồng quanh nay uốn gối...
Rủ mời hiệp khách gươm phù dung,
Cùng ngủ thanh lâu khe đào lý.
Thanh lâu sớm tối mặc tình say,
Sênh ca chuyển điệu tiếng vang dầy.
Thềm bắc đêm đêm người tựa nguyệt,
Bờ nam sáng sáng ngựa như mây...
Áo là đai ngọc vì chàng cởi,
Điệu Yên khúc Triệu vì chàng bày)
phản ảnh sinh động về sinh hoạt của thị kỹ ở thành Trường An thời Đường. Ngoài ra, đầu thời Đường các thi nhân Lạc Tân Vương có bài Đế kinh thiên, Kiều Như Chi có bài Xướng nữ hành cũng phản ảnh sinh hoạt nhộn nhịp của thị kỹ đương thời.
Đến thời Thịnh Đường, thị kỹ không những đã có quy mô nhất định mà còn đã hình thành hai phương thức phục vụ là ở nhà đón khách và theo lời gọi Ra cuộc. Trước hết nhìn từ quy mô thì số lượng thị kỹ và quy mô kỹ viện ở Trường An, Lạc Dương, Dương Châu đều rất khả quan. Như phường Bình Khang ở Trường An, từng có lời tán dương là Ao đầm phong lưu (Phong lưu tẩu trạch). Khai Nguyên Thiên Bảo di sự, quyển thượng nói "Trường An có phường Bình Khang, là nơi kỹ nữ cư ngụ. Bọn du hiệp thiếu niên ở kinh đô tụ tập ở đó, các Tiến sĩ mới thi đậu hàng năm lấy giấy đỏ làm danh thiếp tới đó chơi bời, người đương thời gọi phường ấy là Ao đầm phong lưu". Thứ nữa, nhìn từ phương thức phục vụ của thị kỹ thì ngoài việc bán dâm trong kỹ viện còn có việc theo lời gọi Ra cuộc. Khai Nguyên Thiên Bảo di sự, quyển thượng chép "Những con em nhà giàu ở Trường An như Lưu Miễn, Lý Nhàn, Vệ Khoáng gia thế giàu có, lại thích tiếp đón kẻ sĩ bốn phương... Mỗi khi đến tiết Tam phục mùa hè đều vẽ tranh rừng quế trong vườn, kết lụa làm nhà mát, bày bàn ghế, gọi các danh kỹ ở Trường An tới lần lượt mời rượu, làm Hội Tránh nắng (Tỵ thử hội). Người đương thời ai cũng thích thú". Phương thức phục vụ này của thị kỹ thời Đường nảy sinh từ sự thích ứng với phong khí xã hội đương thời. Theo sử sách, các Tiến sĩ bảng vàng nêu tên thời Đường có tập tục gọi kỹ nữ tới hầu tiệc. Tôn Khải trong Bắc lý chí, Tự nói các sĩ tử ứng thí "Dắt theo nhiều bọn con em giàu có..., đầy tớ xe ngựa hào hoa, ăn chơi xa xỉ... Ca ngợi việc khinh bạc, càng ngày càng quá đáng". Một khi bảng vàng đề tên, lại càng uống rượu chơi gái, vô cùng xa xỉ. Như "Tiến sĩ ở Trường An là Trịnh Ngu, Lưu Tham, Quách Bảo Hành, Vương Xung, Trương Đạo Đức hơn mười người, không giữ lễ tiết, coi chung quanh như không có người. Mỗi khi đến mùa xuân, thì chọn kỹ nữ lẳng lơ năm ba người, dong xe nhỏ, tới vườn Khúc Thiều khỏa thân giữa đám cây cốì, vứt hết khăn áo, cười nói ầm ĩ, tự gọi là Kẻ ở ẩn điên khùng (Điên ẩn)" (59). Các thị kỹ cũng vui thích tiếp loại tài tử phong lưu như thế một là vì hâm mộ họ tài điệu phong lưu, hai là có thể nhờ đó thu được nhiều tiền" (60). Họ ngoài việc hầu rượu và bán dâm có lúc cũng biểu diễn một số tài nghệ ca múa.
Ngoài Trường An, Dương Châu cũng là nơi thị kỹ vô cùng phát triển, nổi tiếng khắp cả nước. Vu Nghiệp trong Dương Châu mộng ký viết "Dương Châu là nơi thắng địa. Mỗi khi chiều xuống, các kỹ viện thường có hàng vạn chiếc đèn lồng sáng rực trên không... Trên đường Cửu lý thập bộ, châu ngọc tràn ngập, giống như cõi tiên". Tình trạng phồn vinh ấy được phản ảnh trong rất nhiều thơ văn của người đương thời. Như bài Giang Nam khúc của Trương Tịch
"Xướng lâu lưỡng ngạn huyền thủy sách,
Dạ xướng Trúc chi lưu Bắc khách.
Giang Nam phong thổ hoan lạc đa,
Du du xứ xứ tận kinh qua"
(Thanh lâu đôi bờ giăng xích sắt,
Đêm hát Trúc chi lưu khách Bắc.
Giang Nam chốn chốn rộn sênh ca,
Sông dài nước cuộn thảy đi qua)
bài Túng du Hoài Nam của Trương Hựu
"Thập lý trường nhai thị cộng liên,
Nguyệt minh kiều thượng khán thần tiên.
Nhân sinh chỉ hợp Dương Châu tử,
Thiền trí sơn quang hảo mộ điền"
(Mười dặm đường xa phố nối liền,
Trên cầu trăng sáng ngắm thần tiên.
Đời người nên chọn Dương Châu chết,
Mộ đẹp non tươi mới thỏa nguyền)
bài Dạ khán Dương Châu thị của Vương Kiến
"Dạ thị thiên đăng chiếu bích vân,
Cao lâu hồng tụ khách phân phân.
Như kim bất thị thời bình nhật,
Do tự sinh ca thiết hiểu văn"
(Đêm xuống đèn cao sáng rực mây,
Lầu cao áo đỏ khách vui vầy.
Ngày nay không phải thời bình nữa,
Vẫn tiếng sênh ca rộn tối ngày
_________________________
(59) Đường hội yếu, quyển 34.
(60) Đường hội yếu, quyển 34, Thông điển, quyển 35.
3. Nghề kỹ nữ thời Ngũ đại
Ngũ đại là thời kỳ chiến tranh biến động trong lịch sử Trung Quốc, nhưng nghề kỹ viện hoàn toàn không vì thế mà suy giảm, mà ngược lại, nó còn có sự phát triển mới trên cơ sở thời Đường.
a) Cung kỹ thời Ngũ đại.
Chế độ cung kỹ thời Ngũ đại Thập quốc phần lớn kế thừa chế độ thời Đường, nhưng vì chiến tranh, thế nước và thời gian lập quốc ngắn ngủi, nên quy mô và nhân số thua xa với thời Đường. So ra, triều đại có cung kỹ phát đạt nhất là nhà Tiền Thục và Nam Đường của Hậu Đường.
Chế độ cung kỹ nhà Tiền Thục lấy kỹ nữ giáo phường làm chủ, Vương Kiến có bài Cung từ nói
"Thanh lâu tiểu phụ nhạ quần trường,
Tổng bị sao danh nhập Giáo phường.
Xuân thiết điện tiền đa vũ trận,
Bằng đầu các tự thỉnh y thường"
(Thanh lâu gái nhỏ quần dài loáng,
Thảy được ghi tên nhập Giáo phường.
Trước điện mùa xuân bày đội múa,
Nghiêng đầu đều tự sắm y thường).
Đủ thấy Vương Kiến thường dùng kỹ nữ giáo phường biểu diễn vũ điệu trong cung đình, vả lại còn rất thường tìm kiếm các kỹ nữ hát hay múa giỏi từ lầu xanh để tham gia biểu diễn. Sau khi Vương Diễn con Vương Kiến lên ngôi, lại càng "Hoang dâm tửu sắc, chơi bời vô độ. Từng lấy hàng vạn tấm lụa màu kết thành lầu trướng, trên núi lập cung điện đài gác, đều như cung điện thường ở, Diễn ngồi trên lầu nhìn, gọi đó là Nhà bếp đối diện (Đương diện trù). Trước hòn núi màu lại đào một cái hào, thông vào trong cung. Diễn lúc say rượu xuống núi là chèo thuyền rồng nhỏ trong hào, sai cung nhân ngồi họa thuyền ngắn cầm hàng ngàn ngọn đuốc, soi xuống mặt nước để đón thuyền, tiếng ca nhạc vang dội trên hào. Về tới cung lại yến ẩm say sưa đến sáng" (61). Lại tự chế ra điệu Chiết hồng liên trận vũ, dùng mấy trăm cung kỹ biểu diễn ca múa tập thể, sân khấu mười phần lộng lẫy (62). Lúc nhà Hậu Đường diệt nhà Tiền Thục không ít tướng sĩ nhà Đường bắt cung kỹ của Vương Diễn làm gia kỹ của mình, như Quách Sùng Thao từng cướp được "sáu mươi ái kỹ của Vương Diễn" (63).
Trong cung nhà Hậu Đường, người đẹp như mây. Theo ghi chép của Tân Ngủ đại sử, Ưu linh truyện, Trang tông Lý Tồn Húc tới đất Nghiệp, từng "Thu hàng ngàn gái đẹp đất Nghiệp bổ sung vào hậu cung", ông ta cũng thiết lập Giáo phường trong cung, ngoài việc hưởng dụng còn thường dùng nhạc kỹ để chiêu đãi tân khách, Minh tông về sau tuy có giảm bớt nhưng hậu cung và Giáo phường cũng còn mấy trăm người. Năm Thiên Thành thứ 2 (927) ông ta "Dùng nữ kỹ và Giáo phường trong cung" chiêu đãi Tần vương, lại vào ngày Thánh tiết "Dùng kỹ nữ Giáo phường hầu hạ yến tiệc tiếp đãi" chư hầu bốn phương. Vào dịp Thánh tiết thứ 2, lại "Dùng Giáo phường và Tạp kỹ Tả sương Hữu sương bày tiệc bồi tiếp" các quan (64).
Chế độ cung kỹ thời Nam Đường cũng ra sức mô phỏng thời Đường, nhất là sau khi Lý Lạp đa tài đa nghệ mà buông thả vào vòng thanh sắc lên ngôi, "chấn chỉnh lại Giáo phường, mở rộng cung điện" (65), suốt ngày yến tiệc vui chơi xa xỉ, tự mình say sưa. Đến nỗi sau khi mất nước, ông ta còn viết bài từ "Tối thị thương hoàng từ miếu nhật, Giáo phường do tấu biệt ly ca, Thùy lệ đối cung nga" (Xót nhất là ngày rời điện gác, Giáo phường còn trỗi khúc ly ca, Sa lệ trước cung nga) (66), lưu luyến không quên được sinh hoạt xa xỉ dâm dật trong cung đình.
Ngoài ba triều nói trên, các triều Hậu Thục, Nam Hán, Ngô Việt, Ngô ở phía nam và nhà Hậu Lương ở phía bắc đều có không ít cung kỹ. Như Mạnh Sưởng nhà Hậu Thục "Thích đá cầu ruổi ngựa, lại vì học thuật trong phòng của phương sĩ, tuyển rất nhiều con gái nhà lương dân để bổ sung vào hậu cung" (67), "Mà dân gian sợ bị tuyển, đều lập tức nhờ người mai mối gả con gái, gọi là Đám cưới vì sợ (Kinh hôn)" (68). Hoàng đế Nam Hán Lưu Phân, lúc để tang cha, lại "Sai con hát trỗi nhạc, uống rượu trong cung, cho nam nữ trần truồng làm vui, hoặc mặc áo đen cùng kỹ nữ đi chơi ban đêm, ra vào nhà thường dân" (69). Lưu Sưởng về sau lại càng dâm đãng không sao kể xiết, thường "Cùng cung tỳ là gái Ba Tư dâm dật vui thú trong hậu cung" (70)
________________________
(61) Khai Nguyên Thiên Bảo di sự.
(62) Bắc Lý chí, Tự của Tôn Khải viết "Phàm các quan trong triều yến hội, phải mượn chỗ các ty tào, sau đó mới có thể đưa tới chỗ khác. Duy các Tiến sĩ mới thi đậu bày tiệc tiếp khách thì có thể tùy ý, hỏi tới tiền thưởng, thì nhiều gấp đôi bình thường".
(63) Ngũ quốc cố sự.
(64) Nho lâm công nghị, quyển hạ.
(65) Cựu Ngũ đại sử, Quách Sùng Thao truyện.
(66) Sách phủ nguyên quỵ, quyển 2, 7, 114.
(67) Tục Tư trị thông giám trường biên.
(68) Lý Lạp, Phá trận tử.
(69) Tân Ngũ đại sứ, quyển 64, Hậu Thục thế gia.
(70) Ngũ quốc cố sự.
b) Quan kỹ thời Ngũ đại.
Chế độ quan kỹ thời Ngũ đại cũng theo lối thời Đường truyền lại. Thanh dị lục của Đào Cốc chép "Năm Quảng Thuận (niên hiệu của Chu Thái tổ) thứ 3 lấy con Sài Thủ Lễ là Vinh làm Hoàng Thái tử, phong Thủ Lễ làm Thái tử Thiếu bảo, cho về trí sĩ. Hoàng Thái tử lên ngôi, chính là Thế tông. Thủ Lễ ở đất Tây Lạc cùng các bạn bè là cha bọn Vương Phổ, Vương Ngạn Siêu, Hàn Lệnh Khôn đá cầu ruổi ngựa chơi bời, tiếm dùng nghi vệ nhà vua. Lúc bảy giờ mỗi người bày tiệc chơi bời một ngày, thay phiên nhau không dứt, gọi là Đỉnh xả. Đất Lạc có nhiều kỹ nữ xinh đẹp, Thủ Lễ chọn mười người, lấy vải viết chữ to bằng bàn tay, sai người đi gọi. Người được sai phái tới Phủ doãn trình lên, Phủ doãn ký tên bên cạnh. Kỹ nữ thấy giây gọi thì tranh nhau tới đó". Sài Thủ Lễ là bậc tôn quý cha của nhà vua mà gọi kỹ nữ tới hầu rượu lại phải có sự phê chuẩn của Phủ doãn đó chính là điều mà sách Bắc lý chí thời Đường chép về quy chế từ trước "Phàm quan lại trong triều yến tiệc, phải mượn tiếng các ty tào gọi kỹ nữ, sau đó mới có thể đưa qua chỗ khác", vẫn còn tồn tại đến thời Ngũ đại.
Từ các tư liệu sử sách mà nhìn, các nước thời Ngũ đại phần lớn đều thi hành chế độ quan kỹ. Như quan kỹ nhà Bắc Hán rất nhiều, "Năm Quảng Vận thứ 6, nhà Bắc Hán dâng biểu xin hàng, hiến hơn trăm quan kỹ để nhà Tống ban cho tướng sĩ" (71). Mà danh kỹ Chuyển Chuyển và Hầu Thiếu Sư đương thời thì chia làm quan kỹ của nhà Hậu Đường và Hậu Tấn (72).
________________________
(71), (72) Tân Ngũ đại sử, Nam Hán thế gia. Lại Thanh dị lục chép "Lưu Sưởng nhà Nam Hán chọn bọn ác thiếu sai giao hợp với cung nữ, bắt cởi hết quần áo, Sưởng cùng Mỵ Trư Diên tới xem, gọi là Thân đôi (Đại thể song)"
c) Doanh kỹ thời Ngũ đại.
Thời Ngũ đại vì chiến tranh liên miên nên chế độ doanh kỹ lại phát triển hơn so với thời Đường. Cựu Ngũ đại sử, Vương Tuấn truyện viết "Cha là Phong làm Nhạc doanh sứ bản quận. Tuấn lúc nhỏ thông tuệ tinh ranh, giỏi ca hát. Lúc Trương Duân nhà Lương trấn thủ Tương Châu... bèn nuôi Tuấn". Động vi chí nói "Trong niên hiệu Cảnh Đức nhà Tống, Phùng Cảm hát bài Hát đà tử. Dì Mười bốn nói khúc ấy do Cát đại di giáo đầu doanh kỹ ở Đơn Châu soạn ra. Lương Tổ thêm lời để hát, gọi là điệu Cát đại di, về sau nói sai thành Hát đà tử". Ngọc Đường nhàn thoại nói "Năm Ất mùi, dân ở Trịnh Châu và phụ nữ trong quân doanh kéo ra chật đường". Những ghi chép ấy cho thấy nhà Hậu Đường, Hậu Tấn đều có doanh kỹ.
d) Thị kỹ thời Ngũ đại
Thị kỹ thời Ngũ đại Thập quốc tuy không nhiều bằng thời Trung Đường Vãn Đường nhưng vẫn rất nhộn nhịp, ở các đô thị hơi phồn vinh như Thành Đô, Nam Kinh, Hàng Châu lại càng như thế. Thanh dị lục nói "Lúc Lý Lạp ở ngôi, vi hành tới nhà xướng kỹ. Gặp Tăng Trương Tịch, Lạp lại nhẫn nha không chịu về, lúc say viết chữ lớn trên vách, kỹ nữ họ Tăng không biết là ai". Thục Đào Ngột nói "Ngày rằm tháng giêng, Thục chủ Sưởng xem đài Đăng lộ, sai gọi vũ kỹ Lý Diễm Nương vào cung, ban cho mười vạn quan". Thập quốc Xuân thu, Kinh Nam Thị trung Bảo Huân thế gia viết "Triệu tập kỹ nữ trong phủ... chọn các binh sĩ khỏe mạnh sai giao hoan với họ, cùng các cơ thiếp hé rèm xem, lấy đó làm trò vui". Điều này nói rõ rằng thị kỹ thời Ngũ đại vẫn rất phồn vinh.
Thời Ngũ đại, phong khí văn thần võ tướng nuôi dưỡng gia kỹ vô cùng thịnh hành, như Đức Xương cung sứ Lưu Thừa Huân nhà Nam Đường cực kỳ dâm dật xa xỉ, "nuôi mấy trăm gia kỹ, mỗi người đều mua với giá vài mươi vạn, dạy cho đàn hát lại tốn vài mươi vạn, mà y phục trang sức vàng ngọc đều tương xứng, Lý Đức Thành, Hoàng Phủ Kế Huân ở Giang Nam nổi tiếng là xa xỉ hào hoa cũng không sánh được" (73). Tôn Thạnh được ca ngợi là kẻ sĩ trung trực tử tiết nhà Nam Đường cũng nổi tiếng xa hoa phóng túng. Ông ta "Cha con thờ Liệt tổ hơn hai mươi năm, nhà càng giàu có, không bày bàn ăn, sai các gia kỹ mỗi người bưng một món, đứng quanh hầu hạ, gọi là Mâm cơm thịt (Nhục đài bàn), các quý nhân ở Giang Nam nhiều người học theo" (74). Đại thần nhà Nam Đường là Hàn Hy Tải, "Phóng túng buông thả, không theo lễ pháp, phá tán tiền bạc, mua gom nữ nhạc tới vài trăm người, hàng ngày cùng nhau hoang dâm, coi thường lễ pháp trên dưới" (75). Trần Trí Nghiêu "Chơi thân với Hàn Hy Tái, nhà không có một thạch gạo thừa mà có mấy trăm gia kỹ, từng vì chuyện trong phòng mà bị người đời mỉa mai" (76). Đại tướng Quách Sùng Thao nhà Hậu Đường có "bảy mươi gia kỹ tài sắc tuyệt vời, bảy mươi nhạc công" (77). Thời Nhuệ có gia kỹ hơn mười người" (78). Tống Ngạn Duân có lần bắt được ở Thành Đô "mấy mươi kỹ nữ đều chiếm làm của mình" (79). Vương Tống Hàn nhà Tiền Thục, "Thích nuôi dưỡng kỹ thiếp, những người cài trâm giắt ngọc ở hậu đình có tới hàng trăm" (80). Lý Hạo nhà Hậu Thục "lại càng xa xỉ, kỹ nữ mặc gấm vóc lụa là ở hậu đường có tới vài trăm người" (81).
Gia kỹ thời Ngũ đại không những mua vui cho chủ nhân mà còn thường phải vâng lệnh chủ nhân hầu hạ chăn gối cho khách khứa, đến nỗi gây ra không ít chuyện cười. Nghiêu Sơn đường ngoại kỹ nói "Đào Cốc phụng mệnh đi sứ Giang Nam, Hàn Hy Tải sai gia kỹ ngủ hầu. Đến sáng, Cốc làm thơ cảm tạ rằng:
Vu Sơn chi lệ chất sơ lâm, hà xâm điểu đạo,
Lạc Phố chi yêu tư tự chí, nguyệt mãn hồng câu
(Vu Sơn xinh đẹp vừa lên, đường chim ráng chói,
Lạc Phố yêu ma tự tới, ngòi đỏ trăng tràn)
cả buổi sáng không ai hiểu được. Hy Tải gọi người gia kỹ vào hỏi, nàng nói là đêm ấy đột nhiên có kinh". Lại Vương Sĩ Trinh thời Thanh trong Ngũ đại thi thoại, quyển 3 dẫn lại sách Tương sách tạp ký nói "Hàn Hy Tải... phóng túng buông thả, không theo lễ pháp, phá tán tiền bạc, mua gom nữ nhạc, tới vài trăm người, hàng ngày cùng nhau hoang dâm, coi thường lễ pháp trên dưới. Bao nhiêu tiền lương đều chia hết cho kỹ nữ, mà Hy Tải lấy việc không chế ngự được họ làm vui. Mà ngày nào không có tiền lại mặc áo rách đóng vai người mù, cầm đàn độc huyền, sai đầy tớ là Thư Nhã cầm phách dắt đi, tới các phòng ca hát xin cho đủ tiền ăn, sáng tối cũng không cấm đoán việc ra vào. Có người lén thông gian bừa bãi với Chư sinh, Hy Tải bắt gặp, lúc đi ngang cười nói: Không dám làm mất hứng đó thôi. Đến đêm tới phòng ngủ của khách, người khách ấy còn làm thơ rằng
"Khổ thị ngũ canh lưu bất trú,
Hướng nhân đầu bạn trứ y thường
(Khổ nỗi năm canh lưu chẳng được,
Áo quần cứ mặc lại như thường).
Người đương thời cho rằng những kẻ khoát đạt tài năng thời Bắc Tề không ai bằng được" (82)
_______________________
(73) Thập quốc Xuân thu.
(74) Xem thêm Cựu Ngũ đại sử, Mã úc truyện và Tống sử, Vương Cảnh truyện.
(75) Thập quốc Xuân thu, quyển 30 , Nam Đường, Lý Thừa Huân truyện.
(76) Thập quốc Xuân thu, quyển 27, Nam Đường, Tôn Thạnh truyện.
(77) Vương Sĩ Trinh, Ngũ đại thi thoại, quyển 3 dẫn lại từ Đoan Khang tương sách tạp ký của Hoàng Triều Anh.
(78) Giang Nam dư tải.
(79) Cựu Ngũ đại sử, Quách Sùng Thao truyện.
(80) Cựu Ngũ đại sử, Phạm Đình Quang truyện.
(81) Cựu Ngũ đại sử, Tống Ngạn Duân truyện.
(82) Lộ Chấn, Cửu quốc chí, quyển 6.
4. Nghề kỹ nữ thời Tống
Thời Tống là thời kỳ nghề kỹ nữ phồn vinh. Trong thời kỳ này, nghề kỹ nữ có những đặc điểm sau: một là trong quan kỹ và doanh kỹ xuất hiện xu thế hàng hóa hóa, hai là gia kỹ thịnh hành thời Đường đến thời Tống càng trở nên phổ cập hóa, đại chúng hóa, ba là cung kỹ thịnh hành một thời trong quá khứ đến thời Tống dần dần suy giảm.
a) Xu thế hàng hóa hóa của nghề kỹ nữ thời Tống.
Thời Tống ngoài thị kỹ thuộc tư kỹ, trong quan kỹ và doanh kỹ cũng xuất hiện xu thế hàng hóa hóa. Sự xuất hiện của hiện tượng này có liên quan mật thiết với sự phồn vinh về kinh tế của các đô thị thời Tống. Việc bỏ chế độ giáo phường và sự nảy sinh chợ đêm là điều kiện thuận lợi cho sự phát triển điên cuồng của thị kỹ.
Đô thành Đông Kinh thời Bắc Tống (nay là Khai Phong Hà Nam) và Đô thành Lâm An thời Nam Tống (nay là Hàng Châu Chiết Giang) là khu vực phát triển nhất của nghề kỹ nữ thời Tống.
Đông Kinh "là nơi bốn phương thông tới, nên xây dựng làm kinh đô, vốn có chính giáo, người năm phương cư trú xen lẫn" (83). Biện Hà, Thái Hà, Ngũ Trượng Hà, Kim Thủy Hà "bốn sông thông tới kinh đô", nhất là Biện Hà "vắt ngang Trung Quốc, bắt nguồn từ Đại Hà, thông với sông hồ ra tận Nam Hải, tài nguyên khắp nửa thiên hạ, hàng hóa ở núi ở chằm đều do đường ấy mà chở về" (84), "Vét của quý ngũ đô, Đủ hàng hóa chín châu" (85), là một đô thị lớn có một không hai trên toàn thế giới lúc bấy giờ, kinh tế phồn vinh dân số lúc đông nhất có từ 1,4 tới 1,7 triệu (86), từ đó thúc đẩy nghề kỹ nữ ở Đông Kinh lên tới đỉnh cao.
Đào Cốc thời Tống trong Thanh dị lục, quyển thượng Phong hoa thương mạch nói “Bốn phương nói Nam Hải là nơi trăng gió thành phường, nói là phong tục dâm đãng. Nay ở kinh sư những nhà kỹ viện có tới hàng vạn, tới như đàn ông thì toàn thân là hàng hóa, tiến thoái thản nhiên, trở thành tổ ong lối tắt, lại không chỉ là trăng gió thành phường nữa". Con số hàng vạn kỹ nữ ấy phân bố khắp trong thành. Theo Mạnh Nguyên Lão trong Đông Kinh mộng hoa lục thì thành Đông Kinh có mấy mươi chỗ thanh lâu kỹ viện, như đường Khúc Viện "trở về phía tây đều là kỹ viện, người trong thành gọi là Viện nhai". Ngoài cửa Chu Tước, đi về phía đông có ngõ Mạch Cật, lầu Trạng Nguyên, "đều là kỹ viện, kéo dài tới đường cửa Bảo Khang". Ngoài cửa Chu Tước về phía tây thông với Ngõa tử Tân Môn tới ngõ Giết Heo phía nam, "cũng là kỹ quán". Ngoài cửa Tào Môn cũ đi về phía nam là đường Bắc Tà, "hai bên đường đều là kỹ quán". Đường Ngưu Hành, "cũng có kỹ quán, kéo suốt tới Tân Thành". Phía đông chợ Liêu Nhi đường Mã Hành, ngõ Tây Kê Nhi, "đều là nơi kỹ viện đóng". Động Đào Nguyên trước chùa Cảnh Đức, "đều là kỹ quán". Ngõ Lục Sự phía đông, ngõ Tiểu Cam Thủy phía tây chùa Tướng Quốc, "cũng rất nhiều kỹ quán". Lại như ở ngõ Thê Hàng phía bắc, "đều là nơi kỹ quán ca hát nhộn nhịp". Ngoài ra, "còn có những phường vắng hẻm nhỏ, yên quán ca lâu, có tới hàng vạn".
Tới như tình hình hoạt động và sinh hoạt của kỹ nữ thì Đông Kinh mộng hoa lục ghi chép càng tường tận:
"Phàm ngoài cổng các quán rượu ở Đông Kinh đều kết cổng chào sặc sỡ, để mặc cho vào cổng, đi một mạch qua hành lang khoảng trăm bước, hai bên nam bắc thiên tỉnh đều có lầu nhỏ, tối đến đèn lửa huy hoàng, trên dưới soi chiếu lẫn nhau, kỹ nữ trang điểm đẹp đẽ có vài trăm người, tụ họp chỗ hành lang đợi khách gọi, xa trông như thần tiên" (87).
"Phàm đầu bếp trong quán gọi là Trà phạn lượng tửu Bác sĩ. Đám trẻ trong quán đều gọi là Bác cả (Đại bá). Lại có phụ nữ ở phố phường lưng buộc khăn tay xanh, búi tóc cao, rót rượu bưng canh cho khách, tục gọi là Nấu hèm (Thuân tao). Lại có bách tính vào quán rượu, thấy đám thiếu niên con em uống rượu thì bước tới gần kính cẩn chờ sai các việc như mua hàng, gọi kỹ nữ, trả tiền, gọi là Bọn lêu lổng (Nhàn hán). Lại có những kẻ ca hát bưng canh rót rượu, hoặc bưng trái cây, lúc khách tan thì được tiền thưởng, gọi là Sóng * (Tư ba). Lại có kỹ nữ hạng cuối không gọi mà tới, ca hát trước tiệc, nhất thời tặng một ít tiền thì đi, gọi là Khách lủi (Tháp khách) cũng gọi là Đánh mâm rượu (Đả tửu tọa). Lại có loại bán thuốc và củ cải, không hỏi khách có mua hay không cứ bỏ ra trên bàn, sau đó được tiền, gọi là * * (Táp tạm). Những loại ấy đâu đâu cùng có" (88).
Nhà Nam Tống định đô ở Lâm An, "dân bốn phương tụ tập như mây ở Lưỡng Chiết, đông gấp trăm lần trước đó" (89). Mà Hàng Châu lại là nơi sĩ dân từ phương bắc thiên cư xuống cho là thiên đường đệ nhất (90) nên có nhiều lưu dân ngụ cư nhất. Lục Du nói "Xa giá vừa tới Lâm An, sĩ dân và thương khách ở kinh đô cũ và bốn phương theo đó tụ tập" (91). Tình hình ấy khiến Hàng Châu mau lẹ trở thành đô thị lớn mang tính quốc tế có hàng triệu người, lại kích thích nghề kỹ nữ ở địa phương phát triển mau lẹ.
Hàng Châu vốn có tiếng là "Tây Hồ thủy hoạt đa kiều nương" (Tây Hồ nước biếc nhiều nàng đẹp), và "Tửu thực địa ngục" (Địa ngục cơm rượu) (92), đến thời Nam Tống, nghề kỹ nữ càng đạt tới mức đăng phong tháo cực, về tình trạng phồn vinh thì đô thành Đông Kinh thời Bắc Tống không sao sánh được, đương thời có lời khen là "Sắc hải" (Biển sắc dục) (93). Hoàng Đình Kiên trong bài tựa Tái họa Nguyên Lễ xuân hoài thập thủ nói "Tiền Đường là một đô hội ở Giang Đông, gió mây trăng hoa, không biết có bao nhiêu phường viện, dáng vẻ mờ ảo, khiến kẻ thiếu niên say mê quên về". Nhà du hành người Ý Marco Polo rất ngac nhiên về điều đó, ông nói trong sách Du ký rằng:
"Kinh sư (tức Lâm An) chu vi một trăm dặm, có một vạn hai ngàn chiếc cầu đá, có ba ngàn nhà tắm, đều dùng nước ấm. Phụ nữ phần nhiều xinh đẹp, trông như thần tiên. Những người theo hầu nhà vua có hàng ngàn nam nữ, đều ăn mặc đẹp đẽ, vô cùng xa hoa. Trong thành có hồ (tức Tây Hồ), chung quanh đều là đài cao quán các, là nơi ở của các nhà quý tộc. Gần bờ hồ có nhiều chùa Phật, giữa hồ có hai bãi đất nhỏ, điện các cao vót, nhìn ra mặt nước trông như nơi vua ở, là nơi sĩ đại phu ăn yến, có vài bàn tiệc, cực kỳ hoa lệ. Có lúc có hàng trăm khách tụ tập. Thanh lâu rất nhiều, đều ăn mặc trang sức xinh đẹp, hương xạ thơm nức, ở trong hoa ốc, gái hầu như mây, rất giỏi đàn hát, khéo ứng đối, ai gặp cũng say mê, thậm chí túy sinh mộng tử, chìm đắm vào đó. Cho nên phàm kẻ tới kinh sư, gọi là lên thiên đường, trở về còn mộng thấy kinh sư. Trong thành thì kỹ nữ không dám hoạt động, phần lớn họ đều ở một dải phía chợ. Số lượng rất nhiều, quả khiến người ta phải tắc lưỡi, cũng phải tới hai vạn người, đều nhờ vào đó mà sống" (94).
Các kỹ nữ vô cùng thông thạo việc ôn nhu thể thiếp, thủ đoạn kéo khách phi thường cao minh, kiều mỵ đưa tình, chiều chuộng tâm lý của đủ loại khách. Nói chuyện với mọi loại người đều có thể thông cảm chan hòa, ánh mắt mơ màng, dáng đi uyển chuyển, giọng nói trong trẻo, đủ khiến người ta một sớm rơi vào mê hồn trận của họ sẽ lập tức như say như ngây, xiêu hồn lạc phách, để họ bày bố, nấn ná quên về, chìm đắm trong làng Ôn nhu giấc hoa mộng liễu, đúng là có điều Vui không nhớ nước Thục đáng than thở" (95).
Số kỹ nữ này phân bố khắp trong thành ngoài thành hình thành môn loại chỉnh tề, tổ chức linh hoạt, phong cách đa dạng. Chu Mật trong Vũ lâm cựu sự, quyển 6, Tửu lâu viết:
"Hòa Lạc lâu, Hòa Phong lâu, Trung Hòa lâu, Xuân Phong lâu, Thái Hòa lâu, Tây lâu, Thái Bình lâu, Phong Lạc lâu, Nam Ngoại khố, Bắc Ngoại khố, Tây Khê khố, trở lên đều là quan kỹ, thuộc Hộ bộ Điểm kiểm sở, mỗi nơi đặt quan kỹ vài mươi người đều có bình chén uống rượu bằng vàng bạc cả ngàn lượng, để cung đốn cho thực khách. Mỗi nơi có vài người trực ban, gọi là Xuống phiên (Hạ phiên). Khách uống rượu lên lầu, thì lấy bài ghi tên ra chấm để gọi người ngồi cùng, gọi là Chấm hoa bài (Điểm hoa bài). Đêm rằm tháng giêng các kỹ nữ đều đổi chuyển qua nơi mới. Ban đêm người nào cũng đội mũ Hạnh hoa quan, ngồi trên ghế hoa cao. Nhưng những danh kỹ đều giấu kín bên trong không dễ mà gọi được. Phàm những thức ăn uống cũng đều cho tùy ý mang tới, lúc đầu không có đầu bếp. Giờ giấc trong quán, lúc đầu không cho ở lại đó, vốn là để trang sức cho đời thái bình mà thôi. Dần dần đều là trường học và nhà ở của sĩ phu, người ngoài không dễ bước lên.
Hy Xuân lâu, Tam Nguyên lâu, Ngũ Gian lâu, Thưởng Tâm lâu, Nghiêm trù, Hoa Nguyệt lâu, Ngân Mã lâu, Khang Đam lâu, Ông trù, Nhiệm trù, Trần trù, Chu trù, Xảo trương, Nhật Tân lâu, Đam trù, Trịnh trù, Ngật Ma nhãn, Trương hoa, trở lên đều là tên gọi của các kỹ viện thị kỹ. Mỗi lầu chia ra hơn mười tòa tiểu các, tất cả đồ dùng uống rượu đều bằng bạc, để phô trương hào hoa. Mỗi nơi đều có vài mươi danh kỹ, đều khéo trang điểm, giỏi đưa tình. Mùa hè cài hoa mạt lỵ trên dầu, mùa xuân đi chơi khắp nơi. Dựa vào lan can vẫy gọi, gọi là Mại khách. Lại có a hoàn nhỏ, không gọi mà tự tới, ca ngâm trước tiệc để xin tiền lẻ, gọi là Liêu tọa. Lại có những người thổi tiêu, gảy đàn, vận khí, gõ phách, ca hát, diễn tạp kỹ gọi là Hãn sấn".
Lại như điều Ca quán trong quyển 6 sách ấy nói:
"Các phường bình khang như Thượng Hạ Bảo kiếm doanh, Tất Khí đàn, Sa Bì hạng, Thanh Hà phường, Dung Hòa phường, Tân nhai, Thái Bình phường, Cân Tử hạng, Sư Tử hạng, Hậu Thị nhai, Tiến kiều, đều là nơi danh hoa tụ tập. Ngoài ra các loại quán trà, Thanh Nhạc trà phường, Bát Tiên trà phường, Châu Tử trà phường, Phan Gia trà phường, Liên Tam trà phường, Liên Nhị trà phường và Kim Ba kiều dọc theo hai bờ sông tới Ngõa thị, đều có đẳng cấp khác nhau, không đâu không trang điểm ra cửa, đua nhau làm duyên làm dáng, sáng hát tối đàn, làm người ta ngây ngất. Phàm vừa vào cửa, ắt có người dâng trà, tuy một chén trà cũng phải mấy ngàn đồng, gọi là Trà chấm hoa (Điểm hoa trà), lên lầu thì mời một chén rượu nhưng trước đó phải đưa ra vài quan, gọi là Rượu lẻ (Chi tửu). Sau đó gọi thực đơn, tùy ý bày tiệc. Đám Hãn sấn bán hàng lặt vặt cũng nhao nhao kéo tới, những khoảng chi lẻ tẻ rất nhiều. Hoặc muốn gọi thêm kỹ nữ khác, thì tuy có bên kia đường cũng gọi kiệu khiêng qua, gọi là Kiệu qua đường (Quá nhai kiệu). Những người lớp trước như Trại Quan Âm, Mạnh Gia Thuyền, Ngô Linh Nhi rất đông, đều lấy tài sắc đứng đầu một thời, trong nhà rất hào hoa. Những nhà được chính mắt nhìn thấy gần đây, chỉ có nhà Đường An An nổi tiếng thịnh vượng nhất, phàm đồ dùng uống rượu, sa la, thùng nước đá, bếp lò, hộp nữ trang đều làm bằng vàng bạc. Màn trướng chăn nệm phần lớn dùng gấm. Những đồ cổ ngoạn đều phù hợp với khung cảnh trong nhà. Những kẻ dưới mức đó tuy không bằng được, nhưng cũng tranh nhau phô trương sự hào hoa, những vật dùng như đồ uống rượu trang sức, chăn nệm, quần áo đều có người chuyên cho thuê. Cho nên phàm khách tới thì đồ dùng để cung đốn đều thay đổi, kẻ không quen chơi bời không sao hiểu được".
Đó là nghề kỹ nữ ở các tửu lâu, ca quán, trà tứ và kỹ viện nổi tiếng, làm ăn rất khá, "Tiếng ca hát cười nói từ tối đến sáng sớm, thường hòa vào tiếng xe ngựa rầm rập. Tuy mưa gió nóng rét, vẫn không hề giảm" (96).
Không chỉ các tửu lâu, ca quán, trà quán lớn có kỹ nữ mà một số quán rượu, Trà phường, Ngõa xá và nhà tắm nhỏ hơn cùng có kỹ nữ, như Quán viên Nại Đắc Ông thời Nam Tống chép trong Đô thành kỹ thắng:
"Quán rượu. Trừ Quan khố Tử khố cước điếm, còn lại đều gọi là Phách hộ... "Ăn mày tửu điếm" nói trong có kỹ nữ, có thể gọi tới vui chơi mà trong gác uống rượu có ngầm đặt giường ngủ. Ngoài cửa treo đèn lồng đỏ, nếu bất ngờ có mưa thì dùng lồng tre úp lên làm dấu hiệu, ớ các quán rượu lớn khác, kỹ nữ chỉ ngồi hầu rượu mà thôi, muốn vui thú thì phần lớn về nhà họ. Đại khái uống rượu ở quán, muốn gì là tùy ý mình. Còn như ăn cơm gọi là Hạ thang thủy, ít tốn tiền, chỉ một ngàn năm trăm, gọi là Tiểu phân hạ tửu. Nếu gọi kỹ nữ ắt phần đông đều đi kiệu rất đắt, để ra giá cao. Tất cả đều phải có kinh nghiệm, mới không bị lừa".
"Trà phường. Đại trà phường... Người tới trà phường, vốn không phải chủ yếu vì trà mà là lấy đó làm cớ, phần lớn chỉ là bỏ tiền trà ra. Lại có một hạng chuyên là nơi anh em trai của kỹ nữ tụ họp... Thủy trà phường là các kỹ viện bày ra bàn ghế, lấy trà làm cớ, bọn hậu sinh cam chịu tốn tiền, gọi là Can trà tiền".
Ngõa xá, còn gọi là Ngõa tử, Ngõa thị, là một loại kỹ viện hạng thấp, phần lớn do quân đội hoặc quan lại địa phương kinh doanh. Ngô Tự Mục trong Mộng lương lục quyển 19 nói "Ngõa xá là ý nói tới như ngói hợp, đi như ngói tan, dễ tụ dễ tán. Không biết từ ấy bắt đầu từ lúc nào. Trong khoảnh khắc trở thành nơi sĩ thứ phóng đãng không chịu ràng buộc, cũng là nơi con em la cà làm bậy ở kinh sư. Hàng Thành là nơi trong niên hiệu Thiệu Hưng nhà vua trú tất ở đó, Dương Hòa vương vì quân sĩ phần nhiều là người vùng Tây bắc, nên lập ra Ngõa xá ở trong ngoài thành, chiêu mộ kỹ nhạc làm chỗ giải trí cho tướng sĩ khi nhàn rỗi. Nay lang quân con em các nhà giàu có vì thế du đãng, làm bậy còn quá hơn cả Biện Kinh". Theo thống kê ở Lâm An có hơn hai mươi Ngõa xá (97). Tính chất của số kỹ nữ này, từ phương thức kinh doanh mà nói thì thuộc loại doanh kỹ.
_______________________
(83) Thập quốc Xuân thu, quyển 52, Hậu Thục, Lý Hạo truyện.
(84) Tân Ngũ đại sử, Nam Đường thế gia chép Hậu chủ nhà Nam Đường tới nhà Hàn Hy Tải, vừa khéo "Mấy mươi kỹ thiếp trong hậu phòng của Hy Tải ra nhà ngoài tiếp đãi tân khách ăn tiệc". Ngoài ra, Nam Đường cận sự cũng chép chuyện này.
(85) Tống sử, Địa lý chí.
(86) Tống sử, Hà cừ chí.
(87) Chu Bang Ngạn, Biện Kinh phú.
(88) Trung Quốc lão đại cổ đô (Đô thành lâu đời ở Trung Quốc), Trung Hoa thanh niên xuất bản xã, 1991, tr. 225.
(89) Mạnh Nguyên Lão, Đông kinh mộng hoa lục, quyển 2, Tửu lâu.
(90) Đông kinh mộng hoa lục, quyển 2, Ẩm thực quả tử.
(91) Lý Tâm Truyền, Kiến Viêm dĩ lai hệ niên yếu lục, quyển 158.
(92) Tống Sử, quyển 178, Thực hóa chí.
(93) Lục Du, Lão Học Am bút ký, quyển 8.
(94) Câu trên là thơ của Tần Quan, câu sau xem Chu Hàm, Bình Châu khả đàm, quyển 3.
(95) Hồ Tồn, Thiều Khê ngư ẩn tùng thoại.
(96) Xem thêm bản dịch Mã khả Ba la bút ký đích Hàng Châu (Hàng Châu theo Bút ký của Marco Polo) của Hướng Đạt.
b) Sự phổ cập của gia kỹ thời Tống.
Thời Tống là thời đại dâm dật phóng túng. Trong thời kỳ này kẻ thống trị ra sức cổ xúy chủ nghĩa hưởng lạc. Hoàng đế khai quốc nhà Tống là Triệu Khuông Dẫn học theo mối tệ thời Ngũ đại, công nhiên nói với các văn thần võ tướng "Hãy tích góp vàng bạc, để tự hưởng thụ... Đặt nhiều ca nhi vũ nữ, hàng ngày uống rượu cùng vui để trọn tuổi trời" (98). Các vua Nhân tông, Chân tông cũng khuyên trăm quan lấy thanh sắc để giải trí. Dưới sự lãnh đạo đề xướng của họ, phong khí nuôi dưỡng gia kỹ của quan liêu sĩ đại phu thời Tống càng ngày càng lan tràn, có xu thế phổ cập hóa, đại chúng hóa. Người đương thời nói "Lưỡng phủ lưỡng chế trong nhà đều có ca kỹ, chức quan hơi cao thì đều mua thêm gia kỹ không thôi" (99). Dã khách tùng thư của Vương Mậu thời Nam Tống nói "Các quý công tử ngày nay phần nhiều đều nuôi dưỡng cơ thiếp". Mục đích nuôi dưỡng gia kỹ của họ phần lớn là để hưởng lạc, hoặc dạy ca múa, hoặc dạy hầu rượu, để làm vui cho tân khách.
Quan liêu sĩ đại phu nuôi dưỡng gia kỹ nhiều ít khác nhau, tất cả đều theo tài lực trong nhà, ít thì vài người, nhiều thì vài mươi người. Như Dương Bao có "gia kỹ vài người" (103). Tô Thức "có kỹ nữ ca múa vài người" (104), Âu Dương Tu có ca kỹ "tám chín nàng" (105), Dương Chấn "có mười gia kỹ" (106), Hàn Giáng có "gia kỹ mười mấy người" (107), Vương Phủ có "gia kỹ mười mấy người" (108), Trương Uyên "mua tỳ thiếp trẻ đẹp hai mươi người" (109), Hàn Sá Trụ có "ái thiếp mười bốn người" (110), Hàn Kỳ "trong nhà có nữ nhạc hai mươi người" (111). Lý Sung có gia kỹ một trăm mấy mươi người" (112). Nhà thân hào họ Lý "gia thiếp mặc lụa là có mấy mươi người" (113)... Đúng là không sao kể xiết. Họ rèn luyện cơ thiếp để thỏa mãn thú vui thanh sắc, hàng ngày bày rượu vui chơi. Thanh ba tạp chí chép "Sĩ đại phu muốn giữ phú quý, động một tý là kiêng kỵ, càng sợ nói tới chuyện chết. Chỉ chìm đắm vào thanh sắc, không ngó ngàng gì đến chuyện khác. Nghe nhà người khác có cơ thiếp xinh đẹp thì chờ lúc chủ nhân chết, tìm cách hốì lộ cho Nha hội, chờ khi bán ra thì mua, tuy đang có tang cũng bất kể". Trương Tư người Lâm An là dòng dõi của Trung liệt vương Trương Tuấn nhà Tống, giỏi thơ, danh sĩ đương thời ai cũng giao du. Vườn ao, thanh kỹ, trang phục đồ chơi của ông ta đứng đầu thiên hạ. Chu
Mật trong Tề Đông dã ngữ, quyển 12, điều Trương Công Phủ hào xỉ nói "Vương Giản Khanh Thị lang từng tới hội Mẫu đơn nói: Khách khứa đã tề tựu, ngồi trong một phòng trống, yên ắng không có gì. Chợt hỏi tả hữu: Đã thắp hương chưa? Đáp: Đã thắp. Bèn sai cuốn rèm, mùi hương ìạ từ trong bay ra, phút chốc tràn ngập cả tiệc. Quần kỹ mang rượu thịt đàn sáo theo thứ tự bước ra. Lại có mười danh kỹ dều mặc áo trắng, phàm trang sức trên đầu, cài ở áo đều là hoa mẫu đơn, trên đầu gắn một cành Chiếu điện hồng, cầm phách ca hát mời rượu, ca xong thì lui vào. Lại buông rèm trò chuyện như thường, hồi lâu mùi hương lại bốc lên, lại cuốn, rèm như lúc nãy lại có mười ca cơ khác, quần áo trang sức đều khác trước bước ra, đại để cài hoa trắng thì áo màu tía, cài hoa tía thì áo màu vàng, cài hoa vàng thì áo màu hồng, như thế mười vòng, áo và hoa thay đổi mười lần. Những lời hát đều dùng những từ gọi hoa mẫu đơn của các bậc tiền bối. Tan cuộc rượu, người ca hát, người đánh đàn không dưới trăm người xếp hàng tiễn khách. Đèn sáng hương nồng, tiếng ca rộn rã, khách bàng hoàng như lên chơi cõi tiên". Vương Kế Tiên, Thừa Tuyên sứ quân Chiêu Khánh về trí sĩ cũng thế, nhà ông ta "nhà cửa đài tạ đều cao rộng đẹp đẽ, người ở kinh đô gọi là Khoái lạc tiên cung, sinh hoạt cực kỳ xa xỉ. Ông ta cùng con trai là Duyệt Đạo chia nuôi hai danh kỹ nổi tiếng ở Lâm An là Lưu Thái Nô và Kim Miến Miến, ngày đêm hành lạc. "Lại ra lệnh cho các kỹ nữ thỉnh thoảng ca múa. Đến khi nghe tin Uyên Thánh hoàng đế thăng hà, cả nhà vẫn yến ấm, lại sai kỹ nữ múa mà không hát, giơ tay nhấc chân làm vui gọi là Nhạc câm (Á nhạc)", ông ta còn ra lệnh cho quan viên thuộc hạ "chuyên dò xét những nhà dân, thấy ai có sắc đẹp là tìm mọi cách cưỡng ép cưới về, để làm thiếp hầu. Tuy có cưới hỏi nhưng nhất thiết không đếm xỉa gì tới". Có sĩ đại phu thậm chí đã gần đất xa trời vẫn còn ham mê thanh sắc rươu chè chơi bời quá độ, mỗi khi ngủ đều phải có ca kỹ múa hát một lúc mới có thể yên giấc.
Đương nhiên sĩ đại phu nuôi dưỡng gia kỹ ngoài mục đích hành lạc cũng có người nuôi dưỡng gia kỹ để mong có con nối dõi, có người, tuổi già vợ chết mua tỳ thiếp hầu hạ thuốc thang, nguyên nhân thì nhiều loại nhiều vẻ.
Dưới phong khí ấy, ngay cả Lý học gia Chu Hy nổi tiếng "Át nhân dục di tồn thiên lý" (Đè nén dục vọng của người để giữ đạo lý của trời) cũng khó tránh khỏi tục lụy, "Dụ dẫn hai ni cô làm sủng thiếp, mỗi khi làm quan đều đưa họ cùng đi" (114). Đường Tuân cũng thế, sử chép ông ta lúc trẻ còn có thể "khắc khổ tự tu dưỡng, sau đó không giữ được, khi làm chức Tri Hồ Châu, thích quan kỹ, cưới về làm thiếp" (115). Đó là hình ảnh thu nhỏ về lễ giáo của nho gia thời Tống, phản ảnh tính chất hư ngụy giả trá của luân lý cương thường phong kiến.
Điều đáng chú ý nhất là thời Tống còn xuất hiện hiện tượng tăng nhân đạo sĩ nuôi dưỡng gia kỹ. Theo Đào Cốc trong Thanh dị lục, tăng nhân trong chùa Đại Tướng Quốc ở Biện Kinh nuôi dưỡng gia kỹ, gọi là Phạn tẩu. Đời Huy Tống, đạo sĩ ở trong các đạo quán ở Biện Kinh cũng "đều nuôi vợ con bên ngoài, cưới vợ lẽ, đánh phấn tô son, ăn ngon mặc đẹp, có tới hai vạn người" (116)
_______________________
(98) Chu Mật, Vũ lâm cựu sự, quyển 6, Tửu lâu.
(99) Xem thêm Từ Cát quân, Luận Nam Tống Lâm An sắc kỹ chi thịnh cập kỳ xã hội căn do (Bàn về sự phồn thịnh của kỹ nữ ở Lâm An thời Nam Tống và nguyên do xã hội của nó), in trong Trung Quốc cổ đô nghiên cứu, tập 7, Sơn Tây nhân dân xuất bản xã, 1991.
(103) Hiên cừ lục.
(104) Vận ngữ dương thu.
(105) Bản sự từ, quyển hạ.
(106) Hầu tinh lục.
(107) Ngọc Chiêu tân chí.
(108) Di kiên tam chí, Tân, quyển 1.
(109) Từ Sĩ Loan biên tập, Tống diễm.
(110) Tống triều sự thực loại uyển, quyển 8.
(111) Long Châu biệt chí, quyển Hạ.
(112) Mặc khách huy trì, quyển 8.
(113) Xem thêm Chu Hy, Lạc Bí các Tu soạn y tiền quan tạ biểu.
(114) Tống sử, Đường Tuân truyện.
(115) Tuyên Hòa di sự, quyển 1.
c) Sự suy giảm của cung kỹ thời Tống.
Chế độ cung kỹ thời Tống phần nhiều noi theo chế độ thời Đường, tuy quy mô đã không thể sánh với thời Tùy Đường, nhưng vẫn có một số lượng nhất định. Như đời Nhân tông trước sau thả năm trăm cung nữ. Đời Huy tông cung kỹ càng thịnh, đến nỗi ông ta bị quần thần tấu nghị can gián, không thể không thả ra hai ngàn bốn trăm bảy mươi sáu cung nữ. Từ những sự kiện lịch sử ấy, chúng ta hoàn toàn có thể suy đoán dân số cung kỹ thời Tống cũng phải trên ngàn người.
Quy mô kỹ nữ trong giáo phường thời Tống khá lớn. Đầu thời Bắc Tống ngoài một số lượng nhạc công nhỏ do triều Hậu Chu lưu lại, trong chiến tranh thống nhất còn bắt được 32 nhạc công ở Kinh Nam, 139 người ở Tây Xuyên, 16 người ở Giang Nam (của nhà Nam Đường), 19 người của nhà Bắc Hán, ngoài ra còn thêm 83 nhạc công do các phiên trấn tiến công và 71 nhạc công vốn có của Tống Thái tổ. 360 nhạc công nay cấu thành đội ngũ cốt cán của giáo phường nhà Bắc Tống. "Từ đó, những người có tài nghệ giỏi giang bốn phương đều bị ghi tên vào nhạc tịch" (117) . Các chi nhánh của giáo phường vốn chia ra làm Yến nhạc, Thanh nhạc, Tán nhạc tất cả bốn bộ, về sau vì tài năng sở trường và tính chất nghề nghiệp cùa nhạc công không giống nhau, lại chia làm Tất Túc bộ, Đại cổ bộ, Trượng cổ bộ, Phách bản sắc, Địch sắc, Tỳ bà sắc, Tranh sắc, Phương hưởng sắc, Sinh sắc, Vũ toàn sắc, Ca bản sắc, Tạp kịch sắc, Tham quân sắc mười ba bộ. Số lượng cũng từ 360 mở rộng thành hơn 400 người. Cung kỹ chủ yếu biểu diễn "trân vũ", lại chia làm mười đội nữ đệ tử là Bồ Tát man đội, Cảm hóa nhạc đội, Phao cầu nhạc đội, Giai nhân tiễn mẫu đơn đội, Phất nghê thường đội, Thái liên đội, Phượng nghênh lạc đội, Bồ Tát hiến hương hoa đội, Thái vân tiên đội, Đả cầu nhạc đội, trong mỗi tiết mục số cung kỹ tham gia biểu diễn có tới 153 người. "Phàm Đại yến, Khúc yến, hoặc xa giá ra ngoài ắt đều dẫn theo, hoặc khi ban thưởng yến tiệc cho đại thần, Tống thất đều dùng tới" (118).
Sau khi nhà Nam Tống định đô ở Lâm An, từ năm Thiệu Hưng thứ 14 (1144) đã đặt Giáo phường, lúc bấy giờ có 460 nhạc công, vượt quá quy mô của nhà Bắc Tống lúc hưng thịnh nhất, vẫn lấy hoạn quan thống lĩnh. Mộng lương lục nói "Triều đình có yến tiệc thì do Ca bản sắc của giáo phường hầu hạ". Thái Bình thanh thoại cũng nói "Tiền Đường là hành đô, trai gái đều dua mỵ, gọi là kiêu dân. Lúc Tư Lăng lên ngôi Thái thượng hoàng, Hiếu tông chúc thọ Thái thượng hoàng, nhất thời những người ứng chế trước mặt đều là phụ nữ, biên chép có Thẩm cô cô, Diễn sử có Tống thị và Trương thị, Thuyết kinh có Lục Diệu Tĩnh và Lục Diệu Tuệ, Tiểu thuyết có Sử A Mỹ, Đội trận có Lý Đoan Nương, Anh hý do Vương Nhuận Khanh, đều chọn ra từ những người khôn ngoan lanh lợi trong cung". Các kỹ nữ giáo phường này tuy về nguyên tắc là hiến nghệ không hiến thân, nhung rốt lại là đồ chơi của hoàng gia, không ít kẻ cũng phải thỏa mãn lạc thú cho hoàng đế. Theo Du ký của Marco Polo thì cuối thời Nam Tống, hoàng đế thường dắt một đám cung kỹ ra Tây Hồ tầm hoan tác lạc, lúc đã rong chơi mệt mỏi rồi, hoàng đế lại ra lệnh cho họ lui vào khu rừng ven hồ, cởi hết quần áo, khỏa thân nhảy xuống nước bơi lội, mà ông vua hiếu sắc thì đứng ở một bên ngắm nhìn, một phen sướng mắt (119)
________________________
(117) Tống hội yếu, Chức quan, quyển 22, 28.
(118) Mã khả Ba la du ký, bản dịch của nhóm Trần Khai Tuấn, quyển 2 chương 77 Tái đàm đại thành thị Hàng Châu đích kỳ tha tường tế tình huống (Lại bàn về đô thị lớn Hàng Châu và những tình hình chi tiết khác).
(119) Hạ Đình Chi, Thanh lâu tập chí.
5. Nghề kỹ nữ thời Nguyên
Nghề kỹ nữ thời Nguyên trên cơ sở thời Tống lại phát triển thêm một bước, điều này biểu hiện ở mấy phương diện: một là màu sắc thương nghiệp hóa đậm hơn, hai là bắt đầu xuất hiện xu thế dung hợp giữa quan kỹ và thị kỹ ở địa phương, ba là cung kỹ và gia kỹ suy giảm mau lẹ.
a) Thị kỹ thời Nguyên.
Theo phương thức phục vụ đại khái có thể chia Thị kỹ thời Nguyên làm bai loại: một là kỹ nữ Câu lan chủ yếu bán nghề, hai là kỹ nữ Bình khang chủ
yếu bán thân.
Kỹ nữ Câu lan chủ yếu phát triển trong các Ngõa xá ở thành thị, là lực lượng chủ yếu trong thị kỹ, họ chủ yếu làm việc ca múa, biểu diễn tạp kịch, đồng thời cũng lấy sắc đẹp hầu hạ người. Hạ Đình Chi thời Nguyên trong Thanh lâu tập nói "Triều ta thống nhất thiên hạ đã được trăm năm, kỹ nữ ca múa trong thiên hạ đâu chỉ ức vạn". Đủ thấy tình hình phát triển của kỹ nữ Câu lan đương thời. Kỹ nữ Câu lan tập trung nhiều nhất ngoài khu vực Bắc Kinh, ở các thành trấn phồn hoa trên toàn quốc cũng đều có kỹ nữ Câu lan phân bố. "Trong thì kinh sư, ngoài thì quận ấp, đều có cái gọi là Câu lan, đều là kẻ giỏi ca múa, người xem vung tiền thưởng cho" (120). Tình hình ấy thì thời Tống không sao bằng được.
Kỹ nữ Bình khang chủ yếu phát triển trong các kỹ viện, trà phường tửu lâu và quán trọ ngoài thành trấn, họ chủ yếu làm việc bán dâm, dùng thân xác hấp dẫn khách chơi. Đương nhiên trong bọn họ cũng không thiếu những kẻ tài sắc kiêm toàn, nhưng bán nghề không phải là nghề nghiệp chủ yếu, chỉ là một cách khêu gợi tình thú mà thôi. Về tình hình hoạt động của họ, Du ký của Marco Polo chép:
"Số kỹ nữ công khai bán dâm để sinh sống ở đô thành mới và khu vực gần đô thành cũ đạt tới 25.000 người. Mỗi một trăm người và mỗi một ngàn
người đều có một hoạn quan do triều đình đặc phái làm giám đốc, mà số quan viên này đều chịu sự quản hạt của Tổng quản" (121).
"Số phụ nữ làm nghề bán dâm để sống này ngoài loại ám xướng không ai biết được thì không cho kinh doanh trong thành trấn, toàn bộ đều bị hạn chế ở ngoại ô... ở đó có 25,000 kỹ nữ. Vô số thương nhân và lữ khách khác bị kinh đô thu hút, không ngừng lui lui tới tới, nườm nượp không dứt. Số lượng kỹ nữ đông đúc như vậy vẫn không đủ để thỏa mãn yêu cầu của thương nhân và lữ khách" (122).
________________________
(120) Mã khả Ba la du ký, tập 2, chương 11.
(121) Mã khả Ba la du ký, tập 2, chương 22.
(122) Nguyên sử, Hình pháp chí nói "Các nhà xướng kỹ mua con gái nhà lành làm kỹ nữ, mà quan lại không xét, cấp bừa chiêu bài, thuế vụ không có bằng cứ cũng cấp cho giấy đóng thuế, nên nghiêm cấm, người trái lệnh phải bị xử phạt”.
thay đổi nội dung bởi: Xuất Quân Vô Sầu., 28-10-2012 lúc 19:03
b) Quan kỹ thời Nguyên.
Chế độ quan kỹ thời Nguyên phát triển thêm một bước trên cơ sở thời Tống.
Ban đầu quan kỹ toàn quốc thực hành thống nhất sổ sách, phân cấp quản lý. Tất cả hộ tịch nữ nhạc đều phải báo cáo đầy đủ về Ty Giáo phường, quan kỹ ở kinh sư thì trực tiếp do hoạn quan mà Ty Giáo phường cử ra thống lãnh, quan kỹ địa phương thì do quan lai địa phương quản lý. Kỹ nữ nhập tịch thì do quan hữu ty thẩm xét rồi phát cho văn bằng để làm ăn (tức công cứ), nộp thuế theo pháp luật. Lúc nộp thuế cũng phải được quan phủ phát biên lai, để tiện tra xét" (123). Loại chế độ Hoa quyên này đã duy trì được nhân số trong nhạc tịch tương đối ổn định, làm tăng nguồn thu nhập tài chính của quốc gia, lại có lợi ở chỗ hạn chế được quan viên địa phương tùy ý cho dân làm kỹ nữ hoặc cho kỹ nữ hoàn lương.
Thứ nữa, về phương thức kinh doanh thì theo Chế độ nghĩa vụ và Chế độ mua bán (124). Cái gọi là Chế độ nghĩa vụ là chỉ việc quan kỹ phải vâng lệnh gọi tới công thự vô điều kiện để Thừa ứng theo phiên (Đương phiên thừa ứng, còn gọi là ứng quan thân). Như quan kỹ ở kinh có hai cách thức Thừa ứng theo phiên: một là tham gia các loại hoạt động điển lễ ăn mừng của quan lại, biểu diễn ca múa, tức "Giáo phường thừa ứng". Chu Túc trong Nguyên cung từ nói
"Niên niên chính đán tương triều hội
Đan trì đại nhạc liệt ưu linh
Giang Nam danh kỹ hiệu Xuyên Châm,
Cống nhập thiên gia để vạn câm"
(Hàng năm mồng một khi triều hội,
Bệ đỏ ưu linh đứng xếp hàng
Giang Nam danh kỹ hiệu Xuvên Châm,
Đưa cống vào cung giá vạn kim)
là chỉ tình hình ấy. Hai là để đón tiếp sứ giả ngoại quốc, "Mỗi khi có sứ giả nước ngoài tới Bắc Kinh, lại có sứ mệnh quan hệ lớn tới lợi ích của Đại hãn, thì theo lệ do hoàng gia chiêu đãi. Để biểu thị thịnh tình khoản đãi khách nước ngoài, đặc biệt sai Tổng quản cấp cho mỗi người trong sứ bộ mỗi đêm một kỹ nữ hạng sang, mỗi đêm đổi một người. Các kỹ nữ cũng coi việc sai dịch ấy là nghĩa vụ phải hết lòng với hoàng đế, nên không nhận bất cứ khoản thù lao nào" (125).
Tới như quan kỹ ở địa phương đương phiên thừa ứng thì cũng như thời Tống, chỉ hạn chế trong việc ca múa mời rượu, không cho hiến thân với quan lại, cũng không cho quan lại ép kỹ nữ ngủ hầu. Nhưng hiện tượng quan lại quyền quý bức ép kỹ nữ ngũ hầu vào thời Nguyên vô cùng phổ biến. Nguvên điển chương chép "Quan lại nhà giàu bỏ ra món tiền không xót, mua thú vui không muốn, cưỡng ép các phụ nữ nổi tiếng ca hay múa giỏi biết trang điểm còn trẻ tuổi có thể thừa ứng, ngầm tạo ra chứng cớ mai mối, cưới họ làm thê thiếp". Đốỉ với quan kỹ địa phương thì Ứng quan thân là chức trách hàng đầu của họ, phàm quan lại có nhu cầu thì phải gọi tới là tới, kẻ nào dám cưỡng lệnh hay chậm trễ đều bị xử phạt.
Vì quan lại có quyền tự do gọi kỹ nữ, nên số người được gọi là "Thượng sảnh hàng thủ", tài sắc siêu quần rủi ro hơn rất nhiều so với những quan kỹ khác, họ thường vì nổi tiếng bên ngoài, "được các nhà giàu mời tới, trình tài khéo mà giúp cuộc vui, không ngày nào được rảnh rỗi" (126), tóm lại là mệt mỏi trong việc ứng thù, vất vả trong việc hầu hạ, cực khổ không sao nói xiết. Như vở tạp kịch Tạ Thiên Hương của Quan Hán Khanh "Bọn tôi biết đàn hát, hàng ngày phải ứng quan thân, người không biết đàn hát thì được tự tại. Tôi giận mấy vị Lệnh sử ở bộ Lễ, họ đều nắm vận mạng của tôi, trước hết xóa tên những người không biết đàn hát, nếu sớm biết thế này tôi đã làm Nao nhi câm". Cái gọi là Chế độ mua bán là chỉ quan kỹ đem thân xác ra bán cho những khách chơi không phải quan lại để thu tiền, về tính chất không khác gì thị kỹ
________________________
(123) Xem thêm Vũ Chu, Trung Quốc kỹ nữ sinh hoạt sử, tr. 103.
(124) Mã khả Ba la du ký, tập 2, chương 11
(125) Vương Ân, Thu Động tập.
(126) Tạ Triệu Chiết, Ngũ tạp trở, quyển 8, Nhân bộ tứ.
c) Gia kỹ thời Nguyên.
Gia kỹ thời Nguyên kém xa thời Tống, đã hiện rõ xu thế suy giảm mau lẹ. Tuy vẫn có hiện tượng một số quan lại sĩ đại phu nuôi dưỡng gia kỹ, nhưng đã không còn số lượng và quy mô như thời Đường Tống, cũng không còn phổ biến như thời Đường Tống. Sự xuất hiện của hiện tượng này có liên quan chặt chẽ với việc hàng hóa hóa nghề kỹ nữ và tình trạng quan kỹ thịnh hành. Ngoài ra gia kỹ thời Nguyên cũng thiếu mất tài nghệ thơ rượu, sự lãng mạn tình thú ca múa truyền tình của gia kỹ thời Đường Tống, họ hoàn toàn trở thành công cụ thỏa mãn xác thịt của quý tộc sĩ đại phu, chỉ làm việc hầu hạ chăn gối mà thôi. Như Ngọc chi đường đàm cối quyển 3 chép đại thần Yên Thiếp Mộc Nhi thường "Chọn mỹ cơ da thịt mềm mại ấm áp trẻ tuổi hầu hạ chăn gối, gọi là Chiếu thịt thơm (Hương cơ tịch). Son hồng phấn trắng la liệt hai bên, tùy lúc lựa chọn, tha hồ say hoa luyến ngọc".
IV. Sự thịnh vượng của nghề kỹ nữ
1. Nghề kỹ nữ thời Minh
Nghề kỹ nữ ở Trung Quốc thời Minh Thanh phát triển tới mức cực thịnh, mà thời Minh lại càng là đăng phong tháo cực. Tạ Triệu Chiết thời Minh trong Ngũ tạp trở nói "Hiện nay kỹ nữ đầy rẫy thiên hạ, ở các đô hội lớn có tới hàng ngàn hàng vạn, còn ở các châu nhỏ huyện xa thường thường cũng có. Suốt ngày dựa cửa đón khách, bán dâm để sống, sinh kế tới mức ấy, kể cũng đáng thương! Mà giáo phường ở kinh sư thì quan thu tiền thuế, gọi là thuế phấn son. Ở các quận huyện thì là Nhạc hộ, chỉ nghe lệnh sai sử mà thôi. Thời Đường Tống dùng quan kỹ hầu rượu, thời quốc sơ cũng theo đó. Đến đầu đời Tuyên Đức mới bắt đầu cấm, nhưng những người tấn thân ở nhà thì bất kể. Cho nên tuy là công đình ở nơi xa xôi, cũng thường tràn ngập nơi tường cổng. Lại có loại không lệ thuộc vào quan, bán dâm ở nhà, tục gọi là Tư oa tử, nhiều không kể xiết" (127). Từ đó có thể thấy thời Minh là thời kỳ cực thịnh của quan kỹ và tư kỹ.
Từ địa khu mà bàn, thì kỹ nữ thời Minh có Nam Bắc hai kinh là thịnh nhất. Theo Lâm Hy Nguyên đời Gia Tĩnh nói, "Hiện nay số Cửu nhai (Kỹ nữ) ở hai kinh có tới hàng vạn" (128). Kỹ nữ Bắc Kinh đầy rẫy khắp thành, "Kỹ nữ phần lớn là con nhà lương gia" (128). Tân đô mai sử miêu tả "Giai nhân đất Yên Triệu, mặt đẹp như ngọc, từ xưa đã xinh đẹp. Dận đế đóng đô ở Kiến Đỉnh, đến nay thịnh vượng, mà phong khí người phương nam lại xen lẫn vào, về sự xinh đẹp làm người ta kinh ngạc không còn gì phải nghi ngờ. Từ năm Đinh dậu đời Vạn Lịch (Vạn Lịch thứ 25) đến năm Canh tý (Vạn Lịch thứ 28), lại càng quá hơn". Nhưng so với Nam Kinh thì kỹ nữ Bắc Kinh vẫn kém xa. Yên Kinh tạp ký nói "Kỹ nữ ở kinh sư tuy đông nhưng so với Ngô Môn, Bạch Hạ thì không sao bằng được", đó là những ghi chép chân thực về lịch sử đương thời.
Nam Kinh từ thời Lạc triều đã có tiếng "Bác địa yên chi, Nam triều kim phấn" (Son đất Bắc, phấn triều Nam) đến đầu thời Minh, Chu Nguyên Chương lại xây dựng mười sáu tòa quan kỹ Khinh Yên Đạm Phấn để tiếp đón tân khách, phong lưu đứng đầu một thời (129). Từ giữa thời Minh trở đi Nam Kinh càng trở thành trung tâm của nghề kỹ nữ trên toàn quốc. Người đương thời là Tiền Khiêm Ích viết trong bài Kim Lăng xã tịch thi tự "Thiên hạ thái bình, kinh thành tráng lệ. Người làm quan khoe chốn Tiên đô, kẻ du sĩ nhận miền Lạc thể". Dư Hoài trong Bản Kiều tạp kỹ nói "Kim Lăng là đất đô hội, là nơi phấn son. Lãng tử mê say, thi nhân ngây ngất, lui tới du hý, ngựa như rồng bay, xe như nước chảy. Bên trong thì lâu đài gió trăng, sênh ca nhã nhạc, lại thêm đĩ đực khách chơi, kỹ nữ con hát, kiều mỵ đưa tình, đua nhau tranh cạnh. Ngoài bóng dương xanh, trong hồ ngọc biếc. Sáo thu trỗi điệu, oanh xuân chợt vang. Tuy Tống Quảng Bình "lòng như sắt đá, cũng không thể không vì hoa mai mà làm bài phú vậy". Cố Khởi Nguyên ở Nam Kinh lâu ngày cũng nói "Tôi còn nghe trước năm Vạn Lịch thứ 10 trong giáo phường phòng ốc hoa lệ, nhà cửa liền nhau, cơ hồ không còn chỗ hở" (130). Từ những ghi chép trong sử sách của người đương thời, chúng ta có thể tưởng tượng ra tình trạng thịnh vượng chưa từng có của kỹ nữ ở Nam Kinh.
Ngoài Nam Bắc hai kinh, kỹ nữ các địa phương trong thời Minh cũng rất thịnh vượng, trong đó Bà nương ở Đại Đồng, Sấu mã ở Dương Châu là nổi tiếng nhất.
Đại Đồng là trọng trấn về quân sự ở phương bắc của nhà Minh, nghề kỹ nữ thịnh vượng nổi tiếng trên đời. Thẩm Đức Phù trong Vạn Lịch dã hoạch biên viết "Ở các doanh trại kỹ nữ như mây, hơn cả kinh sư". Lại nói "Các Bà nương ở Đại Đồng, Đại Đồng là đất phong của Đại Giản vương, nhạc hộ nhiều gấp mấy lần các phiên trấn khác. Nay trong hoa tịch vẫn còn hai ngàn người. Những kỹ nữ không thuộc ba viện trong ngoài kinh sư đại để đều là người Đại Đồng, tới đó lưu ngụ, chính là cái mà thời cổ gọi là Nhã nhạc trong hẻm (Lộ kỳ tán nhạc)" (131). Lại Tạ Triệu Chiết trong Ngũ tạp trở nói "Vùng biên giới như Đại Đồng, về mặt phồn hoa giàu có không kém Giang Nam, mà phụ nữ xinh đẹp, vật dùng phong nhã, các phiên trấn ở biên cương đều không bằng được. Đó là vì chợ búa mở ra đã lâu, không trải qua binh lửa. Lời ngạn gọi Thành quách Tô Châu, Giáo phường Tuyên phủ, Bà nương Đại Đồng là tam tuyệt". Đủ thấy kỹ nữ Đại Đồng lấy tướng sĩ ở biên cương làm đối tượng doanh nghiệp đà trở thành một đặc sản lớn của xứ ấy.
Kỹ nữ Dương Châu từ xưa đã nổi tiếng xinh đẹp trên đời. Ngũ tạp trở nói "Duy Dương ở vào khoảng giữa đường từ kinh đô tới biên giới phía nam, sông hồ tươi sáng nên phụ nữ phần nhiều xinh đẹp, mà tính tình mềm mỏng, cử chỉ dịu dàng. Vì khí đầm nước nhiều, cũng là khí sông nước ngưng tụ, các nơi khác không sao bằng được. Mà người Dương Châu lại quen lấy đó làm món hàng lạ, mua bán đồng nữ ở các nơi trang điểm cho đẹp, dạy dỗ các môn thư họa cầm kỳ, để chờ bán với giá cao, gọi là Ngựa gầy (Sấu mã)". Chỗ mà người đương thời gọi là Hai mươi bốn cầu trăng gió (Nhị thập tứ kiều phong nguyệt) là nơi kỹ nữ tập trung đông đúc nhất ở Dương Châu. Trương Đại trong Đào am mộng ức nói "Hai mươi bốn cầu trăng gió ở Quảng Lăng, ở Hàn Câu vẫn còn ý cũ. Qua khỏi Thiết Quan Hoành Cắng hơn nửa dặm thì có chín đường hẻm. Hẻm vốn có chín nhưng đường bốn phía chung quanh thông vào thì có hàng chục hàng trăm. Cửa hẻm chật mà quanh co, từng bước đều có phòng ốc chen chúc, danh kỹ và kỹ nữ hạng thấp cư trú xen kẽ. Danh kỹ thì thường không ra gặp khách, nếu không có người đưa đường thì không vào được. Kỹ nữ hạng thấp thì có tới năm sáu trăm người, chiều chiều tắm rửa xông hương, ra khỏi hẻm quây quần trước các trà đình tửu điếm, gọi là Đứng cửa (Điếm quan). Các trà đình tửu điếm ở ven sông có hàng trăm chiếc đèn lồng, các kỹ nữ thấp thoáng trong ánh đèn lúc sáng lúc tắt. Tốt đẹp phô ra, xấu xa đậy lại. Trước đèn dưới trăng, có thể nói một màu trắng có thể che hết trăm vẻ xấu, đó là nhờ son phấn. Khách khứa qua lại như thoi, liếc mắt nhìn xem, có ai vừa ý là bước tới kéo đi. Mà kỹ nữ ấy chợt để lộ thân phận, để khách đi trước, mình thì thong thả đi sau, tới chỗ đầu hẻm có người canh gác, gọi vọng vào trong hẻm: Chị Mỗ có khách. Bên trong tiếng dạ ran ran, lập tức thắp đèn đuốc lên, tất cả đều rời đi, còn lại chẳng qua chỉ hai ba mươi người. Dần dần tới canh hai, đèn đuốc tắt hết, trong quán trà không còn tiếng người. Trà bác sĩ không tiện mời ra, chỉ ngáp dài, các kỹ nữ đưa tiền cho Trà bác sĩ mua nến để đợi đến lúc hết khách, hoặc cất tiếng hát các bài từ ngắn như Tiễn phá ngọc, hoặc trừng giỡn nô đùa, nhưng lúc làm ra vẻ ồn ào náo nhiệt thì giọng nói tiếng cười nghẹn ngào, âm thanh dần dần mang vẻ thê lương. Đến nửa đêm không thể không về, gặp chủ chứa là chịu đói chịu đòn..." (132). Từ sự miêu tả của Trương Đại, chúng ta không khó tưởng tượng ra tình cảnh thịnh vượng của Ngựa gầy ở Dương Châu. Ở Dương Châu đương thời nảy sinh nhiều danh kỹ, như Điền hoàng hậu của Sùng Trinh là xuất thân từ Ngựa gầy (133).
Ngoài ra trong một số đô thị lớn cũng có kỹ nữ đông đúc. Như ở Khai Phong từ hàng cơm, quán rượu tới nhà trọ nơi nào cũng có kỹ nữ. Ở các tửu lâu tại một dải Chung Cổ lâu trong thành, khách khứa đông đúc, "có kỹ nữ ca hát" từ Thác Thành tửu lâu phía nam tới Đại Sơn hóa điếm, "là nơi ở của kỹ nữ", "về phía nam lại có Tân điếm, là nơi khách buôn ở, kỹ nữ càng đông", trong các tửu điếm phía nam ngoài các cửa hiệu buôn bán, "trong có ba bốn nhà kỹ nữ", phía tây đường Bản Quảng Hồ Đồng, "trong quán rượu có hai mươi bảy nhạc hộ", lại trong Luy Mã đại điếm ở số 350 đường Tây Quan Sương, "bên trong kỹ nữ vô số" (134). Không chỉ thành thị mà một số thị trấn, bến cảng có kinh tế phát triển, giao thông thuận lợi, khách buôn tụ họp thì nghề kỹ nữ cũng phát đạt như vậy. Ví dụ Ô Trấn ở Hồ Châu, không những "sòng bạc giăng mắc", mà "kỹ viện đầy đường" (135), đường sông Tương Dương ở Hồ Quảng "khách buôn bốn phương tụ họp như mây, thuyền kỹ nữ chen chúc trên sông" (136), mà trong các quán trọ ở châu Thái An, cũng "Khúc viện chen chúc trong đó đều là kỹ nữ lả lơi" (137)
_______________________
(127) Lâm Hy Nguyên, Lâm Thứ Nhai tiên sinh văn tập, quyển 2, Vương chính phụ ngôn sớ.
(128) Tạ Triệu Chiết, Ngũ tạp trở, quyển 3 Địa bộ nhất.
(129) Như Tào Đại Chương trong Tần Hoài sĩ nữ biểu viết "Thời quốc sơ nữ kỹ còn lệ vào nhạc quan. Những quan lại sĩ đại phu, không thôi yến tiệc. Sau khi bị cách chức, lệnh cấm rất nghiêm. Đương thời phấn son đậm nhạt, uyên ương phỉ thúy, hai mươi bốn lầu, bày ra ở tầng ngoài, không ai ghi lại cảnh đẹp. Về sau lại phá hủy, chỉ còn sáu viện. Gọi là xinh đẹp, thì chỉ có Cưu viện mà thôi". Lại như Dư Hoài trong Bản Kiều tạp ký nói "Đầu đời Hồng Vũ, xây mười sáu lầu quan kỹ như Đạm Yên, Khinh Phân, Trùng Dịch, Lai Tán, được khen là việc hay một thời. Thời thế thay đổi lúc phế lúc giữ. Sau trăm năm vết cũ phôi pha, chỉ còn có lầu Nam Thi, Châu Thị và Cựu viện mà thôi. Nam Thị là nơi ở của bọn con hát hạng thấp, Châu Thị thì thảng hoặc có người xinh đẹp, còn Cựu viện là nơi ở của thượng sảnh hàng thủ".
(130) Cố Khởi Nguyên, Khách tọa ngao ngữ, quyển 7, Nữ tử
(131) Thẩm Đức Phù, Vạn Lịch dã hoạch biên, quyển 17.
(132) Trương Đại, Đào Am mộng ức, quyển 4 Nhị thập tứ kiều phong nguyệt.
(133) Tư Lăng điển lễ ký chép "Hoàng Quý phi là con gái Điền Hoằng, sinh ra rất thông tuệ, Hoằng làm Bả tổng ở Dương Châu, tìm người giỏi thư họa về dạy dỗ, định gả cho nhà thân sĩ làm thiếp, lấy đó làm món hàng lạ. Đến khi được tuyển, được yêu thương nhất hậu cung". Lại nói "Vợ Hoằng là kỹ nữ".
(134) Xem thêm Như mộng lục, quyển 6, Nhai thị ký.
(135) Hồ Châu phủ chí đời Đồng Trị, quyển 17, Dư địa lược, Công giải
(136) Chúc Doãn Minh, Tiền văn ký
(137) Trương Đại, Đào Am mộng ức, quyển 4, Thái An châu khách điếm.
2. Nghề kỹ nữ thời Thanh
a) Sự tiêu vong của cung kỹ thời Thanh.
Chế độ cung kỹ đầu thời Thanh nối theo thời Minh. Năm Thuận Trị thứ 1 (1644) đặt ra Ty giáo phường để chưởng quản Nhạc bộ trong cung" (138). Nhưng đến năm Thuận Trị thứ 8, có chiếu đình chỉ nữ nhạc trong giáo phường, dùng bốn mươi tám thái giám để thay (139). Qua bốn năm, tức năm Thuận Trị thứ 12, vua Thuận Trị lại ra lệnh đặt lại nữ nhạc, mười sáu năm sau lại đổi dùng thái giám, lại lấy đó làm định chế (140). Cho nên Ung Chính hội điển có chép "Thuận Trị năm thứ 16 sau khi cắt bỏ nữ nhạc, Ty giáo phường ở kinh sư hoàn toàn không còn phụ nữ"
Qua hai lần cải cách ấy, Thanh Thế tổ đã tiêu diệt quan kỹ ở kinh đô Bắc Kinh, nhưng quan kỹ ở các địa phương vẫn tồn tại, đặc biệt là ở Sơn Tây và Thiểm Tây.
Quan kỹ ở Sơn Tây và Thiểm Tây, theo sử sách ghi chép, chủ yếu xuất thân từ gia đình các quan lại có tội trong sự kiện quân Tĩnh Nạn thời Minh. Theo truyền thuyết, năm Hồng Vũ thứ 31 (1398) thời Minh, Chu Nguyên Chương chết, vì con trưởng là Chu Tiêu đã bệnh chết năm Hồng Vũ thứ 25, bèn cho Hoàng Thái tôn Chu Doãn Văn nối ngôi, tức vua "Kiến Văn". Sau khi Chu Doãn Văn tức vị, cảm thấy "Chư vương cậy mình là chú, phần lớn không phục từng", bèn hạ lệnh bỏ chế độ phiên vương, dẫn tới vụ Yên vương Chu Lệ dấy quân làm phản, quân Chu Lệ đánh vào thành Nam Kinh là kinh đô đương thời, thẳng tay tàn sát các quan viên văn võ giúp đỡ Kiến Văn đế mà không chịu theo mình, lại đày gia thuộc của họ ra một dải Sơn Tây, Thiểm Tây, biên làm Nhạc hộ, đời này qua đời khác không được làm lương dân, con cháu lấy vợ sinh con cũng bị ép làm kỹ nữ, vĩnh viễn làm nghề hèn hạ (141). Thấp huyện chí đời Khang Hy, quyển 14 nói "Nhạc hộ ở đất Tấn không biết bắt đầu từ lúc nào. Có người nói thời Minh đặt vương phu, về sau chia ra ở các nơi, đến nay vẫn không đổi nghề. Cái gọi là "Nhạc hộ ở đất Tấn" ở đây chính là xuất phát từ đó. Theo truyền thuyết, đương thời những người bị biên tên làm Nhạc hộ, số mục cực lớn, đến đời Khang Hy ở Sơn Tây đã có tới "mấy ngàn nhà" (142). Địa vị của họ cực thấp, bị coi là "vô cùng hèn hạ" không được coi như thường dân.
Ngoài ra quan kỹ ở vùng Tô Châu từ đời Khang Hy trở về trước cũng tồn tại như thế, mà rất thịnh vượng, hoạt động phồn vinh. Như Vương Sĩ Trinh trong Hương Tổ bút ký từng chép một điển cố về quan kỹ đương thời ở Dương Châu:
"Lệ cũ ở Dương Châu, quan phủ đón xuân đi ngắm hoa, thì dùng kỹ nữ cưỡi ngựa đi trước kiệu, Thái thú, Tiết thôi dùng bốn người, Đồng tri trở xuống dùng hai người. Đến khi đã xong, trở về ăn uống, vẫn sai ca hát hầu rượu, quan viên trong phủ nhân đó lạm dụng, tôi bảo Thái thú dẹp bỏ lệ ấy".
Vương Sĩ Trinh làm Thôi quan ở Dương Châu năm Thuận Trị thứ 16 (1659), đủ thấy đương thời chế độ quan kỹ ở địa phương vẫn còn tồn tại. Dương Châu họa phóng lục cũng chứng minh điều này:
"Quan kỹ thời quốc sơ, gọi là Nhạc hộ. Tục ở xứ ấy trước ngày Lập xuân thì đón xuân ở quán Phiên Ly phía đông thành, sai quan kỹ chia nhau xả hỏa, một người làm Xuân mộng bà, hai người làm Xuân thư, một người làm Xuân lại, hai người làm Nha lại, một người làm Xuân quan... Đến đời Khang Hy, bỏ nhạc hộ, không còn quan kỹ nữa, nên lấy những chức sắc trong hội đèn lồng thay vào".
Việc Khang Hy bỏ nhạc hộ phát sinh năm Khang Hy thứ 12 (1673). "Bộ Lễ bàn định: các tỉnh phủ huyện đón xuân chỉ dùng trống kèn kiệu hoa, diễn kịch, sân khấu biểu diễn bày đàn trống, cắm cờ xí, còn việc sai con hát dẫn đầu xe kiệu thì nghiêm cấm" (143), Lại như Ung Chính hội điển nói "Bộ Lễ dâng nghi thức mùa xuân, năm Khang Hy thứ 12 chuẩn cho tỉnh phủ huyện châu vào mùa xuân rước trâu đất, bỏ việc sai con hát xướng kỹ đi đầu, nghiêm hành cấm chỉ". Từ đó trở đi, chế độ quan kỹ từ thời nhà Đường trở đi đã hoàn toàn bị quét sạch. Những ghi chép trong sử sách cũng phản ảnh điều này, như Tô Châu "Nghi thức đón xuân: Các quan huyện quanh phủ thành đốc suất ủy nhiệm cho phường giáp, trang điểm để xả hỏa... Nghe nói thời quốc sơ còn dùng con hát, quan kỹ, hiện nay thì sai ăn mày làm thay" (144), đủ thấy quan kỹ ở đất ấy từ năm Khang Hy thứ 12 trở đi đã bị tiêu diệt.
Đồng thời với việc thủ tiêu quan kỹ, kẻ thống trị đầu thời Thanh còn hạ lệnh cấm đem con gái nhà lương dân làm kỹ nữ, ví dụ Thuận Trị năm thứ 5 chế định và ban hành Đại Thanh lục tập giải phụ lệ nhắc lại điều cấm chỉ lấy con gái nhà lương dân làm kỹ nữ. Năm Thuận Trị thứ 9 Thanh Thế tổ lại ban chiếu cấm đem con gái nhà lương dân làm kỹ nữ. Trần Thượng Dụ trong Thế Vân lâu tạp ký nói "Năm Nhâm thìn niên hiệu Thuận Trị (Thuận Trị năm thứ 9) cấm con gái nhà lương dân làm kỹ nữ. Vì sau khi loạn lạc con gái nhà lương dân bị bắt, lưu lạc vào Nhạc hộ, nên Thế tổ đặc biệt có lệnh này. Những người không may rơi vào kỹ viện, cho phép được theo giá chuộc về, người trong kinh ai cũng mừng rỡ". Đời Khang Hy, lại đem chiếu lệnh cấm "bán con gái nhà lương dân làm kỹ nữ" đưa vào sách Khâm định Đại Thanh luật lệ:
"Kẻ nào lén bán con gái nhà lương dân làm kỹ nữ thì đóng gông ba tháng, đánh một trăm trượng, bắt khổ sai ba năm. Người biết được mà vẫn mua cũng cùng tội, người trung gian mua bán thì trị tội giảm đi một bậc, người bị bán thì cho về".
Phàm kẻ lãnh mua phụ nữ để ép phải bán dâm thủ lợi thì đóng gông làm hiệu lệnh ba tháng, đánh một trăm trượng, đày tới các địa phương xa xôi hẻo lánh như Vân Quý Xuyên Quảng. Nếu không có ý làm gian thủ lợi nhưng không phải do quan giao mà nhận riêng, nuôi phụ nữ trong nhà lâu ngày, quá hạn không bán đi, định chờ được nhiều lãi thì đánh một trăm trượng, quan địa phương không ra sức điều tra bắt bớ thì theo lệ nghị tội.
Phàm bọn vô lại không có hộ khẩu và Sinh viên, Giám sinh, nha dịch binh lính chứa chấp kỹ nữ từ nơi khác tới hay kỹ nữ địa phương, dụ dỗ để lừa dối hay nhận tiền bạc của nhà xướng kỹ ấy, đứng ra che chở thì đều đánh một trăm trượng. Sinh viên, Giám sinh thì lột hết áo mão, nha dịch binh lính thì không cho ăn lương làm việc nữa, láng giềng có ai biết mà giấu diếm thì đánh tám mươi trượng. Kẻ nhận tiền bạc trái phép thì xử theo tang vật nhiều hay ít . Quan địa phương phạm tội thất sát thì giao cho bộ theo lệ nghị tội".
Đến đời Ưng Chính (1723 - 1735) Thanh Thế tông kế tục chính sách cấm kỹ nữ của tổ tiên. Ung Chính hội điển nói, năm Ưng Chính thứ 3 quan Hình bộ tâu "Lệnh cho các tỉnh đều không được giữ nhạc công trong quan nữa". Ngoài ra vua Ưng Chính còn dùng một số biện pháp như hạ lệnh phế bỏ chính sách Nọa dân, Đản dân, Cửu tính ngư thuyền là các tầng lớp hèn hạ nối đời làm kỹ nữ của tiền triều để lại, khôi phục cho họ được làm lương dân.
Tháng 3 năm Ưng Chính thứ 1 (1723) Ngự sử Niên Hy cho rằng cảnh ngộ của Nhạc hộ "rất đáng thương xót", dâng sớ đề nghị phế bỏ nhạc tịch, vua Ưng Chính cho rằng lời tâu ấy của Niên Hy "rất hay", bèn hạ lệnh cho Bộ Lễ bàn bạc. Bộ Lễ bàn bạc xong, cho rằng "nên theo lời tấu, ra lệnh cho quan Đốc Phu các tỉnh Sơn Tây, Thiểm Tây sức cho thuộc hạ làm theo, phải phế bỏ hết" lại đề nghị các tỉnh ngoài Sơn Tây, Thiểm Tây có loại Nhạc hộ ấy phải theo quy định chấp hành. Tháng 4 điều đó được Ưng Chính phê chuẩn, về sau căn cứ vào lời tâu ấy của Bộ Lễ và tờ tâu của Cát Nhĩ Thái xin phế bỏ hạng Nọa dân ở Chiết Giang, bèn định ra điều lệ chung "Nhạc tịch ở các tỉnh, như Nọa dân, Cái hộ ở Chiết Giang, đều sai tra xét gạch tên khỏi sổ, đổi nghề nghiệp làm lương dân. Nếu cường hào lưu manh ở các nơi vẫn đè nén lăng nhục như trước, hay kẻ cam lòng làm nghề hèn hạ như cũ, thì theo lệ trị tội. Quan lại địa phương làm việc này bất lực thì cho quan Đốc Phủ tra xét tham hặc, theo lệ xử trị" (145). Quan lại địa phương Sơn Tây cũng theo đó "ra lệnh cho các thuộc viên nghiêm hành cấm chỉ (Nhạc hộ), sai họ đổi nghề, làm lương dân" (146). Lại như Hoàng triều thông chí, Thực hóa lược nói “Năm Ung Chính thứ 1, ở tỉnh Sơn Tây có Nhạc tịch, ở phủ Thiệu Hưng tỉnh Chiết Giang có Nọa dân, ở phủ Huy Châu tỉnh Giang Nam có Bạn đương, ở phủ Ninh Quốc có Thế bộc, ở hai huyện Thường Thục, Chiêu Văn phủ Tô Châu có Cái hộ, ở Quảng Đông có Đản hộ. Các địa phương coi đó là loại người hèn hạ, không được sánh ngang với lương dân. Hoàng thượng rất thương xót, ra lệnh tiêu trừ hộ tịch, ngang hàng với người thường. Mà Giang Tây, Chiết Giang, Phúc Kiến lại có cái gọi là Bằng dân, Quảng Đông lại có Liêu dân, cũng theo phép Bảo giáp, theo từng hộ mà tra xét".
Chính sách "bỏ thân phận hèn hạ cho về làm dân" của vua Ưng Chính này đương nhiên hợp lòng dân, rất được hoan nghênh. Hoàng triều văn hiến thông khảo, Vương lễ khảo, Thái Lăng Thánh đức thần công bi chép "Từ đầu thời Minh ở Thiệu Hưng có Nọa dân, sau vụ Tĩnh Nạn chư thần có người kháng mệnh, con cái phần lớn bị phát phối lên Sơn Tây làm nhạc hộ, kéo dài suốt mấy trăm năm, một sớm được gạch tên khỏi sổ về làm lương dân, hôm lệnh ban hành, người ta đều rơi nước mắt". Đây là lần đầu tiên dùng hình thức pháp luật để phủ định và tiêu diệt chế độ quan kỹ nhạc tịch liên tục được thực thi hơn một ngàn năm, đối với nghề kỹ nữ ở Trung Quốc (đạc biệt là quan kỹ) đã sản sinh một ảnh hưởng sâu sắc.
Nhưng vì kẻ thống trị đầu thời Thanh chỉ bỏ quan kỹ không cấm tư kỹ, vì vậy điều cấm "bán con gái lương dân làm kỹ nữ" nói trên và chính sách phế bỏ nhạc tịch cũng chỉ rơi vào chỗ hình thức mà thôi. Như ở Thiểm Tây năm Khang Hy thứ 30 "Mất mùa rất nặng, trăm họ cùng đường hết cách phần lớn bán con vào Nhạc hộ để kiếm miếng ăn trước mắt kéo dài cuộc sống thêm một ngày" (147). Mà quan lại nhà Thanh đối với điều lệnh "cấm bán con gái lương dân làm kỹ nữ" cũng nhìn mà không thấy, coi đó như một tờ giấy viết chữ suông. Thẩm Gia Bản trong Cấm cách mại mãi nhân khẩu biến thông cựu lệ nghi nói "Quan lại coi đó như tờ giấy lộn. Việc bán con gái lương dân làm kỹ nữ thỉnh thoảng lại xảy ra... cũng chưa nghe nói quan lại có hành động gì" (148). Pháp lệnh phế bỏ nhạc tịch của vua Ung Chính cũng không thấy có bao nhiêu hiệu quả thực tế, như Đới Bàn trong Tây Chiết hoạn du kỹ lược nói:
"Ngư khóa ở Kiến Đức Nghiêm quận bắt đầu từ đời Hồng Vũ nhà Minh. Chín họ Trần, Tiền, Lâm, Lý, Viên, Tôn, Triệu, Hứa, Hà, tương truyền là hậu duệ
của Trần Hữu Lượng chống nhà Minh và con cháu thuộc hạ, bị biến làm dân trên thuyền, sai làm việc phục dịch hèn hạ, không khác gì giáo phường, những người ấy trên thuyền đều học tập âm nhạc ca hát, để mời rượu hầu ngủ. Tiếng là quyến thuộc, nhưng thật là quan kỹ. Ngày tháng lâu xa, tên tuổi của những người trong chín họ đã khó khảo xét được hết, đến nay thuyền ấy có tên là thuyền Giang Sơn. Từ sông Tiền Đường tới Cù Châu là đường sông thông đi tám tỉnh, đám thương nhân giàu có không phải thuyền ấy thì không đi, những nhà quan lại cũng thế, mê đắm chơi bời không chịu tỉnh ngộ, tốn kém tiền bạc, thật không biết bao nhiêu mà kể. Trong đời Đạo Quang, Hàm Phong, vẫn còn hơn một ngàn hộ, thuyền lấy tiếng là hầu quan, quan lại đã đánh thuế thì sẽ có cái thế không sao cấm được".
Từ đó có thể thấy, cho dù kẻ thống trị trừ bỏ nhạc tịch cho họ, nhưng vì không thu xếp được lối thoát cho họ sinh sống sau khi hoàn lương, phá bỏ tận gốc điều kiện xã hội của việc nảy sinh kỹ nữ, nên đại đa số trong bọn họ vì bị sinh kế bức bách lại chỉ đành trở lại nghề cũ.
_______________________
(138) Khâm định Bát kỳ thông chí.
(139) Khang Hy hội điển.
(140) Hoàng triều thông khảo, Nhạc khảo nói "Năm Thuận Trị thứ 12 vẫn đặt ra nữ nhạc, từ năm thứ 16 trở đi đổi dùng thái giám, lấy đó làm lệ". Lại như Thanh triều văn hiến thông khảo, quyển 174 viết năm Thuận Trị thứ 16 "Đình chỉ việc phụ nữ trong Ty Giáo phường vào cung ứng thừa, mà dùng bốn mươi tám nội giám trong cung".
(141), (142) Hoàng triều văn hiến thông khảo, quyển 3.
(143) Thanh triều văn hiến thông khảo, quyển 155, Nhạc nhất.
(144) Thanh gia lục, quyển 1, Chinh nguyệt, Hành xuân.
(145) Ưng Chính thực lục, quyển 11 và Đông hoa lục, Ung Chính tam.
(146) Phổ chỉnh tập yếu, quyển 8 và Thanh triều văn hiến thông khảo, quyển 152.
(147) Lý Trung Phu, Thiết vấn Trai văn tập, quyển 19, Dữ Bố Phủ đài.
(148) Thẩm Gia Bản, Ký Di tiên sinh di thư, Ký Di văn tồn, quyển 1.
b) Sự thịnh vượng của tư kỹ thời Thanh.
Chế độ xướng kỹ thời Thanh nối theo thời Minh nhưng có sự phát triển, kỹ nữ đã hoàn toàn từ chỗ chủ yếu là bán nghề chuyển qua bán thân xác, cảnh tượng kỹ nữ suốt ngày gảy đàn thổi sáo, ngâm xướng ca vịnh đã hoàn toàn không còn, kỹ viện thực sự trở thành hình ảnh thu nhỏ của một xã hội đen tối hủ bại.
Thời Thanh, tuy chế độ quan kỹ đã bị tiêu diệt, nhưng tư kỹ lại thừa cơ phát triển mạnh, bộc lộ một cảnh tượng vô cùng phồn vinh thịnh vượng. Các thành phố ở Nam Kinh, Dương Châu, Tô Châu, Hàng Châu, Quảng Châu là khu vực phát đạt nhất của nghề kỹ nữ trên toàn quốc.
Nam Kinh từ trước đã nổi tiếng phong lưu, đến thời Thanh lại càng như thế. Châu Tuyền cư sĩ trong Tục Bản Kiều tạp ký chép:
"Nghe các bậc phụ lão ở Kim Lăng nói: Hà phòng trên sông Tần Hoài trước nay là nhà ở của kỹ nữ, bấm đốt ngón tay mà tính chẳng qua chỉ có vài nhà, cũng ít khi thấy mở tiệc đãi khách. Nhưng trong mươi năm nay cửa cửa là hoa, nhà nhà tựa ngọc, chơi bời không ngày nào vắng. Mùa hè hai năm Bính thân Đinh dậu (Càn Long năm thứ 41, 42) lại còn quá hơn. Từ cầu Nam Môn tới cửa Đông Thủy, đèn lửa du thuyền nối đuôi nhau như đàn kiến không ngớt. Trên dưới Hà phòng đèn đuốc sáng rực như ban ngày. Các nhà danh kỹ mở tiệc lớn từ trưa đến khuya, khách khứa đầy tiệc, rượu trong chén không bao giờ cạn. Đại khái một ngày cũng phải tốn tới ngàn vàng. Đúng là ao chằm phong lưu, lâu đài trăng gió".
Dương Châu trong lịch sử cũng là nơi nổi tiếng về thanh sắc, đến thời Thanh thì son phấn thịnh vượng vẫn không kém gì thời Đường, về địa vị so với kỹ nữ Tần Hoài khó phân hơn kém. Ngô Lan Tư trong Dương Châu cổ xúy từ tự nói:
“Các thành trong quận, kỹ viện giăng mắc, hàng đêm có mấy vạn ngọn đèn lồng, son phấn lụa là đứng đầu thiên hạ”.
Nghề kỹ nữ ở Quảng Châu, từ xưa đã nổi tiếng thịnh vượng. Đến thời Thanh lại càng trở thành "yên nguyệt chi tác phường". Sử gia Triệu Dực thời Thanh trong Thiềm năng tạp ký quyển 4 chép:
"Đản thuyền ở Châu Giang Quảng Châu không dưới bảy tám ngàn chiếc, đều buôn hương bán phấn để sống, rất khó ngăn cấm. Đản hộ vốn làm nghề đánh cá ngoài biển, có thể xuống nước phóng lao giết cá lớn, tục lệ của họ là không sống trên đất liền. Kẻ buôn hương bán phấn sinh sống cũng lấy thuyền làm nhà nên có tên gọi ấy, chứ thật ra thì không phải là Đản hộ. Châu Giang rất rộng, Đản thuyền tụ họp dài bảy tám dặm, la liệt mấy mươi lớp, đều là thuyền gỗ lớn, tuy sóng to gió lớn cũng không động, giữa có thủy nhai, mấy trăm thuyền nhỏ đi lại trong đó. Khách lên Đản thuyền đều dùng thuyền nhỏ chở ra. Đản nữ đều do chủ chứa mua làm con, năm mười ba mười bốn tuổi
sai ra tiếp khách, quả thật ít có người đẹp. Sáng ra vẻ mặt vàng vọt, son phấn xong uống rượu mới hơi hồng. Bảy tám ngàn thuyền, ngày nào cũng có khách. Thuyền nhỏ đi lại trong thủy nhai bán bánh trái vật dùng, suốt đêm không ngớt".
Ngoài Nam Kinh, Dương Châu, Quảng Châu, thì Bắc Kinh, Phúc Châu, Triều Châu, Ninh Ba cũng có nghề kỹ nữ phát triển. Như ở Bắc Kinh, Thanh bị loại sao nói "Từ đời Đạo Quang trở về trước, ở kinh sư rất trọng Tượng cô, rất ít có kỹ viện. Ở Kim Ngư trì, là nơi xe kiệu tụ họp. Đời Hàm Phong phong khí kỹ nữ lan rộng, ở Yên Chi Hồ Đồng, Thạch Đầu Hồ Đồng, nhà treo đèn lồng, cửa dán thiếp đỏ, mỗi khi đến ngày tết thì xe kiệu nườm nượp, du khách như mây, tiếng gọi rượu mời khách râm ran, ầm ĩ suốt đêm. Sĩ đại phu học nhau thành thói, coi đó là chuyện bình thường. Thân bại danh liệt cũng có thể nhờ đó mà được làm quan". Như ở Ninh Ba sách Thập châu xuân ngữ của Tam Thạch Sinh chép "Thông Giang là đường giao thông thuận tiện, hàng ngày ra vào có tới hàng vạn người. Các thương nhân giàu có, phần lớn đều mượn giáo phường khúc viện làm nơi yến ẩm giao dịch. Ruổi xe sáng ghé, cầm đèn chơi đêm, cậy có bạc tiền mặc sức hưởng lạc. Vì thế nên cờ phong lưu cắm khắp phố phường, không sao ngăn cấm".
Đến thời cận đại, nghề kỹ nữ ở Thượng Hải đột nhiên quật khởi trở thành trung tâm của toàn quốc. Vương Thao trong Tùng Tân tỏa thoại nói:
"Đất Hộ là chốn phồn hoa, ở một dải vòng đua ngựa ngoài thành lầu gác lố nhố, san sát nối nhau không đâu không phải là nhà dương liễu, viện tỳ bà. Mỗi khi đến lúc nắng nhạt chiều tà điểm trang đã xong, xe như nước, ngựa như rồng, dạo chơi ở khu Thân Viên Tây Viên. Xa xa đèn đuốc như sao, tiếng ca như sâm, rượu thịt thơm lừng, xạ lan sực nức. Lúc bấy giờ còn gì vui hơn. Trong đó lụa là thành đội, son phấn như mây, không ai không hết sức lả lơi, đua nhau nũng nịu, đều tự cho rằng mình là giai nhân tuyệt thế, mỹ nữ khuynh thành. Nhưng tính lại thì những kẻ chơi bời nổi tiếng, vốn không biết là mình tầm thường tới mức nào" (149).
Ngọc Chẩm Sinh trong Hải tưu dả du lục nói:
"Đất Hộ ở một góc, tươi đẹp phồn hoa, đứng đầu thiên hạ. Chung quanh giáp với tám tỉnh, ngoài biển có mười bảy nước, đều tụ họp ở đó. Tuy trong mười năm nay mấy lần hưng suy, nhưng vẫn giữ được vẻ phồn hoa, mỗi ngày một thêm hưng thịnh. Hoa là thế giới, trăng ấy lâu đài, xe hương ngựa quý, ngoài cửa bụi bay. Đàn sáo ngân nga, xuân tràn trên tiệc, tân khách yến ẩm, vui vẻ suốt đêm. Từ trong tới ngoài thành, kỹ viện càng đông. Dời núi gò làm hoa ốc, lấp bãi đất làm thị trấn, năm tháng dần trôi, bể dâu mấy độ, mà thế đạo nhân tâm ngày càng sa sút. Từ năm Quý sửu (Hàm Phong năm thứ 3) trở về trước, kỹ viện đều ở trong thành, từ năm Quý sửu trở đi dần dời ra ngoài thành xây dựng quanh Mã Thành, ngày càng dày đặc, lầu cao gác rộng, xán lạn nguy nga, lại được danh hoa điểm xuyết vào thêm, vì thế kẻ lui tới nườm nượp. Khoảng các năm Canh Tân, Giang Chiết bị hãm, sĩ nữ từ bốn phương đổ tới đông nghẹt, lại làm thành đô hội trăm dặm".
________________________
(149) Vương Thao, Tùng Tân tỏa thoại, quyển 7, Đàm diễm thượng.
V. Sự suy vong của nghề kỹ nữ
1. Nghề kỹ nữ thời Dân quốc
Nghề kỹ nữ thời Dân quốc so với thời Thanh càng phát triển hơn. Bắc Kinh, Thượng Hải, Quảng Châu đều là nơi đô thị có nghề kỹ nữ phát đạt bậc nhất thế giới. Năm 1917, nhà xã hội học người Anh Bác Nhĩ (S. D. Gamble) từng làm một cuộc điều tra về tỷ lệ kỹ nữ công xướng trên số dân ở tám thành phố lớn trên thế giới, kết quả như sau (150)
Như thế trong tám thành phố lớn trên thế giới nói trên tỷ lệ kỹ nữ công xướng trên đầu người ở hai thành phố Bắc Bình, Thượng Hải ở Trung Quốc là cao nhất, ở Thượng Hải cứ 137 người dân thì có một kỹ nữ công xướng, Bắc Bình cứ 258 người dân thì có 1 kỹ nữ công xưởng. Nếu còn tính thêm số tư kỹ thì con số lại càng đáng sợ. Theo thống kê, khoảng 1935 kỹ nữ ở Thượng Hải (gồm cả công xướng lẫn tư xướng) chiếm từ 80.000 đến 100.000 trên khoảng 500.000 phụ nữ ở Thượng Hải. Như vậy cứ khoảng trên dưới 20 phụ nữ Thượng Hải thì có một người là kỹ nữ. Bắc Bình hơi kém hơn Thượng Hải, nhưng cứ trong 81 người dân hay 21 phụ nữ thì có một người là kỹ nữ" (151), tỷ lệ cũng làm người ta phát sợ!
Về tình hình phát triển của kỹ nữ Bắc Bình thời Dân quốc thì Kinh hoa xuân mộng lục có ghi chép chi tiêt như sau:
"Đô thành xuân sắc, riêng nghiện đào thừa. Sớm thắng chiều thua, cõi đời gió thổi. Nay ở đầm Hàn Hà, ngõ Thiểm Tây đều là động tư xướng. Sau khi thay đổi triều đại, mây tan gió nổi, trở thành đô thành, vì thế kỹ viện hưng thịnh, tổ thơm chót vót. Giai nhân nam quốc hâm mộ phong hoa thủ đô, nối nhau tới ở. Gái Ngô Việt xinh đẹp, trên đường Trường An khoe sắc khoe hương. Khảo tới nguyên do thì bắt đầu từ Trại Kim Hoa hai mươi năm trước... Lúc bấy giờ kỹ nữ phương nam gốc rễ chưa vững, chỉ ở hẻm Lý Thiết Quải, Yên Chi Hồ Đồng. Đường quanh ngõ hẹp, địa thế khó khăn. Đầm Hàn Hà về phía đông Bách Thuận Hồ Đồng, hầu như đều là căn cứ của kỹ nữ phương bắc, ranh giới rõ ràng không thể xâm phạm. Nhưng thế đã dấy lên, người tới càng nhiều... Các Thư ngụ ở phương nam, ngàn dặm cỏ bồng tụ họp. Mà người phương bắc cũng thích dáng vẻ tha thướt dịu dàng của họ, so với vẻ đẹp khỏe mạnh chất phác của kỹ nữ địa phương thì đáng yêu hơn nhiều... về sau kỹ nữ phương nam lấn dần, kỹ nữ phương bắc chịu kém. Dần dà đến nay thì đầm Hàn Hà đã không còn đất cho kỹ nữ phương bắc đặt chân, Bách Thuận Hồ Đồng, hẻm Thiểm Tây cũng là kỹ nữ phương nam chiếm Ưu thế. Duy chỉ còn vài nhà chỗ đường Vương Quản Phúc là còn kỹ nữ phương bắc ở. Như Thạch Đầu Hồ Đồng vốn dày đặc kỹ nữ phương bắc cũng đã thành nơi có người ngáy bên giường mình nằm, khách mạnh lấn chủ kể cũng lạ lùng".
Thời kỳ cực thịnh của kỹ nữ ở Bắc Kinh là vào khoảng Dân quốc năm thứ 6 thứ 7. Theo thống kê năm 1917 Bắc Kinh có 460 kỹ viện, 3.869 kỹ nữ, trong đó kỹ nữ hạng sang có 781 người, kỹ nữ hạng hai có 986 người, kỹ nữ hạng ba có 1.814 người, kỹ nữ hạng tư có 308 người. Nếu tính thêm 7.000 kỹ nữ tư xướng thì tổng số kỹ nữ ở Bắc Kinh có khoảng trên dưới 11.000 người. Lúc bấy giờ Bắc Kinh là trung tâm chính trị của toàn quốc, chính khách kéo về như mây nên nghề kỹ nữ cũng hưng thịnh dị thường. Đến năm Dân quốc thứ 16 dời thủ đô về nam, nghề kỹ nữ ở Bắc Kinh cũng sông chiều bóng xế, sa sút hẳn đi. Đến ngày 21. 11. 1949 chính quyền nhân dân thành phố Bắc Kinh đóng cửa các kỹ viện, chỉ còn có 224 kỹ viện, 1.316 kỹ nữ (152).
Thời Dân quốc nghề kỹ nữ ở Thượng Hải thịnh vượng nhất vào lúc Thượng Hải bị quân Nhật chiếm đóng. Theo Niên báo năm 1942 của chính quyền xâm lược, năm ấy kỹ viện Thượng Hải (công xướng) có hơn 3.900 nhà, nếu tính mỗi nhà có từ 8 tới 10 kỹ nữ thì tổng số kỹ nữ có trên 30.000 người. Về việc này tờ Thượng Hải thị đại quan ra ngày 1. 1. cho biết "Trăng gió vùng Tân Hộ nổi tiếng thiên hạ, kỹ nữ ở thanh lầu trẻ trung xinh đẹp, đôi mắt mơ màng, nhiều không kể xiết... Thượng Hải từ đời Đồng Trị Đạo Quang nhà Thanh trở đi, kỹ viện hưng thịnh đứng đầu Giang Nam, đường lớn lầu xanh, rèm buông viện đóng, ca vang một khúc, tiền phân mười ngàn, nuôi thành phong tục xa hoa một thời, trở thành thói quen xa xỉ ngày nay".
Nghề kỳ nữ ở Hán Khẩu, Quảng Châu, Nam Kinh, Cáp Nhĩ Tân cũng rất phát triển. Kim Trọng Hoa trong quyển Phụ nữ vấn đề đích các phương diện (Các phương diện của vấn đề phụ nữ) do Khai Minh thư điếm xuất bản tháng 6. 1934 nói "Hiện tại trong các thành thị ở nước ta có rất nhiều kỹ nữ, đó là một sự thật không cần che giấu. Ở những nơi thực hiện lệnh cấm thì tư xướng đặc biệt đông, ở những nơi nới lỏng lệnh cấm thì công xướng tư xướng cùng đông, mà ngoài công xướng tư xướng còn có rất nhiều hình thức mại dâm biến tướng và nhiều phụ nữ lấy việc bán dâm làm nghề phụ, thống kê cũng có thể thấy là một con số rất lớn. Ví dụ chỉ lấy số công xướng tư xướng mà nói, thì theo ước tính mới nhất gần đây, ở Thượng Hải đã có từ 60.000 tới 100.000, Nam Kinh có khoảng 3.000 kỹ nữ tư xướng, Bắc Bình có 2.000 kỹ nữ công xướng, số kỹ nữ công xướng ở Hán Khẩu là 735 người, mà tư xướng ở hai nơi ấy còn đông gấp mấy lần công xướng, còn các thành thị lớn nhỏ khác đều có khoảng trên dưới 1.000 kỹ nữ cả công xướng lẫn tư xướng". Trên thực tế căn cứ vào một số điều tra của các học giả thì có thành thị số kỹ nữ vượt xa những con số ấy. Như từ tháng 10. 1919 trở về trước số kỹ nữ ở Hán Khẩu có khoảng 10.500 người (trong đó công xướng 2.533, tư xướng khoảng 8.000) (153), năm 1926 số kỹ nữ ở Quảng Châu có khoảng 4.000 (trong đó công xướng 1.362, tư xướng khoảng hơn 2.600) (154).
________________________
(150) Xem thêm Bão Tổ Bảo, Xướng kỹ vấn đề (Vấn đề kỹ nữ), Thượng Hải nữ tử thư điếm, 1935, chương 3. ,
(151) Quách Châm Nhất, Trung Quốc phụ nữ vấn đề (Vấn đề phụ nữ ở Trung Quốc), tr. 133.
(152) Xem thêm Thân báo niên giám, Cam Bố Nhĩ, Bắc Bình xướng kỹ điều tra (Điều tra về kỹ nữ ở Bắc Bình), Quách Châm Nhất, Trung Quốc phụ nữ vấn đề và Bắc Kinh phong bế kỹ viện kỷ thực (Ghi chép về việc đóng cửa kỹ viện ở Bắc Kinh), Trung Quốc Hòa bình xuất bản xã, 1988.
(153), (154) Quách Châm Nhất, Trung Quốc phụ nữ vấn đề, tr. 129-130.
2. Sự hưng khởi của cuộc vận động phế xướng hiện đại
Cuộc vận động phế xướng bắt đầu từ thời kỳ phong trào văn hóa mới. Trong phong trào này, mọi người lấy việc thảo luận vấn đề trinh tiết của phụ nữ làm then chốt đề ra vấn đề phế xướng. Kế đó, năm 1918 tờ Đại lục báo ở Thượng Hải phát triển thành một loạt bài chuyên luận về tình hình kỹ nữ mắc bệnh hoa liễu, chủ trương đóng cửa kỹ viện, thu hút được sự hưởng ứng rộng rãi của toàn xã hội. Cùng lúc bấy giờ, rất nhiều báo chí cũng đua nhau đăng bài vạch trần sự nguy hại và tội ác của chế độ kỹ nữ. Ngày 27. 4. 1919, Lý Đại Chiêu có phát biểu bài Phế xướng vấn đề (Vấn đề phế xướng) trên Mỗi chu bình luận, cho rằng "Đến ngày nay, xã hội loài người vẫn có sự tồn tại của nghề mại dâm, pháp luật của quốc gia vẫn thừa nhận công xướng, đúng là một việc đáng đau xót đáng xấu hổ!". Sự tồn tại của kỹ nữ, không những "làm mất mát nghiêm trọng nhân cách của phụ nữ trong xã hội", mà còn "mở đường cho tâm lý coi thường phụ nữ, khinh rẻ phụ nữ của đàn ông", đó là "điều đại sỉ nhục của giới phụ nữ". Vì vậy ông cật lực chủ trương phế bỏ chế độ xướng kỹ, lại cho rằng có năm lý do: Một là tôn trọng nhân đạo, hai là tôn trọng đời sống tình dục, ba là bảo vệ sức khỏe chung, bốn là bảo vệ sự tự do nhân thân về mặt pháp luật, năm là bảo vệ địa vị xã hội của phụ nữ. Vậy thì làm thế nào để phế bỏ chế độ xướng kỹ? Lý Đại Chiêu chủ trương:
"Thứ nhất là cấm buôn người, thứ hai là điều tra rõ ràng hộ khẩu của kỹ nữ, không cho tiếp tục gia tăng, ba là bỏ công quỹ ra xây dựng các Viện Cảm hóa lớn, chuyên thu nhận những kỹ nữ rời bỏ kỹ viện, qua một thời gian nhất định giáo dục cho họ nghề nghiệp và tri thức cơ bản cần thiết nhất trong cuộc sống, sau đó sẽ gả chồng cho họ, thứ tư là thực hiện chế độ cưỡng bách giáo dục đối với phụ nữ, vào các trường học công lập thì nhất loạt không thu học phí. Thật ra đây đều là những phương pháp tiêu chuẩn, những biện pháp giải quyết cơ bản, mà còn không coi việc một bộ phận phụ nữ mại dâm như hiện tượng mà tổ chức xã hội về cơ bản không cải tạo được"
Bài viết này của ông đã trở thành tài liệu mang tính cương lĩnh cho cuộc vận động phế xướng hiện đại, có ảnh hưởng sâu sắc lâu dài đối với phong trào vận động phế xướng về sau. Nguyệt san Tân nhân ra số đầu tiên tháng 4. 1920 trong số thứ 2 đã đăng bài Thượng Hải dâm nghiệp vấn đề chuyên hiệu, đề xướng việc xây đựng "Phế xướng đại đồng minh". Ngày 5. 8 năm ấy, Lý Tam Vô viết bài Phế xướng vận động quản kiến đăng trên Phụ nữ tạp chí tiến thêm một bước chỉ ra rằng "Nghề mại dâm là do nền kinh tế tư hữu và chủ nghĩa tư bản tạo thành. Vậy thì nếu muốn trừ diệt tầng lớp kỹ nữ mà không tiến hành việc cải tạo xã hội kinh tế tư hữu và tư bản chủ nghĩa thì không sao làm được". Ông cho rằng "Thế giới văn minh hoàn toàn không đủ làm nguyên nhân phát sinh nghề mại dâm. Nhưng do tổ chức kinh tế đi cùng đường với thế giới văn minh quấy nhiễu, nên trở thành nguyên nhân chủ yếu củạ việc nảy sinh nghề mại dâm. Cho nên trong xã hội dân tộc cộng đồng tài sản hay đoàn thể gia tộc thì tuyệt đối không có đất cho nghề mại dâm đáng ghét nảy sinh. Chỉ có điều kiện kinh tế xã hội, tức chế độ tư hữu về ruộng đất, về tư bản vân vân mới có thể khiến nghề mại dâm dần dần phát sinh, cho nên không cải tạo ngay từ gốc rễ thì không được", nhận thức ấy vô cùng sâu sắc.
Dưới sự đề xướng lãnh đạo của những người như Lý Đại Chiêu, phong trào vận động phế xướng dấy lên mạnh mẽ. Ngày 23. 8. 1922, Nữ quyền Vận động đồng minh hội thành lập ở Bắc Bình, trong tuyên ngôn của họ đề ra rõ ràng "Cấm chỉ công xướng". Mùa xuân năm 1923, Dân quyền Vận động nữ giới đại đồng minh ở Tứ Xuyên thành lập, trong thỉnh nguyện thư mà họ gởi chính phủ có nêu ra yêu cầu "Đề cao nhân cách, Phế xướng kỹ, không cho thu thuế Hoa Quyên". Ngày 25. 8 cùng năm, Đại hội đại biểu toàn quốc lần thứ 2 của Trung Quốc xã hội chủ nghĩa Thanh niên Đoàn thông qua Quan vu thanh niên phụ nữ vận động đích quyết nghị án (Quyết nghị về việc vận động thanh niên phụ nữ) trong đó nêu ra rằng "Mục đích của phong trào phế xướng, nếu không xô đổ chủ nghĩa tư bản thì không được, mà ở Trung Quốc hiện nay, đó là con đường duy nhất đưa tới mục đích tối cao của cuộc cách mạng của quốc dân hiện nay" (155). Ngày 8. 3. 1924, Đại hội kỹ niệm ngày Quốc tế Phụ nữ ngày 8 tháng 3 lần đầu tiên của phụ nữ Trung Quốc do Hà Hương Ngưng triệu tập ở Quảng Châu đề ra khẩu hiệu "Bãi bỏ chế độ xướng kỹ". Ngày 18. 5. 1927, Phụ nữ vận động ủy viên hội Bộ chính trị của Đệ nhị lộ quân thành lập ở Thượng Hải, trong tuyên ngôn của họ đề xuất "Thay đổi các chế độ xấu xa như tỳ thiếp kỹ nữ". Mùa thu năm 1928, Bắc Bình Đặc biệt thị Phụ nữ biện hội thành lập, nêu rõ trong Công tác kế hoạch đại cương (Đại cương về kế hoạch công tác) "Về việc tuyên truyền cho phụ nữ sa ngã thì chia làm hai phương diện: 1. cần phải giải phóng phụ nữ sa ngã, 2. Vấn đề đời sống của phụ nữ sa ngã được giải phóng". Thiên Tân Đặc biệt thị Phụ nữ biện hội thành lập cùng lúc cũng đề xuất chủ trương phế bỏ chế độ xướng kỹ một cách thiết thực. Năm 1931, đại biểu phụ nữ toàn quốc đề xuất với Quốc dân hội nghị Nghiêm lệ cấm xướng án (Chủ trương nghiêm cấm nghề xướng kỹ) (156)
________________________
(155) Trung Quốc phụ nữ vận động lịch sử tư liệu (1921 - 1927) (Tư liệu lịch sử về phong trào phụ nữ ở Trung Quốc 1921 - 1927), tr. 72.
(156) Xem thêm Đàm Xã Anh, Trung Quốc phụ nữ vận động thông sử (Lịch sử phong trào phụ nữ ở Trung Quốc), Phụ nữ Hồng minh xã, 1936, dẫn lại từ Vũ Chu, Trung Quốc kỹ nữ sinh hoạt sử, tr. 301 - 302.
3. Kết thúc của nghề kỹ nữ
Trước và sau khi nước Cộng hòa Nhân dân Trung Hoa thành lập. Đảng Cộng sản Trung Quốc đã coi vấn để thủ tiêu nghề mại dâm, giải phóng kỹ nữ là một nội dung quan trọng của việc giải phóng phụ nữ, mau chóng triển khai công tác ngăn cấm việc mại dâm. Ngày 4. 1. 1948 thành phố Thạch Gia trang hạ lệnh đóng cửa kỹ viện, giải phóng 72 kỹ nữ, tháng 7. 1949 thành phố Cát Lâm hạ lệnh đóng cửa kỹ viện, giải phóng 103 kỹ nữ, ngày 21. 11. 1949 thành phố Bắc Kinh trong một đêm đóng cửa toàn bộ kỹ viện giải phóng 1.268 kỹ nữ, ngày 30. 11. 1949 thành phố Phong Phụ đóng cửa 119 kỹ viện, giải phóng 175 kỹ nữ, tháng 12. 1949 thành phố Hàng Châu đóng cửa kỹ viện, giải phóng hơn 600 kỹ nữ, từ cuối 1949 đến đầu 1950 kỹ nữ ở Tô Châu, Nam Kinh, Dương Châu, Trân Giang cũng đều được giải phóng, nối nhau đổi nghề hoàn lương, ngày 26. 6. 1951 thành phố Tây An đóng cửa kỹ viện, giải phóng 1.049 kỹ nữ, ngày 20. 11. 1951 thành phố Nam Thông đóng cửa toàn bộ kỹ viện, ngày 22. 11. 1951, thành phố Thanh Đảo đóng cửa những kỹ viện còn sót, thu dung 296 kỹ nữ, ngày 25. 11. 1951 thành phố Thượng Hải đóng cửa 72 kỹ viện còn sót, giải phóng 501 kỹ nữ, cuối 1951 thành phố Thiên Tân đóng cửa các kỹ viện còn sót, tập trung thư dung kỹ nữ, ngày 11. 9. 1952 thành phố Vũ Hán ra lệnh đóng cửa kỹ viện, thu dung 297 kỹ nữ, từ ngày 25. 11. 1952 đến 1958 thành phố Thượng Hải lại nhiều lần tiến hành ngăn cấm hoạt động mại dâm, trước sau thu dung 7.513 kỹ nữ các loại. Đến đây, chế độ xướng kỹ và hoạt động mại dâm kéo dài ở Trung Quốc mấy ngàn năm đã cơ bản tuyệt tích trên đại lục, đó là một hành động vĩ đại, làm toàn thế giới phải ngạc nhiên.
Mấy lần vận động phế bỏ xướng kỹ trước sau ngày dựng nước ấy chủ yếu có hai nội dung: một là tiêu diệt chế độ xướng kỹ, đóng cửa kỹ viện, giải phóng kỹ nữ, hai là tiến hành cải tạo và thu xếp cho kỹ nữ, giúp đỡ họ đổi nghề hoàn lương đổi mới tự lập. Về phương thức tiến hành, thì phần lớn các nơi đều căn cứ vào tình hình cụ thể mà chọn lựa cách thức thích hợp, trong đó có ba cách là lập tức ngăn cấm, từng bước ngăn cấm và liên tục ngăn cấm có ảnh hưởng lớn nhất.
Lập tức ngăn cấm thì Bắc Kinh là tiêu biểu, cách làm là đầu tiên do chính quyền làm tốt công tác điều tra và chuẩn bị ngăn cấm, sau đó trong tình hình cực kỳ bí mật, tập trung một số lượng lớn nhân lực, vật lực, tiến hành đóng cửa tất cả các kỹ viện hiện có, bắt giam thẩm vấn Lão bản, Lãnh gia của kỹ viện, thu dung toàn bộ kỹ nữ để tiến hành giáo dục và chữa bệnh. Từng bước ngăn cấm thì Thiên Tân là tiêu biểu, cách làm là đầu tiên do chính quyền tiến hành nhiều biện pháp hạn chế hoạt động của kỹ viện, đồng thời cũng dẫn dắt kỹ nữ từng bước thay đổi cuộc sống, đến lúc điều kiện đã chín muồi thì ra tay đóng cửa tất cả các kỹ viện còn sót. Liên tục ngăn cấm thì Thượng Hải là tiêu biểu, cách làm là đầu tiên chọn thời cơ phù hợp, liên tục tiến hành hoạt động ngăn cấm tệ nạn mại dâm, vừa thu dung vừa cải tạo, đến khi nào chấm dứt được mới thôi (157).
Chính sách cơ bản trong việc thủ tiêu nghề xướng kỹ, đóng cửa kỹ viện ở các địa phương đều do Đại hội đại biểu nhân dân của thành phố ấy quyết định. Như ngày 21. 11. 1949 Hội nghị Đại biểu Nhân dân các giới lần thứ 2 ở Bắc Kinh thông qua Quan vu phong bế kỹ viện đích nghị quyết (Nghị quyết về việc đóng cửa kỹ viện) nội dung chủ yếu như sau:
"Xét kỹ viện là tàn dư của chế độ dã man của kẻ thống trị và bóc lột ngày trước giày vò tinh thần và thân xác kỹ nữ, khinh rẻ nhân cách phụ nữ, làm lây nhiễm các bệnh hoa liễu, gây nguy hại rất lớn đối với sức khỏe quốc dân. Mà Lão bản Lãnh gia của kỹ viện và bọn cho vay lấy lãi lại là tàn dư phong kiến cực kỳ dã man và tàn ác. Nay căn cứ nguyện vọng của nhân dân toàn thành phố, quyết định lập tức đóng cửa tất cả các kỹ viện, tập trung tất cả Lão bản, Lãnh gia, chủ chứa để thẩm tra và xử lý, lại tập trung các kỹ nữ để huấn luyện, cải tạo tư tưởng của họ, chữa trị bệnh tật cho họ, người có gia đình có thể về thì đưa về gia đình, có đối tượng kết hôn thì giúp cho kết hôn, người không có nhà mà về, không có chồng mà lấy thì tổ chức cho học nghề, tham gia sản xuất, tịch thu tất cả tài sản của kỹ viện làm chi phí cứu tế cho phụ nữ".
Chính sách thủ tiêu nghề xướng kỹ ở Tây An, Thượng Hải, Thiên Tân đại khái giống như Bắc Kinh. Chính quyền các nơi ấy chủ yếu dùng hai cách thức để giúp đỡ giải phóng cho kỹ nữ: một là động viên và giúp đỡ kỹ nữ tự động bỏ nghề hoàn lương, một cách là thu dung kỹ nữ vào Viện (Sở) Giáo dưỡng từng bước tiến hành cải tạo và sắp xếp (158). Thông qua việc tẩy nhơ rửa bẩn, tuyệt đại đa số kỹ nữ đã đi vào cuộc sống mới, trở thành những người sống bằng sức lao động của mình.
_______________________
(157) Xem thêm Vũ Chu, Trung Quốc kỹ nữ sinh hoạt sử, tr. 350,
(156) Xem thêm Vũ Chu, Trung Quốc kỹ nữ sinh hoạt sử, tr. 356, Dương Khiết Tăng, Hạ Uyển Nam, Thượng Hải xướng kỹ cải tạo sử thoại (Giai thoại về việc cải tạo kỹ nữ ở Thượng Hải), Cục Công an Bắc Kinh, Bắc Kinh phong bế kỹ viện kỹ thực (Ghi chép về việc đóng cửa kỹ viện ở Bắc Kinh).
Không có nhận xét nào:
Đăng nhận xét