Thứ Năm, 1 tháng 12, 2016

Lịch sử kỹ nữ _ Chương 9


Chương 9. Số phận bi thảm của kỹ nữ

I. Cái chết thê thảm của kỹ nữ

1. Thảm cảnh tuẫn táng vô nhân đạo

Tuẫn táng là một hiện tượng xã hội đã từng tồn tại phổ biến trong lịch sử các nước trên thế giới, thường xuất hiện từ cuối thời kỳ xã hội nguyên thủy đến đầu thời kỳ xã hội có giai cấp. Ở Trung Quốc, thời gian lưu hành chế độ tuẫn táng dường như dài hơn các nước khác, hơn nữa ảnh hưởng cũng sâu xa hơn.

Nhìn từ tư liệu khảo cổ và thư tịch, ngay từ thời Hạ Thương, quý tộc chủ nô bắt đầu thịnh hành việc dùng kỹ nữ tuẫn táng. Lấy ngôi mộ số 1001 trong Hầu gia trang ở di chỉ thời Ân thuộc An Dương Hà Nam làm ví dụ, từng phát hiện ở đó có vài mươi bộ xương cơ thiếp. Hiện tượng tuẫn táng này phản ảnh sự áp bức của kẻ mạnh đối với kẻ yếu, "sự nô dịch của đàn ông đối với phụ nữ". Ngoài ra, quý tộc chủ nô còn thích giết nữ nô để cúng tế tổ tiên và thần linh. Các từ Chi nữ, Chi thiếp, Hựu nữ, Hựu thiếp, Dụng thiếp, Phạt thiếp, Hựu thê, Sách thê, Hựu vũ, Mão vũ, Chi cơ, Hựu như, Quyện tiểu thiếp vân vân... trong bốc từ ở di chỉ thời Ân đều là tên gọi các nữ nô tế tự (1)

Đến thời Xuân thu Chiến quốc, hiện tượng kẻ thống trị dùng kỹ nữ tuẫn táng rất phổ biến. Mặc tử, Tiết táng hạ nói "Thiên tử chư hầu tuẫn táng, nhiều thì vài trăm người, ít là vài mươi người, các quan văn võ bị chôn theo, nhiều thì vài mươi người, ít cũng vài người". Lại nói "Nay các vương công đại thần tuẫn táng... đủ cả xe ngựa, nữ nhạc". Nhìn từ nguyên tắc tuẫn táng mà đương thời gọi là "(Vua) thích người trong cung thì nữ nhạc phải chết, thích người bên ngoài thì kẻ sĩ phải chết" (2) thì trong những kẻ đáng thương ấy chắc chắn có một số kỹ nữ ca múa được chủ ngôi mộ lúc sinh tiền sủng ái. Tư liệu khảo cổ cũng chứng tỏ điều này, như mộ ở Lôi cổ Tùy huyện tỉnh Hồ Bắc, ngoài phần lớn hiện vật khai quật được là những nhạc khí bằng đồng xanh tinh xảo còn phát hiện có 21 người bị tuẫn táng, đều là con gái trẻ, trong đó có 8 người dường như là hầu thiếp, 13 người dường như là nhạc kỹ.

Kỹ nữ tuẫn táng thời Tần càng đạt tới cao trào. Năm 210 trước Công nguyên, Tần Thủy hoàng chết, "tháng 9, chôn Tần Thủy hoàng ở Ly Sơn... Nhị thế nói: Những kẻ không có con trong hậu cung của tiên đế cho ra khỏi cung thì rất bất tiện, sai chôn cả theo, số người chết rất nhiều (3). Như trên đã nói, hậu cung của Tần Thủy hoàng ngoài thê thiếp ra còn có mấy vạn nữ nhạc nổi danh và cung kỹ, vì vậy việc tuẫn táng lần này có quy mô lớn nhất trong lịch sử Trung Quốc.

Sau thời Tây Hán, hiện tượng dùng kỹ nữ tuẫn táng có giảm nhưng vẫn còn tồn tại. Như đời Hán Tuyên đế, Triệu Mậu vương Lưu Nguyên ra lệnh các nô tỳ biết đánh đàn chết theo, số bị bức tử có tất cả 16 người" (4).

Hiện tượng tuẫn táng cung kỹ hoặc gia kỹ đến thời Minh vẫn lưu hành không giảm. Minh sử, Hậu phi truyện nói "Lúc đầu Thái tổ băng hà, nhiều cung nhân phải chết theo. Trong các niên hiệu Kiến Văn, Vĩnh Lạc, những kẻ được Ưu tuất nối nhau như các nhà Trương Phụng, Lý Hành, Triệu Phúc, Trương Bích, Uông Tân đều từ các chức Thí bách phòng, Tán kỵ đới đao xá nhân trong cẩm y vệ được thăng tới chức Thiên hộ Bá hộ, đời đời thế tập, người ta gọi là "Nhà thiên nữ triều Thái tổ". Trải qua các đời Thành tổ, Nhân tông, Tuyên tông đều dùng người tuẫn táng, vua Cảnh đế khi Thành vương chết vẫn dùng lệ này. Các vương phủ đương thời đều như thế đến khi Anh tông ra di chiếu mới bắt đầu bãi bỏ.
_______________________

(1) Hồ Hậu Tuyên, Trung Quốc nô lệ xã hội đích nhân tuẫn hòa nhân tế (Thượng hạ thiên), Văn vật số 7, 8 năm 1974
(2) Quốc ngữ, Lỗ ngữ hạ.
(3) Sử ký, Tần Thủy hoàng bản ký.
(4) Hán thư, Mậu vương Nguyên truyện.


2. Sự dâm sát đáng sợ

Ngoài việc thi hành tuẫn táng vô nhân đạo đối với kỹ nữ như đã nói trên, trong lịch sử Trung Quốc còn tồn tại hàng loạt chuyện cưỡng đoạt rồi giết kỹ nữ khiến người nghe phải rùng mình.

Tào Tháo thời Tam quốc có một kỹ nữ nhan sắc tài nghệ siêu quần, nhưng Tào Tháo chê tính tình không tốt bèn tàn nhẫn giết chết (5). Thạch Sùng thời Tây Tấn mỗi lần mời khách tới nhà ăn tiệc là sai tất cả các gia kỹ xinh đẹp rót rượu hầu, nếu khách nào uống rượu không thật say liền giết ngay người kỹ nữ hầu rượu (6). Vương Khải thời Tây Tấn có lần mời bọn Vương Đôn tới làm khách trong nhà, trong tiệc sai một kỹ nữ thổi sáo, người kỹ nữ thổi hơi sai khúc điệu, Vương Khải liền đánh chết (7). Đời Đường Văn tông, kỹ nữ Trịnh Trung Thừa trong cung giỏi đánh đàn tỳ bà, vì sơ ý xúc phạm ý chỉ của hoàng đế, liền bị thắt cổ chết rồi ném xác xuống sông.

Tuy nhiên so với các hành vi bạo ngược nói trên, hình phạt "lột da" của Dương Chính thời Nam Tống phải được kể là tàn nhẫn nhất. Theo sử sách, danh tướng Dương Chính thời Nam Tống có "mấy chục cơ thiếp, đều giỏi ca múa". Nhưng Dương Chính "tính vốn tàn nhẫn, thích giết người", "cơ thiếp hơi có chuyện không vừa ý ắt dùng gậy đánh chết rồi lột da từ đầu đến chân, đóng đinh lên vách, đến khi khô cứng mới gỡ ra ném xuống sông". Số kỹ nữ bị giết như thế có tới hơn hai ba chục người, thật khiến người ta phát sợ, thảm tuyệt nhân hoàn. Thậm chí trước khi sắp chết ông ta còn sai tráng sĩ dùng dây siết cổ các kỹ nữ được sủng ái để tuẫn táng (8). Từ những hành vi bạo ngược cho đến vô cùng tàn nhẫn của vài gia chủ đã nói trên, chúng ta không khó hình dung ra số phận bi thảm của các gia kỹ.

Nhưng điều ghê rợn nhất là một số hoạn quan hoàn toàn mất hết khả năng tính dục còn ngược đãi tính dục dối với kỹ nữ. Ví dụ Vạn Lịch dã hoạch biên quyển 6, mục Hoạn tự tuyên dâm chép "Gần đây ở kinh đô có một tiểu thái giám ương bướng, lấy dương vật giả nhét vào âm đạo tiểu xướng không rút ra được, nàng bị trướng bụng mà chết, bị xử phải bồi thường. Chuyện kỳ quái trên đời cái gì không có?". Cái gọi là "tiểu xướng" ở đây chỉ kỹ nữ nhỏ ở giáo phường. Loại bi kịch thê thảm vô nhân dạo này chính phản ánh chân thực tâm lý bạo dâm và sự méo mó trong sinh hoạt tình dục của khách chơi.
_______________________

(5) Thế thuyết tân ngữ, Phẫn quyến.
(6) Thế thuyết tân ngữ, Thải xỉ.
(7) Thế thuyết tân ngữ, Thải xỉ, dẫn từ Vương Thừa tướng đức âm ký
(8) Phùng Mộng Long, Tình sử, Tình si loại.

3. Tìm cái chết để giải thoát

Từ xưa đến nay, kỹ nữ vì không chịu nổi bị lăng nhục và giày vò mà phẫn uất tự sát, hoặc uống thuốc độc, hoặc thắt cổ, hoặc nhảy xuống giếng, hoặc đập đầu vào tường, hoặc nhảy xuống lầu mà chết, không biết tất cả bao nhiêu. Chết trở thành một con đường để họ tự giải thoát khỏi những tao ngộ phi nhân, kết thúc cuộc sống dưới địa ngục.

Vụ tự sát của danh kỹ Triệu Phi Yến thời Tây Hán mang đủ tính hài kịch. Nàng vốn là kỹ nữ ca múa của chủ quý tộc Dương A Công, vì lọt vào mắt xanh của Hán Thành đế nên được triệu vào cung, ban hiệu là Chiêu nghi "Chiêu hiển kỳ nghi, thị long trọng dã. Chiêu nghi vị thị Thừa tướng, tước tỷ chư hầu vương" (Làm sáng nghi lễ, bày tỏ sự long trọng. Ngôi vị Chiêu nghi ngang với Thừa tướng, tước sánh với các vua chu hầu) (9). Từ đó Triệu Phi Yến trở thành người được sủng ái nhất trong các phi tần trong điện Chiêu Dương. Ngày Bính dần tháng 6 năm 16 trước Công nguyên (Vĩnh Thủy năm thứ 1), do Triệu Phi Yến có nhan sắc tài nghệ và cơ trí xuất chúng nên giành được thắng lợi trong cuộc đấu tranh giành sự sủng ái trong Hán cung, được Hán Thành đế lập làm hoàng hậu. Năm 7 trước Công nguyên (Tuy Hòa năm thứ 2) Hán Thành đế vì dâm dục quá độ chết trong vòng tay em gái của Triệu Phi Yến là Triệu Hợp Đức. Năm sau Hán Ai đế Lưu Hân nối ngôi, vì lúc tranh ngôi thái tử Lưu Hân từng được Triệu Phi Yến giúp đỡ nên tôn phong Triệu Phi Yến làm hoàng thái hậu, nhưng lúc bấy giờ quyền lực của Triệu thái hậu đã không còn cơ sở gì, chỉ có trên danh nghĩa. Sau khi Hán Ai đế băng hà, Hán Bình đế Lưu Thích dưới sự tôn lập của Vương Mãng là cháu của Vương thái hậu lên kế vị, không bao lâu, Hán Bình đế ban chiếu thư lên án Triệu Phi Yến "không giữ đạo làm vợ, không phụng thờ lễ nghĩa, mà lòng dạ còn độc ác như lang sói, phế truất làm thứ dân (10). Triệu Phi Yến làm hoàng hậu 16 năm, ngay sau hôm biết được tin này liền tự sát chết trong cung.

Kỹ nữ nổi danh thời Tây Tấn Lục Châu là gia kỹ của Thạch Sùng, rất được Thạch Sùng sủng ái. Thời Triệu vương Luân chuyên quyền, bè đảng Vương Luân là Tôn Tú nêu đích danh đòi Thạch Sùng phải giao Lục Châu, bị Thạch Sùng cự tuyệt, về sau Thạch Sùng bị bắt, Lục Châu bị bức nhảy xuống lầu Kim Cốc mà chết (11)

Hầu phu nhân, kỹ nữ trong cung Tùy Dạng đế. Cuối đời Tùy Dạng đế lo xây dựng lâu dài, kiến tạo "mê lâu", chọn mấy ngàn mỹ nữ trong cung cho vào ở đó. Nhưng cung nữ Hầu phu nhân dung mạo xinh đẹp tài hoa lại không được tuyển, vì vậy nàng oán hận tự thắt cổ chết. Trước lúc chết làm bài thơ Tự thương, thổ lộ việc bản thân gặp bất hạnh sau khi bị thất sủng:

"Sơ nhập thừa minh nhật, Thâm thâm báo Vị Ương.
Trường Môn thất bát tải, Vô hạ kiến quân vương.
Xuân hàn nhập cốt thanh, Độc ngọa sầu không phòng.
Táp lý bộ đình hạ, U hoài không cảm thương.
Bình nhật thân ái tích, Tự đãi khước phi thường.
Sắc mỹ phản thành khí, Mệnh bạc hà khả lường.
Quân ân thực sơ viễn, Thiếp ý tùng bàng hoàng.
Gia khởi vô cốt nhục, Thiên thân lão bắc đường.
Thử thân vô vũ dực, Hà kế xuất cao tường.
Duy mệnh thành khả trọng, Khí cát lương khả thương.
Huyền bạch chu đống thượng, Can trường như phí thang.
Dẫn cảnh hựu tự tích, Hữu nhược ty khiên trường.
Nghị nhiên tựu địa tử, Tùng thử quy minh hương (12).

(Vào cung đang buổi sáng, Ơn sâu chốn Vị Ương.
Bảy tám năm cung cấm, Không được thấy quân vương.
Xương gầy xuân lạnh run, Một mình sầu trong phòng.
Kéo dép trước đình viện, Luống u hoài cảm thương.
Bình nhật được yêu dấu, Tự nghĩ cũng phi thường.
Sắc đẹp bị ruồng bỏ, Phận bạc thật khôn lường,
Ơn vua thật xa thẳm, Ý thiếp vẫn bàng hoàng.
Há không còn cốt nhục, Đơn độc xót huyên đường.
Chẳng như chim có cánh, Làm sao vượt khỏi tường.
Vâng mệnh thật đáng trọng, Dứt tình thật đáng thương.
Dây lụa treo rường chạm, Tan nát cả can tràng.
Vươn cổ lại tự tiếc, Tơ mềm còn vấn vương.
Dốc lòng quyết ý chết, Từ nay lìa nhân gian)

Danh kỹ Trường Anh thời Đường là Lý Muội, xinh đẹp tuyệt thế, ca múa hơn người, được Tiết độ sứ Đồng Châu bỏ ra mười vạn lượng bạc mua về làm thiếp, sủng ái một thời. Về sau vì nàng chen vào việc chính sự, bị Tiết độ sứ nhốt vào trong một ngôi nhà riêng ở một nơi đơn độc, nhờ Long Châu Tiết độ sứ Trương Hầu quản thúc thay. Trong thời gian đó, Lý Muội nhiều lần bị Trương Hầu "bỡn cợt lả lơi". Lý Muội bị ô nhục, trượng phu lại lâu không tới, suốt ngày tự than thở hồng nhan bạc mệnh, thân hoa không nơi gởi gấm, tài nghệ một đời không nơi thi thố nên bi phẫn thành bệnh, lại không có ai bầu bạn chăm sóc, đau chuyện xưa xót chuyện nay, than thở đời người dằng dặc, nhân tình thế thái bạc bẽo, sau khi đau buồn tự thắt cổ chết (13).

Hàn Hương là danh kỹ Từ Châu thời Tống, "tài sắc đứng đầu một thời", rất thân thiết với con Diệp Đại tướng quân trấn thủ Từ Châu, sớm tối không rời. Diệp tướng quân chỉ có một con trai, chỉ mong y học hành làm quan, làm rạng rỡ tổ tiên, nay lại thấy y say mê gái thanh lâu, cả nhà cũng không về, vì vậy tức giận bắt Hàn Hương tới quân doanh, tặng cho một lão lính già lấy làm vợ. Hàn Hương không chịu nổi nhục nhã, tự đâm cổ chết (14).

Danh kỹ Gia Hưng thời Nguyên là La Ái Ái, xinh đẹp tuyệt trần, tài nghệ siêu quần, rất được danh sĩ Giang Nam khâm phục, gọi là La Ái Khanh để bày tỏ sự mến mộ. Năm Chí Chính thứ 16 Trương Thành đánh chiếm Tô Châu, năm sau triều đình cử Dương Sủng xuất binh trấn áp. Quan quân nhà Nguyên là Lưu Vạn hộ nhân lúc binh lính cướp phá Gia Hưng, ép La Ái Ái làm thiếp, La Ái Ái không chịu được nhục nhã nên thắt cổ tự tử.

Danh kỹ thời Minh là Vương Kiều Nhi từng giúp Đốc phủ Giang Nam chiêu hàng bọn Nụy khấu Từ Hải, nhưng sau khi thành công lại bị Đốc phủ lăng nhục, đem tặng cho tù trưởng Vĩnh Thuận. Vương Kiều Nhi căm phẫn, nhảy xuống sông tự vẫn.

Danh kỹ Trần Viên Viên thời Minh Thanh rất được Ngô Tam Quế sủng ái, trở thành Trần nương nương ở Vân Nam, tôn quý hết mức. Sau khi quân Tam Quế bại trận, Trần Viên Viên không chịu nổi việc bị quân Thanh làm nhục, miệng niệm kinh Phật, chạy theo đường tắt đến ao Hà Hoa trong am Tam Thầnh, nhẹ nhàng kết thúc một đời đau khổ.

Danh kỹ Tô Châu Trương Ý Nương, "tài nghệ đứng đầu một thời", bị khách chơi nhà giàu độc ác là Tưởng Mỗ bắt giam, Tưởng Mỗ làm nhục, bức nàng phải xuất gia làm ni cô, nhưng vẫn không buông tha, sai tuyệt đường lương thực. Ý Nương cùng quẫn, cuối cùng tự thắt cổ chết.
_______________________

(9) Cổ kim đồ thư tập thành, Tần phi bộ.
(10) Hán thư, Ngoại thích truyện.
(11) Tấn thư, Thạch Bao truyện.
(12) Toàn Hán Tam quốc Tấn Nam Bắc triều thi.
(13), (14) Mai Đỉnh Tộ, Thanh nê liên hoa ký, quyển 5.
thay đổi nội dung bởi: Xuất Quân Vô Sầu., 31-10-2012 lúc 20:56

4. Gái phong trần chết yểu

Các phụ nữ phong trần xuất thân kỹ nữ ắt phận bạc như giấy, thường chết từ lúc trẻ. Danh kỹ Tiền Đường thời Nam triều là Tô Tiểu Tiểu lúc chết chỉ mới 22 tuổi. Diệu Ngọc Kinh, Chân Nương, Trương Hồng Hồng, Quan Miến Miến, Nhan Lệnh Tân, Thôi Vi, Khấu Bạch Môn, Phàn Hương Ca, Triệu Mai Ca, Tiểu Ngọc Mai, Dương Mãi Nô, Phùng Ái Sinh vân vân phần lớn đều chết lúc trên dưới 20 tuổi. Những kỹ nữ này "tuy nổi danh mà không sống lâu", có kẻ "rạng rỡ mà chết", có kẻ "tiều tụy mà chết", có kẻ "ôm hận mà chết", khiến người ta than tiếc, phù hợp với câu danh ngôn "má hồng phận bạc" của Trung Quốc thời cổ.

Đối với những kỹ nữ gặp cảnh không may này, mọi người có mối thương cảm sâu sắc. Như Tiền Ngu Sơn có thơ thương tiếc Khấu Bạch Môn rằng:

"Tùng tàn hồng phấn niệm quân ân,
Nữ hiệp thùy tri Khấu Bạch Môn
Hoàng thổ cái quan tâm vị tử,
Hương phong nhất lũ thị phương hồn"

(Son phai phấn nhạt nhớ quân vương
Nữ hiệp ai bằng Khấu Bạch Môn
Xuống cõi tuyền đài lòng chửa chết
Gió thơm thoang thoảng ấy anh hồn).

II. Sự thống khổ của kỹ nữ

Sự thống khổ của kỹ nữ biểu hiện trên nhiều phương diện, hoặc từ sự áp bức của quan phủ hoặc do tú bà ngược đãi hoặc vì khách chơi coi khinh, hoặc do sự khinh khi của bọn lưu manh hạch sách, thậm chí có khi còn kéo dài tới cả những lúc vợ chồng tranh cãi sau khi hoàn lương lấy chồng.

1. Quan phủ áp bức

Đối với kỹ nữ mà nói, họ không những phải biểu diễn tài nghệ ca múa miễn phí cho quan mà còn luôn luôn đảm nhiệm việc làm công cụ thỏa mãn nhục dục cho kẻ thống trị. Trong thời Đường Tống có rất nhiều kỹ nữ trở thành vật hy sinh trong cuộc tranh quyền đoạt lợi của những kẻ thống trị, bị đủ cực hình tàn khốc như Sở Nhi thời Đường, Tiết Hy Đào, Nghiêm Nhụy... thời Tống.

Tình trạng bị đè nén của kỹ nữ thời Nguyên nặng nề hơn so với thời Đường Tống. Họ một sớm bước vào lầu xanh thì khó thoát khỏi bể khổ. Cho dù đóng thuế đúng pháp luật cũng khó có thể tránh khỏi bị cưỡng ép trưng dụng vào cung vua, vào phủ các quan, trở thành công cụ mua vui cho kẻ thống trị. Rất nhiều người trong số họ bị kẻ thống trị cưỡng ép và bá chiếm, khiến gia đình chia lìa. Thuận Thời Tú được gọi là Giai nhân đất Yên là một trong những người bị cưỡng bức vào cái gọi là "Trượng trung nhạc bộ năm ngàn người", tới như quan lại lớn nhỏ lại càng coi việc chơi gái mua vui như cơm bữa, động một chút là đem kỹ nữ đi bồi tiệc hầu rượu, đương thời gọi là Gọi hầu quan (Hoán quan thân), giả sử kỹ nữ nào lỡ việc hầu quan (Thất ngộ quan thân) liền bị trách mắng xử phạt.

Quan lại quý tộc, những nhà quyền thế giàu có không chỉ cậy thế đùa giỡn lăng nhục kỹ nữ mà có kẻ còn cưỡng ép họ làm thiếp thỏa mãn thú tính. Nguyên khúc chương nói "Các nhà quan lại cường hào giàu có vung tiền như rác, cưỡng ép các phụ nữ nổi tiếng giỏi ca múa làm cái mà người khác không muốn làm, biết trang điểm, trẻ tuổi về hầu hạ, ngầm bịa đặt chứng cớ mai mối, cưới làm thê thiếp". Thượng cao giám từ của Từ khúc gia thời Nguyên Lưu Thời Trung cũng vạch rõ hiện tượng này "Nhà nhà dốc ngọc trút vàng lắm tiền bạc, kẻ kẻ mổ dê chơi gái khoe phong lưu. Khách chơi khắp chốn xưng nhân vật, Sắc đẹp đa mang cưới phấn hương"


2. Chủ chứa ngược đãi

Phần lớn kỹ nữ hoàn toàn không có quyền tự do cá nhân, họ là bò dê cho người ta tùy ý mổ xẻ, không có sự đảm bảo tính mạng, tự nhiên cũng không tránh khỏi sự ngược đãi của chủ nhân hay chủ chứa.

Đa số chủ chứa trong kỹ viện đều tâm địa tàn độc thủ đoạn độc ác, quả thật có thể gọi là mặt người dạ thú. Họ chỉ cần có lợi là làm, về cơ bản mặc kệ sự sống chết của kỹ nữ. Người kỹ nữ trong "địa ngục trần gian", không thể nói tới nhân cách, chẳng qua chỉ là Cây tiền của chủ chứa. Kỹ nữ tiếp khách ít, không kiếm được tiền, hoặc chiêu đãi khách không chu đáo, hoặc đãi khách quá nhiệt tình, hoặc tham ngủ dậy trễ, hoặc không cẩn thận làm trái quy định của kỹ viện, hoặc không làm vừa lòng chủ chứa vân vân đều nhất định bị đánh đập tàn nhẫn. Đến đúng giờ, chủ chứa ngồi chễm chệ trên công đường riêng của mình thiết lập, tay cầm roi da, nghiễm nhiên như phán quan của Diêm vương, vô cùng hung ác, ra oai làm bậy. Mà kỹ nữ chỉ có thể quỳ dưới chân chủ chứa, bảo sao làm vậy, để mặc chủ chứa xử phạt thế nào cũng được. Mỗi lúc chịu xử phạt, kỹ nữ tuy bị đánh đập tàn nhẫn vẫn phải cắn răng chịu đựng, xé lòng nát ruột, khiến người ta thương tâm không chịu nổi, tai không nỡ nghe. Kỹ nữ tuy bị đánh đập tàn khốc vẫn phải nín nhịn chịu đựng, nếu dám to gan kể lại với người ngoài sẽ gặp họa sát thân. Vả lại mỗi khi kỹ nữ ra vào nhất định phải có một hai người cùng đi, theo sát giám thị, sợ họ không chịu nổi giày vò sẽ bỏ trốn.

Kỹ nữ không chỉ thường bị chủ chứa hành hạ thân xác mà về mặt sinh lý cũng bị giày vò rất lớn. Nhưng đám chủ chứa không có chút nhân tính này vì đồng tiền nên ngay cả kỳ kinh nguyệt của kỹ nữ cũng không cho họ được nghỉ ngơi (15). Vì không muốn kinh nguyệt của kỹ nữ ảnh hưởng đến tâm tình của khách chơi, chủ chứa kỹ viện tìm đủ cách làm kỹ nữ tắt kinh. Họ ép kỹ nữ uống thật nhiều giấm chua, hoặc cô đặc cho uống, hoặc đun sôi bắt xông, thủ đoạn rất dã man tàn bạo. Phương pháp này khiến kỹ nữ thường bị bệnh về huyết, đến kỳ kinh nhưng không thấy kinh nguyệt mà máu miệng máu mũi không ngừng chảy ra. Thời gian kéo dài, khả năng sinh đẻ của kỹ nữ cùng tự nhiên mất hẳn.

Sự ngược đãi của chủ chứa còn khiến đa số kỹ nữ bị bệnh về dạ dày vì ăn uống không có giờ giấc. Nhân gian địa ngục hồi 23 đã ghi chép nỗi khổ này của kỹ nữ:

"Liên Tôn thấy khách đã về hết, trả tiền rượu xong cũng định đi. Thu Ba kéo lại nói "Má má và dì Năm đi rồi, bây giờ tôi cũng không phải ra hát nữa, sao anh không ngồi cạnh tôi một lát, đợi tôi ăn cơm xong hãy đi được không?". Liên Tôn hỏi "Tại sao đến giờ cô còn chưa ăn cơm? Không đói bụng à?". Thu Ba nói "Thường như vậy, đói quen nên cũng không thấy đói nữa". Bà dì A Mao nói xen vào "Sao không đói? Tại không nói ra thôi. Đừng nói các cô từ chập tối đến nữa khuya ra hát mấy chục lần, lên lầu xuống lầu rất mệt, ngay chúng tôi ngồi yên ở nhà chờ các cô về cùng ăn cơm mà có lúc cũng đói bụng sôi òng ọc". Kha Liên Tôn nói "Thật ra chín mười giờ có thể về ăn cơm, ăn xong lại Ra cuộc cũng không muộn". Thu Ba nói "Chưa đến khuya ăn cơm không yên, thường vừa bưng chén cơm lên, một hồi chuông reo lên, người gọi tới Đường xướng, đành phải buông chén đũa để đi. Nấn ná một chút kẻ giục Ra cuộc đua nhau tới thúc hối, có ăn cũng nuốt không trôi, có lúc ăn cơm xong lau mặt rồi mới đi, khách đã về hết, rời Đường xướng trở về bị má má chửi. Vì vậy quen rồi, tóm lại dù thế nào cũng chuông đánh 12 giờ khuya mới ăn cơm".

So với kỹ nữ thành niên, cuộc sống của kỹ nữ trẻ càng bi thảm hơn. Nhân gian địa ngục hồi 75 chép lại những lời tố cáo đầy máu và nước mắt của kỹ nữ trẻ Lão ngũ Sở Quán:

"Trong kỹ viện phong khí được coi là hàng đầu, những người Bán mình họ mua về đều không bó chân, dĩ nhiên tôi cũng không bó chân. Không bó chân thì làm việc tiện hơn một chút, họ chỉ nói một câu Tay chân các ngươi thô kệch làm sao làm việc tốt được? Đáng thương thật! Tôi lúc bây giờ bất kể xuân hạ thu đông, cả ngày cứ đi chân trần. Đáng thương nhất là mùa đông, bàn chân bị nứt nẻ không đi nổi, nhưng họ vẫn không buông tha, vẫn bắt làm việc. Đêm khuya họ không ngủ, cô cũng không thể ở không. Đến sáng họ có thể ngủ nướng, tùy tiện dậy lúc nào cũng được. Cô lại đúng 7 giờ phải dậy, đổ thùng xí, mua điểm tâm, quét nhà, lau bàn ghế, cứ thế bắt cô phải làm, cô nào hơi có việc trái ý một chút thì sống dở chết dở. Lúc ấy tự mình cùng cảm thảy ba phần không giống người, bảy phần không giống quỷ, ngay việc tới trước mặt người ta cũng không dám, người ta thấy mình như vậy cũng thấy chán ghét. Ma quỷ dưới địa ngục cũng chỉ chịu khổ đến thế là cùng. Đến 12, 13 tuổi dần dần họ cho tôi giày cũ đã đi, bất luận chân lớn hay nhỏ cũng cho một hai đôi. Giày hơi lớn, tôi cũng đành phải kéo lê để đi, giày hơi nhỏ, không cách nào xỏ vào được, đành phải đạp bẹp gót giày. Năm mới gặp ngày Tết ngày lễ cũng thắt một bím tóc, khó có được một hai bộ đồ mới. Đến 14 tuổi tôi lớn lên rất nhanh, bà ta cũng dần dần nhìn tôi bằng con mắt khác. Trước mặt mọi người bà ta nhận tôi là con gái, bảo tôi đổi gọi bà ta là má. Cuối nửa năm đó bà ta đưa tôi đến Đường tử, lúc đầu thử làm một Chị lớn nhỏ, ở trong phòng hầu hạ khách, có lúc theo lên Đường xướng. Tôi cũng mơ hồ không biết Đường xướng là nơi thế nào nhưng có điều cũng cảm thấy so với quanh năm suốt tháng đi chân không, đêm không được nghỉ ngơi, suốt ngày phải làm đầu tắt mặt tối còn đỡ hơn nhiều! Đường tử là một nơi khoái hoạt, chị em lại đông, mọi người hi hi hô hô, so với trước đây thì được rảnh rỗi hơn, tôi cũng cảm thấy tốt. Năm 15 tuổi, má bèn đưa tôi đi, đổi qua Đường tử khác. Họ bắt tôi làm tiểu tiên sinh ra Đường xướng, tôi giống như lại cao thêm một bậc, có điều thân xác hoàn toàn không phải của tôi nữa. Mùa này vào Đường tử này, mùa sau lại ôm gói tới Đường tử khác. Tôi phải nghe người ta chỉ huy, ăn chén cơm Đường tử, bà ta an nhiên đòi lấy phần của bà ta".
______________________

(15) Theo quy củ của kỹ viện, lúc kỹ nữ có kinh nguyệt, chỉ được nghỉ vào ngày ra nhiều nhất, thời gian còn lại vẫn phải tiếp khách như thường. Vả lại trong hôm được nghỉ ấy, cũng chỉ là không tiếp đãi khách Ngủ lại, chứ vẫn phải Ra cuộc.

3. Khách chơi ức hiếp

Vì kỹ viện là nơi mua bán xác thịt, một khi khách chơi bỏ tiền ra thì có quyền sai khiến, chi phối quyền lợi kỹ nữ. Họ thường nói ra miệng "Lão gia có tiền mua thân xác của ngươi, thích chỗ nào thì cắt chỗ đó". Khách chơi để tìm cảm giác khoái lạc tột đỉnh thường dùng dược vật hoặc dâm cụ để tiến hành tính giao. Như khách chơi thời Minh Thanh thường dùng các phương thuốc, dâm cụ như Đàn thanh kiều, Lưu hoàng quyền, Tỏa dương hoàn, Cố tinh hoàn, Hứng dương hoàn, Yết bị hương và Đằng tân. Điều này đúng như kỹ nữ Kim Chung Nhi nói "Đem xương thịt toàn thân thí cả ra, cho bọn họ đêm đêm giày vò" (16). Kim Bình Mai hồi 59 tả cảnh Tây Môn Khánh uống thuốc cường dương giao hoan với kỹ nữ Trịnh Ái Nguyệt, sau khi Tây Môn Khánh uống thuốc, Trịnh Ái Nguyệt chau mày cố chịu đựng, không chịu nổi vì quá to, liên tiếp van xin. Nhưng Tây Môn Khánh "có cảm giác lâng lâng bay bổng, cứ thế làm tới, khôn xiết vui suớng". Từ đó đủ thấy khoái cảm của khách chơi được xây dựng trên sự đau đớn xác thịt của kỹ nữ.

Không chỉ vậy, một số khách chơi khi nổi cơn cuồng dâm thường thi hành ngược đãi tính dục với kỹ nữ. Họ thông qua việc đấm, đá, cắn, cào, đánh roi kỹ nữ để phát tiết sự dâm dục, hiện tượng này rất thường thấy trong lịch sử. Ở đây nêu ra hai ví dụ về cách ngược đãi tính dục bằng roi vọt.

Hầu tinh lục của Triệu Đức Lân đời Tống chép:

"Thái thú Tuyên Thành Lã Sĩ Long rất thích vì một tội nhỏ mà phạt đánh trượng các ca kỹ trong doanh, về sau trong nhạc tịch gặp được một kỹ nữ, tên là Lệ Hoa, giỏi ca hát, nổi tiếng ở Giang Nam, Sĩ Long rất yêu mến. Một hôm, lại định đánh gậy quan kỹ, kỹ nữ khóc nói: Tôi không dám tránh tội, chỉ sợ người mới tới không yên tâm ở lại thôi. Sĩ Long cười mà tha" .

Du Việt thời Thanh trong Hữu đài tiên quán bút kỹ chép:

"Đời Càn Long có Mỗ Giáp được phong chức Huyện úy tới làm việc ở Vân Nam, chưa đầy một năm đã chết, không có con, chỉ có một vợ, một em vợ, một đầy tớ và một bà vú. Ở đó không bao lâu, em vợ cũng chết, đầy tớ và bà vú bỏ đi hết, vợ còn trẻ đẹp ở nhờ nhà dân, lâu quá không có gì ăn, đi giặt quần áo thuê cho người ta để sống, mười ngón tay rướm máu vẫn không tránh khỏi đói rét. Có bà già hàng xóm chuyên làm môi giới cho quan, một hôm qua nói với nàng: Sao tự làm khổ mình như vậy? Nay ta có một cách, có thể tạm qua cơn đói rét, có thể làm theo không? Người đàn bà hỏi cách nào, bà già nói: Quan huyện mới trẻ tuổi may mắn thành đạt, lại hâm mộ Đạo học, thích đánh các kỹ nữ, lúc đánh ắt lột hết quần áo, kỹ nữ lấy làm nhục nhã, bỏ ra nhiều tiền xin tha không được, bèn lấy nhiều tiền tìm người chịu đòn thay cũng không ai chịu làm, nếu có thể chịu đòn thay họ, tôi sẽ hẹn với các kỹ nữ, chịu một gậy thì được một ngàn đồng, người trong dinh đều được kỹ nữ hối lộ, ắt là đánh đập nhẹ tay, vả lại thân xác thì đúng nhưng tên họ thì sai, cũng không làm nhục người dưới suối vàng. Người đàn bà vì nghèo thất chí, bèn theo kế ấy. Từ đó trở đi trong huyện có kỹ nữ nào bị giải lên quan, đều do bà già ấy giới thiệu người đàn bà chịu đòn thay, đám nha dịch trong huyện đều biết rõ, đều cười người đàn bà ngu xuẩn vô sỉ. Nhưng người đàn bà nhờ đó dành dụm được hơn hai trăm lượng vàng, đưa linh cữu chồng về quê chôn cất".

Trong lịch sử Trung Quốc còn có khách chơi sử dụng cách thức để bức hại kỹ nữ bằng cái gọi là Phong lưu trận, Nhục bình phong, Kỹ vi, Noãn thủ, Nhục đài bàn... Thân vương Hải thời Đường gặp ngày mùa đông đòi kỹ nữ ngồi vây xung quanh mình để cản khí lạnh, gọi là Màn kỹ nữ (Kỹ vi) (17). Kỳ vương Thiếu thời Đường hiếu sắc, mỗi khi đến mùa đông giá lạnh, không chịu sưởi lửa cho ấm tay mà áp tay vào ngực kỹ nữ, xoa bóp da thịt, gọi là Sưởi tay (Noãn thủ) (18). Tôn Thịnh thời Nam Tống làm quan tới chức Tư không, mỗi khi ăn không bày bàn ghế, sai các gia kỹ mỗi người bưng một món đứng quanh hầu hạ, gọi là Mâm cơm thịt (Nhục đài bàn) (19). Lúc Đường Minh hoàng và Dương Quý phi yến ẩm uống rượu, thường sai Phi tử thống lĩnh cung kỹ hơn trăm người, mình thống lĩnh hơn trăm tiểu thái giám, xếp thành hai hàng ở trong Dịch đình, gọi là Phong lưu trận, giao đấu qua lại làm vui" (20). Nghiêm Thế Phồn thời Minh càng hoang đường hơn, lão chơi cờ Song lục mà không cần động tay, dùng nệm gấm để dệt thành bàn cờ, bảo 32 gia kỹ đứng theo vị trí quân cờ khác nhau, lão hô quân nào tiến hoặc lùi, các kỹ nữ liền vâng dạ chạy đến vị trí đó, gọi là Song lục thịt (Nhục Song lục), lão khạc đờm cũng không dùng ống nhổ mà sai gia kỹ há miệng ra hứng, nên gọi là ống nhổ thơm (Hương thóa mãnh).
________________________
(16) Lục đã tiên tông, hồi 54
(17) Vương Nhân Dụ, Khai Nguyên Thiên Bảo di sự, Xoa tiểu chí
(18) Khai Nguyên Thiên Bảo di sự.
(19) Xoa tiểu chí
(20) Khai Nguyên Thiên Bảo di sự

4. Lưu manh hạch sách

Kỹ nữ có quan hệ vô cùng mật thiết với lưu manh xã hội đen, đây không chỉ vì đại đa số kỹ viện đều do lưu manh mở ra, mà họ còn là "thần bảo hộ" của kỹ nữ. Kỹ nữ cần nhờ lưu manh bảo hộ vì thân cô thế yếu, tính mạng không hề được đảm bảo, thường phải nhờ họ giúp đỡ, lấy họ làm chỗ nương tựa, ứng phó với muôn vàn phiền phức không thể tránh khỏi như quan địa phương gây khó dễ, khách chơi phá phách vân vân. Thượng Hải hắc mạc hối biên của Tiền Khá Sinh chép:

"Kỹ viện gà lẻ phải dựa vào một ông trùm (Đại bài đầu) làm bùa hộ mệnh, nếu không thì không thể đứng được, như lôi kéo khách ngoài đường là phạm pháp, theo lệ cũ phải bắt vào phòng Tuần bổ phạt một đồng bạc, theo luật mới ban hành năm ngoái sau khi bị bắt vào phòng Tuần bổ giữ lại một đêm, sáng hôm sau giải lên công đường phạt từ năm đến mười đồng, nhưng nếu có ông trùm thì không bị bắt" (21)

Cái gọi là "ông trùm" ở đây tức thủ lĩnh lưu manh bang hội. Đương nhiên, kỹ nữ mời bọn lưu manh ác bá đảm nhiệm vai trò chủ đạo, che chở nghề kỹ nữ phải trả một cái giá rất đắt. Có rất nhiều lưu manh ác bá thường thừa cơ hạch sách lường gạt để lấy tiền mồ hôi nước mắt của kỹ nữ, ngồi giữa thu lợi. Cửu vĩ quỵ hồi 90 đã miêu tả tình trạng này rất sinh động.

Nguyên quy củ của vùng Tô Châu, người đứng đầu Đường tử đứng ra mở bảng hiệu, thường có rất nhiều lưu manh địa phương tìm tới để kiếm chác. Chủ kỹ viện thấy bọn lưu manh này ắt phải đưa vài đồng hay phải ngon ngọt với họ, họ mới chịu bỏ đi, Nếu không họ sẽ đập phá kỹ viện, đắc tội với khách. Những khách này đều là người có gia đình, thấy bọn lưu manh kia làm sao không sợ? Dĩ nhiên tất cả bị dọa đều sẽ không dám tới nữa. Bọn lưu manh này luôn luôn liều mạng náo loạn, quậy phá tới mức trời long đất lở, nhất định phải có tiền mới chịu thôi. Ngoài các Đường tử trong tô giới mà chúng sợ bị Tuần bổ bắt nên không dám tới quậy phá, những nhà Đường tử còn lại trong thành ngoài thành đều là chén cơm manh áo của chúng. Chủ chứa gặp bọn lưu manh này không ai không sợ run bần bật, không những không dám có chút đắc tội mà còn phải vui vẻ cho qua chuyện. Nếu là tư xướng Cửa khép hờ, vốn không có bao nhiêu khách, nếu bọn lưu manh không biết thì thôi, chứ nếu bị chúng đánh hơi thấy thì nhất định sẽ dẫn mấy người đến gây chuyện, dọa dẫm khách để lấy tiền.

Lại như Hải thượng hoa mỵ ảnh hồi 20 nói:

"Theo phong tục Thượng Hải, thân xác kẻ làm kỹ nữ đều rơi vào tay Bả thế. Đám Bả thế này mười người có đến chín kẻ không tốt, vừa muốn ăn không, vừa muốn sai khiến, phải luôn luôn kính cẩn vâng lời, nếu có chút gì không vừa ý sẽ thình ***h trở mặt, làm chuyện tàn ác, không ai chịu nổi. Nếu không rơi vào tay Bả thế, thì người này muốn thân thiết, người kia sẽ phá bĩnh, làm ầm ĩ lên. Hiện nay xuất hiện một bọn Bả thế, ba tên thành bầy, năm gã thành đảng, diễu võ dương oai, không biết độc ác tới mức nào, tới đâu cũng muốn uống xù hút quỵt".

Quá đáng hơn, một số ăn mày cùng đường cùng tìm tới kỹ nữ hăm dọa đòi tiền. Như gã ăn mày Dương Ma Tử trong Nhân gian địa ngục, "Trong Đường tử không ai không sợ y, cũng không kỹ viện nào không ghét y, nhưng không có cách nào bắt y. Y nghèo xác xơ nên chẳng sợ ai cả. Anh không đắc tội với y, y cũng tìm đến anh, nếu muốn đắc tội với y nữa, trong miệng y không từ ai, bất cứ lời gì cũng chửi ra được. Nếu chửi đã miệng thì cũng thôi, lỡ mà kết oán thù với y, trên đường trong hẻm y sẽ giở trò ma để anh nếm mùi nhục nhã trước, bị y ám hại". Vì thế kỹ nữ thấy y tìm đến cửa, phải đưa cho y một ít tiền tiêu.

Ngoài việc hạch sách tiền bạc, bọn lưu manh này còn muốn giày vò kỹ nữ, tìm cách chiếm hữu họ. Thượng Hải hắc mạc có chép lại chuyện gọi là "Diệu pháp chiếm đoạt kỹ nữ của bọn lưu manh":

"Loạn nhân (tức lưu manh) là người ăn mặc tiêu pha đều dựa vào kỹ nữ đứng đường. Họ muốn lợi dụng kỹ nữ nào, thì đầu tiên phải thăm dò rõ xem kỹ nữ là Chiết trướng theo việc hay Áp trướng... Lưu manh muốn giở trò với kỹ nữ Chiết trướng, đầu tiên nhất định dùng thủ đoạn lúc mềm lúc cứng, cho biết lợi hại tới cưỡng bức dụ dỗ kỹ nữ ấy cho rơi vào vò của y. Hễ kỹ nữ chịu theo thì y liền giao ước với chủ chứa kỹ viện ấy, trước tiên mượn mấy chục đồng, thanh toán tiền bạc thay kỹ nữ. Trong lúc chuyền tay ấy kỹ nữ đã là sở hữu cửa lưu manh. Như vậy tiền kỹ nữ lấy được hàng tháng đều cung cấp cho lưu manh phung phí, có chút gì không vừa ý thì tay đấm chân đá".

Có chuyện như vậy, nên tác giả sách ấy cảm thán nói "Than ôi! Thân làm kỹ nữ, như bị đày xuống địa ngục, hiện phải chịu sự đè nén đày đọa của bọn ác ma, đúng là đến muôn kiếp cũng không sao thoát ra được. Nay kéo bức màn đen ấy ra, không kìm được vì vậy mà chạnh lòng thương xót cho họ".
_______________________

(21) Thượng Hải hắc mạc hối biên, tập 2, quyển 8, trang 3

III. Lối thoát của kỹ nữ

1. Hoàn lương lấy chồng

Cái gọi là "hoàn lương" là chỉ người kỹ nữ thoát khỏi cảnh đời cũ chuộc mình lấy người lương thiện. Thoát tịch, còn gọi là lạc tịch, tức xóa tên trong sổ nhạc hộ của quan

a) Điều kiện kỹ nữ thoát tịch hoàn lương.

Kỹ nữ thoát tịch, ắt phải phù hợp với những điều kiện sau:

Một là tuổi cao thoát tịch. Chu Hy trong Án đường Trọng Hữu đệ tam trạng viết "Trọng Hữu ưa thích danh kỹ Nghiêm Nhụy, muốn đưa về, bèn giả nói là già, xóa tên nàng trong sổ". Từ đó có thể thấy kỹ nữ khi tuổi cao sắc kém có thể hoàn lương.

Hai là dùng tiền chuộc mình. Như quan kỹ thời Tống muốn lạc tịch, ắt phải tốn rất nhiều vàng bạc mới thoát tịch được. Tống bị loại sao nói "Phạm Văn Chính công làm thái thú quận Phiên Dương, lập ra Khánh Sóc đường, trong kỹ tịch có kỹ nữ Tiểu Hoàn còn nhỏ, ông thích nàng ấy, lúc ra đi gởi Ngụy Giới một bài thơ rằng

"Khánh Sóc đường tiền hoa tự tài,
Tiện huề hoa khứ vị tằng khai,
Niên niên trường hữu biệt ly hận,
Dĩ thác Đông phong cán đáng lai"

(Trước sảnh vun trồng một khóm hoa,
Hoa còn chưa nở đã đi xa,
Năm liền mang mãi hờn ly biệt,
Đem ý xuân về gởi gió xa).

Thời Nguyên cũng thế, như vở Tiểu tôn đồ màn 3 "Đợi tiểu sinh kiếm nhiều vàng bạc châu báu, tới quan ty trên dưới đưa ra, đưa nương tử ra sổ hoàn lương". Các kỹ nữ ở thành thị thường theo cách dùng tiền chuộc mình. Như Trần Nguyên Kiều thời Nguyên yêu kỹ nữ Vương Xảo Nhi, đưa nhiều vàng cho chủ chứa, mới lấy được nàng làm thiếp. Sĩ nhân Thái Như Hoành cuối thời Minh bỏ ra 3.000 lượng vàng mới được cưới danh kỹ Kim Lăng là Vương Nguyệt về thành thân (22). Những chuyện loại này, không sao kể xiết.

Nhưng kỹ nữ muốn thoát tịch hoàn lương không phải chuyện dễ. Điều tối cần thiết của người trong kỹ viện chính là vấn đề thân thể, nếu như là loại tự do bản thân, nhất thiết Ịà điều hay, nếu là loại thân phận Trừ nợ hoặc Gán nợ, thì rất phiền phức. Muốn thoát ly quan hệ, khôi phục tự do rất không dễ, nhất định phải tốn một món tiền lớn mới có kết quả.

Đầu tiên, ắt phải giải quyết vấn đề phí tổn chuộc mình của kỹ nữ. Theo quy củ của kỹ viện, phàm ai muốn chuộc thân phải trả tiền gấp đôi giá lúc đầu chủ chứa mua. Ví dụ lúc đầu mua là 400 đồng, ắt phải bỏ ra 800 đồng để chuộc. Lúc ấy chủ chứa thường ra sức làm tiền. Như trong tiểu thuyết Chàng bán dầu riêng chiếm ả hoa khôi kể chuyện lúc Mỹ Nương chuộc thân, chủ chứa má Chín Vương nói "Trong nghề của chúng ta chỉ có mua rẻ chứ không có bán rẻ. Huống hồ con Mỹ vài năm nay nổi tiếng ở Lâm An, ai không biết là hoa khôi nương tử, chẳng lẽ ba bốn trăm lượng là đem nó đi được sao? ít ra cũng phải một ngàn lượng mới được". Câu nói này rất điển hình, phản ảnh đầy đủ tâm lý tham lam không chán của chủ chứa. Trước số tiền chuộc rất cao ấy, rất ít người bỏ tiền ra được nên kỹ nữ rất ít có cơ hội chuộc mình.

Kế đó, ắt phải tìm một hảo hộ thủ chịu chuộc mình cho kỹ nữ. Trong lịch sử, đa số người bỏ tiền ra là thương nhân thân hào và gia đình quan lại, nhưng bọn họ ai tình nguyện bỏ ra số tiền lớn để lấy loại đàn bà tàn hoa bại liễu, không biết làm sao để sống qua ngày? Ở đây có cách, một số kỹ nữ khôn ngoan sớm bắt đầu qua mặt chủ chứa lén lút dành dụm, nhân lúc còn xuân cố gắng tìm kiếm, gặp được người tốt có thể nương tựa suốt đời thì sẽ chuộc mình hoàn lương, ra khỏi hầm lửa. Đây chính là cách hoàn lương lấy chồng kiểu Bù thêm (Đảo thiếp) thông thường trong kỹ nữ. Như Vương Mỹ Nương trong Tỉnh thế hằng ngôn quyển 3, truyện Mại du lang độc chiếm hoa khôi thì "chỉ vì chuyện hoàn lương đã tích góp trước vài món, tạm gởi ở ngoài", về sau, phí chuộc thân "ngàn vàng" của chủ chứa má Chín Vương đặt ra, toàn do Vương Mỹ Nương bỏ ra.

Nhưng chủ chứa không khinh dị để kỹ nữ hoàn lương nhất là lúc kỹ nữ đang đắt khách họ sẽ lập tức đề phòng ngăn chặn kỹ nữ phát sinh ý niệm hoàn lương, rất sợ khách chơi và một kỹ nữ nào đó trong kỹ viện quá thân thiết. Vì nếu một sớm có chuyện ấy, kỹ nữ sẽ khó tránh khỏi nảy ra nguyện vọng theo khách hoàn lương, cắt đứt đường kiếm tiền của chủ chứa, gây ra ảnh hưởng tiêu cực trong kỹ viện. Một khi gặp tình huống loại này, chủ chứa sẽ bức bách kỹ nữ từ chối khách, nếu không có kết quả thì sai bọn lưu manh họ nuôi tới hăm dọa người khách ấy, khiến y không dám tới cửa nữa (23).

Đối với việc này, kỹ nữ sợ nhất là nói muốn lấy chồng. "Lấy được thì không sao, lấy không được thì nhất định khách đồn đãi ra sẽ không ai tới, chịu nạn không nhỏ (24). Cho dù phải hoàn lương lấy chồng cũng bí mật tiến hành, sau khi định mưu kế xong thường là xuất kỳ bất ý, làm chuyện bất ngờ, nhất định không bao giờ dán thiếp thông báo cho khách chơi biết.
_______________________

(22) Bản kiều tạp ký
(23) Ví dụ khu vực phía bắc thời cận đại gọi loại lưu manh đánh mướn này là "Dao bì", vì họ đều không có nghề nghiệp đàng hoàng, suốt ngày cứ la cà ở các kỹ viện, chuyên lừa dối hiếp đáp lấy tiền mồ hôi nước mắt của kỹ nữ, nên người ta còn gọi là "Hỗn hỗn nhi".
(24) Tục Hải thượng phồn hoa mộng, hồi 26, Thanh nê liên hoa ký, quyển 4

b) Cách thức hoàn lương.

Kỹ nữ hoàn lương có mấy bậc không giống nhau. Có hoàn lương thật, có hoàn lương giả, có hoàn lương khổ, có hoàn lương sướng, có hoàn lương nhân cơ hội tốt, có hoàn lương bất đắt dĩ, có hoàn lương trọn vẹn, có hoàn lương không trọn vẹn. Rốt lại những cách hoàn lương này có        gì khác nhau? Về điều này tiểu thuyết gia thời Minh Phùng          Mộng Long trong Tỉnh thế hằng ngôn, quyển 3, Chàng bán dầu riêng chiếm ả hoa khôi đã miêu tả rất cặn kẽ nhưng sinh động, ở đây không ngại gì dài dòng mà chép ra:

"Thế nào là hoàn lương thật? Phàm tài tử ắt phải có giai nhân, giai nhân ắt cần có tài tử, mới thành giai ngẫu. Nhưng phàm việc hay thì khó thành, thường cầu không được. Nếu may mắn tương phùng, kẻ muốn người thích, chia cắt không rời, một người muốn cưới, một người muốn lấy, như con đối đối, chết cũng không rời nhau. Đó là hoàn lương thật. Thế nào là hoàn lương giả? Có con em nhà giàu yêu tiểu nương, tiểu nương lại không yêu y. Lòng vốn không muốn lấy y, chỉ đem chữ cưới làm y nóng lòng mà vung tiền ra. Đến khi đã giao hẹn xong, có hối thúc cũng không chịu cưới. Lại có bọn con em nhà giàu si mê, biết lòng dạ tiểu nương không ưng y nhưng vẫn cứ cưới về. Chồng một món tiền lớn, làm chủ chứa nảy lòng tham, không sợ tiểu nương không theo. Miễn cưỡng vào cửa, trong lòng không muốn, cố ý không giữ gia quy. Nhỏ thì bừa bãi phóng túng, lớn thì công nhiên ngoại tình. Người ta cũng không chứa được, nhiều thì một năm, ít thì sáu tháng cho ra khỏi cửa, lại làm kỹ nữ. Chỉ lấy hai chữ hoàn lương làm cớ kiếm tiền, như thế gọi là hoàn lương giả. Thế nào là hoàn lương khổ? Tất cả bọn tử đệ yêu tiểu nương, tiểu nương không yêu họ, lại bị họ dùng thế lực khinh khi. Chủ chứa sợ tai họa, tự ý thỏa thuận. Tiểu nương thân làm kỹ nữ không thể tự chủ, đành phải nuốt lệ làm theo. Một khi bước vào, cửa hầu sâu như bể, gia pháp lại nghiêm, không ngẩng đầu lên được. Nửa thiếp nửa tỳ, nhịn nhục qua ngày. Đó là hoàn lương khổ. Thế nào là hoàn lương sướng? Tiểu nương đang lúc chọn người, ngẫu nhiên quen biết một người nhà giàu. Thấy y tính tình ôn hòa, gia sản sung túc, vả lại vợ lớn hiền lành, không có con cái, chỉ mong ngày sau được theo về, sinh con cho y thì cũng có thân phận chủ mẫu. Đem mong muốn ấy lấy y, mong rằng hiện tại thoát khỏi cảnh khổ, ngày sau nở mặt với đời. Đây gọi là hoàn lương sướng. Thế nào là hoàn lương nhân cơ hội tốt? Người làm tiểu nương phong hoa tuyết nguyệt đầy đủ đã quen, nhân lúc đang nổi tiếng, nhiều người đeo đuổi, tùy mình chọn lựa một người chồng thật vừa ý, liền nắm lấy thời cơ hoàn lương cho sớm, không đến nỗi bị người ta khinh rẻ. Đó là hoàn lương nhân cơ hội tốt. Thế nào là hoàn lương bất đắc dĩ? Người làm tiểu nương vốn không có ý hoàn lương, hoặc bị quan lại bức bách, hoặc bị bọn ngang ngược khinh rẻ, hoặc vì mắc nợ quá nhiều, trong tương lai không trả nổi, bèn làm bừa đi, bất kể tốt xấu, lấy chồng được là lấy, bán rẻ cho xong, tìm cách ẩn thân, đó là hoàn lương bất đắc dĩ. Thế nào là hoàn lương trọn vẹn? Tiểu nương lúc dứng tuổi, từng trải sóng gió, vừa khéo gặp được người lớn tuổi cô độc, đôi bên tâm đầu ý hợp, chắp nối với nhau, chung sống đến trọn đời, đó là gọi là hoàn lương trọn vẹn. Thế nào là hoàn lương không trọn vẹn? Tất cả người mê kẻ thích, nhiệt tình theo ý, lại chỉ là ham thích nhất thời, chưa hề tính toán chuyện lâu dài. Hoặc giả bậc trưởng bối không đồng ý, hoặc giả vợ lớn ghen ghét, làm ầm lên mấy phen, trả lại kỹ viện, đòi lại đủ tiền. Lại có người gia đạo nghèo khó, hoặc không nuôi được, chịu khổ giữ tiết không được, bước ra làm lại nghề cũ, đó là hoàn lương không trọn vẹn".

Đoạn trên tuy là lời của má Tư Lưu, nhưng đã giải thích rất thấu đáo việc hoàn lương.

c) Kết cục sau khi kỹ nữ hoàn lương.

Từ tư liệu sử sách mà nhìn thì phải suy tôn em gái Lý Diên Niên, ca kỹ thời Tây Hán là người kỹ nữ may mắn nhất. Nàng nhờ tài sắc siêu quần được vào cung, được Hán Vũ đế phong làm phu nhân, rất sủng ái một thời, sau khi chết lại được truy phong là Hiếu Vũ hoàng hậu, lưu danh sử sách.

Kỹ nữ Biện thị ở Tiêu quận thời Tào Ngụy cũng có số phận rất may mắn. Nàng vì được Tào Tháo sủng ái nên trở thành Vương hậu. Sau khi Tào Phi lên ngôi, tôn làm Hoàng thái hậu.

Ngoài ra Tiết thị là tần phi của Thế tông thời Bắc Tề, Mao phu nhân, Bành phu nhân... của Hậu chủ mà sử sách ghi chép cũng đều là kỹ nữ được đưa vào cung, hưởng vinh hoa phú quý.

Kết cục của Lý Quế thời Đường và Lương Hồng Ngọc thời Tống cũng rất hoàn mỹ. Lý Quế là danh kỹ Trường An, lúc ân khách Trịnh Sinh hết tiền bị đuổi ra ăn xin trên đường, nàng chân tình giúp đỡ Trịnh Sinh cầu công danh, cha Trịnh Sinh làm tới chức Kiếm Nam Thái phỏng sứ cảm động, cuối cùng thành "mối duyên Tần Tấn", về sau Trịnh Sinh làm quan lớn, Lý Quế cũng nhờ đó được phong là Thiên Quốc phu nhân (25)

Lương Hồng Ngọc là danh kỹ ở Kinh Khẩu, thấy công tử Hàn Thế Trung mắc nạn khí độ phi phàm, "bèn mời tới nhà, thết đãi cơm rượu, vui vẻ suốt đêm, thâm giao đính ước tặng cho vàng lụa, ước hẹn làm vợ chồng". Sau Hàn Thế Trung lập được quân công, được phong là Kỳ vương, trở thành danh tướng, Lương Hồng Ngọc nhờ đó được phong là An Quốc phu nhân. Nàng từng giúp chồng đại phá quân Kim ở Hoàng Thiên Đãng, suýt bắt được Ngột Truật, trở thành hào kiệt trong nữ lưu, oai chấn nước địch, danh vang thiên hạ (26).

Nhưng các kỹ nữ trở thành phu nhân trong lịch sử Trung Quốc có thể nói như lông phượng sùng lân, vô cùng hiếm có, còn tuyệt đại đa số là bị kẻ có thế có tiền mua về làm thiếp. Một là để làm vật trang điểm trong nhà, hai là họ "đón kẻ có tài về hầu rượu", ba là để thỏa mãn xác thịt, sinh con nối dõi.

Số người lấy kỹ nữ phần đông là thương nhân, vì tất cả họ có thực lực kinh tế khá mạnh. Ngũ tạp trở của Tạ Triệu Chiết nói "Những cự phú xưng hùng thi Giang Nam có Tân An, Giang Bắc có Sơn Hữu. Đại thương nhân Tân An buôn cá và muối, tiền bạc có tới hàng trăm vạn. Những kẻ có hai ba mươi vạn là bậc giàu vừa. Ở Sơn Hữu thì có kẻ buôn muối, có kẻ vận tải buôn bán, có kẻ buôn thóc, còn giàu hơn cả Tân An. Người Tân An xa xỉ mà người Sơn Hữu dè xẻn. Người Tân An ăn mặc rất bủn xỉn, cháo trắng với chao cũng vui vẻ ăn no một bữa. Duy trong việc cưới thiếp, chơi gái và kiện tụng thì vung tiền như rác" (27). Lý Mộng Dương bàn về thương nhân buôn muối ở Dương Châu thời Minh nói "Những nhà buôn hiện nay... tàng trữ các kỹ thiếp giỏi ca múa và những đồ quý báu, lấy đó kết giao với các nhà giàu có để nhờ họ che chở" (28). Kỹ nữ tuy đối với thương nhân "trọng lợi khinh ly biệt" không có hảo cảm, càng không thể nói chuyện tình yêu chân chính, nhưng ngoài cách ấy ra thì còn gì để lựa chọn? Nhan sắc tàn phai, tuổi đã cao, trước cửa vắng người, ngựa xe thưa thớt, thường xuyên ảnh hưởng đến tiền đồ và số phận của họ. Vì vậy, họ cũng chỉ có thể tuân theo sự an bài của số phận làm lẽ thương nhân, như thế vẫn tốt hơn là ngồi trong hầm lửa. Nhưng sau khi họ làm thiếp thương nhân, không bao lâu thì bị thương nhân nhìn kiểu thành kiến, lạt lẽo, vứt bỏ một cách vô tình, đây là vấn đề mang tính xã hội rất phổ biến trong lịch sử, như Bạch Cư Dị trong Tỳ bà hành viết:

"Tự ngôn bản thị kinh thành nữ,
Gia tại Hà Mô lăng hạ trú.
Thập tam học đắc tỳ bà thành,
Danh thuộc giáo phường đệ nhất bộ.
Khúc bãi tằng giao Thiện Tài phục,
Trang thành mỗi bị Thu Nương đố.
Ngủ Lăng niên thiếu tranh triền đầu,
Nhất khúc hồng tiêu bất tri số.
Điền đầu ngân tì kích tiết toái,
Huyết sắc la quần phiên tửu ô.
Kim niên hoan tiếu phục minh niên,
Thu nguyệt xuân phong đẳng nhàn độ.
Đệ tẩu tòng quân, a di tử,
Mộ khứ triêu lai nhan sắc cố,
Môn tiền lãnh lạc xa mã hy,
Lão đại giá tác thương nhân phụ,
Thương nhân trọng lợi khinh biệt ly,
Tiền nguyệt Phù Lương mãi trà khứ
Khứ lai giang khẩu thủ không thuyền,
Nhiễu thuyền nguyệt minh giang thủy hàn
Dạ thâm hốt mộng thiếu niên sự,
Mộng đề trang lệ hồng lan can.

(Tự nói vốn là người kẻ chợ
Hà Mô cồn ấy vẫn cư ngụ
Mười ba đã giỏi đàn tỳ bà
Tên thuộc Giáo phường đệ nhất bộ.
Cung bậc thầy đàn chịu kém phần
Trang điểm chị em ghen tốt số
Thiếu niên Ngũ Lăng tranh thưởng tài
Một khúc bao nhiêu người mến mộ.
Lược bạc đánh nhịp gãy tan tành
Quần hồng sắc rượu vương hoen ố
Năm nay vui vẻ lại năm sau,
Gió xuân trăng thu vèo mấy độ
Em trai đi thú dì qua đời
Tháng ngày nhan sắc khó như cũ
Trước sân quạnh vắng ngựa xe thưa
Già cùng lái buôn kết phu phụ
Lái buôn trọng lợi khinh biệt ly,
Tháng trước buôn trà lên xứ nọ
Trở về bến vắng giữ thuyền không
Quanh thuyền trăng sáng nước linh lung
Đêm khuya chợt mộng chuyện thời trẻ,
Bật khóc lan can lệ nhuốm hồng)

Đoạn thơ chính đã miêu tả sinh động cảnh vinh dự vẻ vang ngày xưa và cảnh tượng cô quạnh thê lương ngày nay của kỹ nữ ấy. Bài La Hống khúc của danh kỹ Lưu Thái Xuân thời Đường cũng phản ảnh sự thống khổ tinh thần và cảnh ngộ bi thảm của kỹ nữ sau khi lấy thương nhân, thơ rằng

"Bất hỷ Tần Hoài thủy,
Sinh tăng giang thượng thuyền,
Tải nhi phu tế khứ,
Kinh tuế hựu kinh niên,
Mạc tác thương nhân phụ,
Kim thoa đương bốc tiền,
Triêu triêu giang khẩu vọng,
Thố nhận kỹ nhân thuyền" 

(Tần Hoài con nước vô duyên,
Trông ra lại ghét con thuyền trên sông,
Chẳng thương người vợ mong chồng,
Lênh đênh tứ xứ ruổi rong tháng ngày,
Vợ thương nhân nghĩ tủi thay,
Thoa vàng dùng để bói thay tiền vàng,
Bến sông mòn mỏi trông chàng,
Mấy phen lầm nhận bẽ bàng thuyền ai).

Từ tiếng ai oán thể hiện ra trong đầu bài thơ "Không làm vợ thương nhân", có thể thấy số phận của họ sau khi hoàn lương lấy chồng cũng vô cùng bi thảm, đáng thương.
________________________

(25) Thanh nê liên hoa ký, quyển 3
(26) Ngũ tạp trở, quyển 64, Địa bộ nhị
(27) Không Động tiên sinh tập, quyển 39, Tự xử trí diêm pháp sự nghi trạng
(28) Hán thư, Hiếu Vũ Lý phu nhân truyện


2. Tuổi già bị bỏ rơi

"Phàm kẻ lấy sắc đẹp để thờ người, lúc sắc kém thì tình yêu nhạt phai, ân nghĩa đoạn tuyệt" (29), câu danh ngôn ấy thật chí lý. Theo tuổi tác ngày càng cao của kỹ nữ, dù cô có tài năng như Tiết Đào, Tô Tiểu Tiểu, phong vận như Phàn Tố, Tiểu Man cũng không tránh khỏi kết cục ngựa xe thưa thớt, cổng ngõ lạnh tanh. Đương nhiên khi kỹ nữ tuổi cao sắc kém, cũng khó tránh khỏi số phận thê thảm bị ruồng bỏ.

Hiện tượng kỹ nữ bị bỏ rơi rất phổ biến. Ví dụ Huyên Phong thời Tấn vốn là ái kỹ của Thạch Sùng, về sau tuổi cao sắc kém, bị gièm pha bỏ rơi, coi là quá lứa, sai cai quản đám kỹ nữ. Trong Oán thi nàng cảm thán nói 

"Xuân hoa thùy bất mỹ,
Tốt thương thu lạc thì.
Đột yên hoàn tự để,
Bỉ thoái khỏi sở kỳ,
Quế phương đồ tự đố,
Thất ái tại nga mi.
Tọa kiên phương thời khát,
Tiều tụy không tự sùy"

(Xuân xanh hoa thảy đẹp,
Rơi rụng lúc thu sang,
Đài nhụy vươn trên khói,
Đâu hẹn lúc điêu tàn,
Quế thơm nên bị ghét,
Mày ngài ai vẻ vang,
Lúc thơm nghĩ khao khát,
Tiều tụy thẹn dung nhan)

đã tố cáo về sự tao ngộ bất hạnh của mình, nỗi khổ mất mát tình yêu và nỗi lo khi tuổi cao sắc kém. Giống như gia kỹ này, thường khi tuổi già sắc kém bị đẩy xuống địa vị nô tỳ, có kẻ phục dịch trong nhà, có kẻ chuyển bán cho người khác. Nhưng so với gia kỹ thì số phận cung kỹ càng bi thảm hơn, sau khi nhan sắc sút kém bị bỏ rơi cũng không được tự do lấy chồng, chỉ có thể hy vọng được phóng xuất khỏi cung, nếu không thì chỉ có thể oán hận trong cung đến chết, u uất cả đời. Bài thơ Oán của Lưu Hiếu Uy chính phản ảnh sự thê lương và đau buồn của cung kỹ sau khi tuổi cao sắc kém bị thất sủng

"Thoái sủng từ Kim ốc,
Kiến khiển xích Cam Tuyền.
Chẩm tịch thu phong khởi,
Phòng lung minh nguyệt huyền.
Chúc tỵ song trung ảnh
Hương hồi lô thượng yên.
Đan đình tà thảo kính,
Tố bích điểm đài tiền.
Ca khởi bồ sinh khúc,
Nhạc tấu hạ sơn huyền.
Tân thanh tích quảng yến,
Dư bôi kim tự truyền.
Vương Tường hướng tuyệt mạc,
Tông nữ nhập kỳ liên.
Nhạn thư do vị phản
Giác mã vô quy niên.
Chiêu đài tỉnh đằng ngự,
Tăng bản vô khí quyên.
Hậu tân tùy phục tích,
Tiền ngư thùy phục liên"

(Thất sủng rời Kim ốc,
Bị tội tới Cam Tuyền.
Gối chiếc gió hiu hắt,
Rường cao nguyệt chập chờn.
Nến ngại vách in bóng,
Khói vờn lò lạnh hương.
Đình son đường cỏ loáng.
Vách biếc nét rêu vương.
Ca vẳng lời chua xót,
Nhạc trỗi điệu bi thương.
Lời hay tiếc tiệc cũ,
Chén rót riêng nỗi buồn.
Kỳ Liên tủi tông nữ,
Sa mạc xót Vương Tường.
Thư nhàn non nước thẳm,
Sừng ngựa tháng năm trường.
Lên đài luống than thở,
Xuống dốc nghĩ chán chường.
Củi sau tùy kẻ chất,
Cá trước biết ai thương) (30).

Còn có một loại vì tình hoặc vì ân khách sáng ba chiều bốn, kỳ thị thành kiến mà bị ruồng bỏ. Bài thơ Ức tình nhân của kỹ nữ Tần Ngọc Loan thời Tùy đã đả kích hiện tượng xã hội này, đồng thời cũng phản án sự oán hận và sự bất lực của kỹ nữ.
_______________________
(29) Ngọc Đài tân vịnh, quyển 8
(30) Bắc sử, Cao Thông truyện


3. Xuất gia nhập đạo

Việc kỹ nữ xuất gia làm ni hoặc làm đạo cô, cũng rất phổ biến trong lịch sử Trung Quốc, về nguyên nhân và cách thức đại khái có hai loại:

Một là bị bức ép xuất gia. Thời cổ, một số đế vương quý tộc và sĩ đại phu vì muốn chiếm hữu ái kỹ suốt đời không muốn sau khi mình chết cô ta bị người khác làm nhơ nhớp bại hoại danh tiết, bèn ép bức kỹ nữ xuất gia, để họ giữ gìn trinh tiết. Như thời Nam Bắc triều, Cao Thông có mười mấy kỹ nữ "đến khi bị bệnh, muốn họ không đi lấy người khác, bèn sai đốt ngón tay nuốt tro, xuất gia làm ni" (31). Lại, Dương Huyến Chi thời Bắc Ngụy trong Lạc Dương già lam ký quyển 3 chú: Cao Dương vương Ưng có "năm trăm kỹ nữ", "vào thì ca cơ vũ nữ, ra thì tơ trúc quản huyền, nhã nhạc thâu đêm suốt sáng", "sau khi Ung chết, các kỹ nữ bị sai làm ni cô, cũng có kẻ đi lấy chồng".

Hai là "tự nguyện" xuất gia. Trong lịch sử có rất nhiều kỹ nữ thấy rõ chốn hồng trần, trốn vào cửa Không, hy vọng có chỗ thanh tâm tịnh ý đến cuối đời, thoát khỏi cuộc sống bị khinh khi không phải con người. Như danh kỹ Lý Thúy Nga ở Hoài Dương trong tiểu thuyết truyền kỳ Thúy Nga ngữ lục thời Minh từng nói "Cưới kỹ nữ làm vợ, ai chịu tôn trọng? Nếu lấy chồng để họ thỏa mãn thân xác, sao không tự thủ tiết mà ở vậy suốt đời". Vì thế nàng búi tóc đội mũ, khoác áo đạo sĩ... suốt đời ở quán Động Chân (32). Từ đó đủ thấy kỹ nữ xuất gia loại này trên danh nghĩa là "tự nguyện" nhưng thực chất là bị bức bách.

Nhưng kỹ nữ xuất gia cũng không phải chuyện dễ, kẻ tay không thì các chùa chiền đều không chịu thu nhận. Cho dù đã xuất gia cũng phần nhiều bị người đời không dung. Như danh kỹ Uông Liên Liên sau khi "cạo đầu làm ni, công khanh sĩ đại phu vẫn cứ quấy rầy không thôi, ép nàng phải tự phá hủy dung mạo, để cắt đứt lòng ham muốn của mọi người mới yên ổn suốt đời". Còn như Giác kỹ Liên Chi Tú ở kinh sư thời Nguyên về sau rơi rụng làm đạo cô, lưu lạc tới Tùng Giang định tới ngoài cửa Đông Môn hóa duyên dựng am, Lục Trạch người trong quận viết một bài sớ mộ duyên với nội dung rất hạ lưu để châm chọc. "Sớ văn một khi đưa ra, xa gần truyền tụng lấy đó làm chuyện cười" (33) khiến Liên Chi Tú "lãng đãng vào đất Ngô", "về sau không biết kết cục ra sao".

Dĩ nhiên, có kỹ nữ tự nguyện xuất gia chỉ vì muốn tìm một chỗ ăn chỗ ở trọn đời mà vào chùa chiền đạo quán. Ví dụ trong đạo quán An Quốc do Ngọc Trinh công chúa thời Đường xây dựng có rất nhiều đạo cô vốn là cung kỹ hát hay múa giỏi nên Lư Luân trong bài Quá Ngọc Trinh công chúa ảnh điện nói

"Quân khan bạch phát thông kinh giả,
Đa thị cung trung ca vũ nhân"

(Nhiều người tóc trắng làu kinh kệ,
Xưa ở cung đình vẫn múa ca).

_______________________

(31) Mịch đăng nhân thoại, quyển 1
(32) Xuyết canh lục, quyển 12
(33) Cao Khải, Thính giáo phường cựu kỹ Quách Phương Khanh đệ tử Trần thị ca

4. Lưu lạc giang hồ

Những người tuổi già sắc kém trong đám kỹ nữ lưu lạc giang hồ, số lượng không ít. Như danh kỹ Ngọc Mãng Nhi thời Nguyên "lưu lạc giang hồ", dạy nghề đến hết đời. Kim Thú Đầu "trôi nổi giữa Thái Hồ và Tương Giang"; Trần thị học trò giỏi của Thuận Thời Tú, người ta khen là tài nghệ không kém thầy, nhưng nàng lúc cuối đời vì nhan sắc tài nghệ đều giảm sút, "từ đó lưu lạc khắp nơi, rời kinh đô làm khách ở phương xa. Xuân tàn đóng cửa không người hỏi, Tóc bạc quần xanh chẳng điểm trang" (34), cuối cùng chết rất đáng thương. Từ đó có thể thấy, cho dù là danh kỹ một thời, đời sống cũng hoàn toàn không có gì bảo đảm, nhất là lúc "người già ngọc tối", kết cục đều rất thê thảm bi thương

Có rất nhiều kỹ nữ lưu lạc giang hồ, bốn ba khắp nơi, ăn xin sống qua ngày, cuối đời cô độc thê lương. Như danh kỹ Tần Diệu Quan ở Đông Kinh thời Bắc Tống từng nổi tiếng một thời, ngoài cổng đông như cái chợ, nhưng cuối cùng vẫn không tránh khỏi số phận ăn xin đầu đường ở thành Lâm An (35). Chu Quế Bảo thời cận đại "danh tiếng lẫy lừng, là Trạng nguyên trong Hoa bảng Thượng Hải", nhưng lúc đầu thì đúng là nữ trang đầy người, xe ngựa như mây, mọi người đều muốn cưới", nhưng khi tuổi cao sắc kém, "nghèo tới mức không biết làm sao, đành ở trong ngõ Hồng Sảnh đường Tứ Mã, xách một cái giỏ tre bán hoa quả sống qua ngày", gần như ăn mày (36).
________________________

(34) Ngọc chiếu tân chí
(35) Cửu vĩ quy, hồi 29
(36) Vương Ân, Thu Động tiên sinh đại toàn tập văn, quyển 43

5. Trốn lánh tha hương

Bỏ trốn cũng là một trong những con đường để kỹ nữ thoát ly bể khổ. Đối với tuyệt đại đa số kỹ nữ bị bắt ép bán dâm bắt đầu từ ngày đầu tiên bước vào kỹ viện, đã mong mỏi được mau rời khỏi hang động ma quỷ thảm tuyệt nhân hoàn này. Nhưng ngoại trừ việc hoàn lương như được lên trời xanh ra, chỉ còn một biện pháp duy nhất là mạo hiểm bỏ trốn.

Kỹ nữ muốn trốn ra khỏi hầm lửa thật không phải dễ, vì ngoài sự giám sát và canh giữ nghiêm ngặt của chủ chứa ra, họ còn bị đám tôi tớ thủ hạ của chủ chứa ngầm giám thị. Kỹ nữ đi đâu đám này cũng đi theo sát gót, nghiêm ngặt theo dõi. Huống chi lộ phí cần thiết để kỹ nữ bỏ trốn phần lớn cũng bị chủ chứa lột sạch, lại càng ít có cơ hội ra ngoài, điều này khiến việc bỏ trốn lại càng khó khăn.

Chính vì vậy nên các kỹ nữ phải cố nghĩ ra vô số biện pháp, mạo hiểm bí mật trốn chạy. Một số kỹ nữ khôn ngoan, trước khi bỏ trốn thế nào cũng trung thành phục tùng chủ chứa, ngoan ngoãn tiếp khách để đánh lạc hướng họ. Đồng thời tích cực chuẩn bị bỏ trốn, lén lút gom góp quần áo lộ phí tùy thân hoặc tìm chỗ ẩn náu. Qua một thời gian dài, việc cai quản của kỹ viện lỏng lẻo, lúc ấy mới tìm cách thừa cơ bỏ trốn. Như có cơ hội đào tẩu là lợi dụng Hý điều tử. Cái gọi là Hý điều tử là một trong những phương thức chơi gái, ngay cả khách chơi vì thích kỹ nữ, đem kỹ nữ ra khỏi kỹ viện, để họ bồi tiếp trong quán ăn, vũ trường hoặc ăn cơm hý viện, khiêu vũ, xem kịch, thậm chí ngồi xe Đâu phong đi chơi. Những kỹ nữ được khách dẫn đi Hý điều tử phần nhiều được chủ chứa coi là ngoan ngoãn, yên tâm kỹ nữ ấy không biết bỏ trốn. Nhưng chính vì vậy mà kỹ nữ đi Hý điều tử cũng phải có Bà dì, Chị lớn hoặc người tin cậy, thậm chí người thân của chủ chứa đi theo để phòng bất trắc.

6. Ẩn cư không ra ngoài

Một số kỹ nữ, sau khi biết rõ hồng trần, ẩn cư nơi thôn quê. Ví dụ danh kỹ Tào Cẩm Tú thời Nguyên "tài sắc xinh đẹp, phong vận nhàn nhã, nổi danh Kinh Kha". Nhưng nàng "giữa đời lắm nạn, mỗi khi cảm xúc hứng hoài, lên cao làm phú, để bày tỏ nỗi lòng", cương nghị khi tuổi cao sắc kém, lúc "lòng như tro nguội" rời khỏi giang hồ, chỉ "nhắm mắt tĩnh tâm ngồi yên thắp hương mà thôi"
            
7. Trở lại nghề kỹ nữ

Một số kỹ nữ giữ mình trong sạch từng phản kháng, đấu tranh cho số phận không may của mình, nhưng cuối cùng không thể thay đổi được số phận bi kịch. Như Thiên Nhiên Tú "cao khiết ngưng trọng" thời Nguyên, vì sinh kế bức bách, hai lần lấy chồng, hai lần chồng chết, sau cùng lại "trở lại nhạc tịch". Tình trạng ấy rất phổ biến trong lịch sử kỹ nữ Trung Quốc. Trong Thanh lâu tập đã chép rất nhiều chuyện như vậy, như Lý Chi Tú "lại làm kỹ nữ", Cổ Sơn Sơn "trở về nhạc tịch", Trương Ngọc Liên "trở lại nhạc tịch" vân vân.

Theo tâm tư của những kỹ nữ này, đời này kiếp này nhất định không sống kiếp Thần nữ sinh nhai nữa. Nhưng thực tế cuộc sống luôn bức họ đến đường cùng, không còn sự lựa chọn nào khác. Sau khi trải qua bao sóng gió, rất nhiều người trong họ đành trở lại xóm yên hoa tựa cửa đón khách, làm lại nghề bán dâm


Cũng có một số kỹ nữ đã quen hòa mình với đời sống kỹ viện, một khi lấy chồng thì phải theo quy củ nhà lành, có rất nhiều người không thể tự do đi lại. Vì chịu không nổi sự bó buộc, cuối cùng lại rơi vào thanh lâu, trở lại nghề cũ.


Không có nhận xét nào:

Đăng nhận xét