Thứ Năm, 1 tháng 12, 2016

Lịch sử kỹ nữ _ Chương 2


Chương 2. Nguồn gốc của kỹ nữ

I. Tù nhân

Trong thời đại nô lệ thường phát sinh các cuộc chiến tranh xâm lược, những tù nhân nữ bị bắt trở thành nguồn gốc chủ yếu của kỹ nữ. Sở dĩ như vậy là do điều kiện lịch sử đương thời quyết định. F. Engels từng chỉ rõ: lúc việc thu hút lao động mới trở thành có ích thì "chiến tranh cung cấp nguồn sức lao động mới: tù nhân biến thành nô lệ" (1). K. Marx trong Tư bản luận cũng từng nói "Bản thân thị trường nô lệ là dựa vào chiến tranh, việc cướp bóc trên biển không ngừng biến sức lao động thành một loại hàng hóa" (2).

Ở Trung Quốc từ thời Hạ Thương hay thậm chí trước đó tù nhân đã trở thành nguồn gốc chủ yếu của kỹ nữ, nên học giới gọi đó là "thời đại kỹ nữ nô lệ. Sau đó hiện tượng lấy tù nhân làm kỹ nữ tuy dần dần giảm đi, nhưng tù nhân vẫn là một trong những nguồn gốc của cung kỹ, quan kỹ và doanh kỹ.

Kỹ nữ thời Ngụy Tấn Nam Bắc triều càng có nhiều người có nguồn gốc là tù nhân trong chiến tranh. Tam quốc chí, quyển 50, Ngô thư, Tôn Sách truyện, phần chú thích dẫn lại Giang Biểu truyện chép lúc Chu Du phá được Hoãn Thành, bắt được "thợ thuyền và nhạc công, bộ khúc của Viên Thuật hơn ba vạn người" rõ ràng trong số ấy có một bộ phận là kỹ nữ. Lúc nhà Bắc Ngụy diệt nhà Tiền Yên thì "thợ thuyền con hát có hơn mười vạn người, đưa về kinh sư" (3), con số tù nhân bị bắt làm kỹ nữ càng lớn ghê người. Mà trong thời kỳ ấy những hiện tượng như thế rất nhiều. Như Thác Bạt Đào vào năm Thái Bình Chân Quân thứ 5 bình định được "dân Bắc bộ", "giết người đứng đầu, số còn lại dời tới làm Doanh hộ ở ba châu Ký, Tương, Định" (4), Lý Văn đế vào năm Kiến Hưng thứ 1 (471) trấn áp được "các vụ phản loạn ở hai trấn Ốc Dã, Thống Vạn", "dời số còn lại tới làm Doanh hộ ở ba châu Ký, Tương, Định" (5), năm sau Lý Văn đế lại trấn áp vụ mưu phản của Sắc Lặc ở Liên Thuyên, "dời đám đồng đảng tới làm Doanh hộ ở bốn châu Thanh, Từ, Tế, Bao" (6), lúc Thẩm Khánh trấn áp được người Man, đem số tù nhân là người Man chống đối (Sịnh Man), và số người Man đầu hàng (Hàng Man) hơn sáu vạn người, "đều dời về kinh sư làm Doanh hộ" (7). Số tù binh và tù nhân bị bắt này làm Doanh hộ, thì việc sinh nhai của các phụ nữ trong đó cũng không khác doanh kỹ thời Hán bao nhiêu. Như Hậu Phế đế Lưu Lạp nhà Lưu Tống thường "tư thông với con gái trong Tả vệ doanh Dực liễn" (8), Úc Lâm vương Tiêu Chiêu Nghiệp nhà Tề lúc ở Tây Châu, "Hàng đêm đều mở cổng sau, cùng bọn tiểu nhân du đãng tới doanh thự yến ẩm chơi gái" (9).

Nhà Tống vì lực lượng quân sự suy yếu nên cũng ít thấy hiện tượng dùng tù nhân làm kỹ nữ. Nhưng trong thời Liêu Kim hiện tượng này lại rất thường thấy. Như Trung Châu tập nói "Người Liêu bắt người Trung nguyên và người các nước ở biển Hề Bột chia cho những người thân cận hoặc kẻ có công, ở hai châu Thái Chí, ít ra cũng hàng trăm người, đều là nô tỳ". Tục Văn hiến thông khảo nói "Theo chế độ nhà Kim thì người Nữ Chân làm Bản hộ, người Hán và người Khiết Đan làm Tạp hộ. Nô tỳ của An mục côn hộ người Minh thì tha làm lương dân, cho lệ thuộc vào Bản bộ làm Chính hộ. Những người không có quan chức lệ thuộc vào cung giám gọi là Giám hộ. Những nô tỳ chưa giao cho quan, do Đại phủ quản lý gọi là Quan bộ. Phàm người Hán người Bột Hải đều không được sung làm Minh an mục côn hộ".

Thời Nguyên quân thiết kỵ của Mông Cổ dùng vũ lực chinh phục Trung nguyên, chiếm cứ toàn Trung Quốc, số tù nhân người Hán bị bắt làm nô lệ lại càng khiến người ta rùng mình. Xuyết canh lục của Đào Tống Nghi, quyển 17 nói "Hiện nay những kẻ bị các chức sắc người Mông cổ bắt, đàn ông gọi là nô, đàn bà gọi là tỳ, gọi chung là Khu khẩu. Lúc quốc sơ bình định các nước, hàng ngày cho các nam nữ tù nhân bắt được lấy nhau làm vợ chồng, mà con cháu sinh ra vĩnh viễn làm nô tỳ. Lại có kẻ gọi là Hồng Khiết Đan, là do vua Nguyên chuyển bán cho người khác. Lập khoán ước mà đóng thuế là những kẻ đó... Có khi nô tỳ giàu lên, chủ tham của cải ắt sẽ bới móc lỗi nhỏ đánh đập giam cầm, lấy hết của cải, gọi là Sao cô. Cũng có kẻ tự nguyện nộp tiền bạc xin xóa tên khỏi nô tịch thì người chủ sẽ giao giấy tờ cho, gọi là Phóng lương. Theo hình luật thì tự ý giết trâu ngựa bị đánh một trăm trượng, mà đánh chết Khu khẩu thì so với người thường kém một bậc, đánh một trăm lẻ bảy trượng. Như vậy là coi nô tỳ không khác gì trâu ngựa". Tới như số nô lệ mà các quý tộc Mông Cổ dùng thì càng đáng sợ. Nguyên sử, Trương Hùng Phi truyện nói "Lúc A Lạc Cáp Nhã làm quan ở Kinh Hồ đã chiêu hàng ba ngàn tám trăm hộ sung làm gia nô, tự đặt ra quan lại để quản lý, hàng năm đánh thuế, quan lại không dám hỏi tới". Trong tình hình như thế, địa vị của nữ gia nô không khác gì kỹ nữ, họ thường bị chủ nhân người dị tộc cưỡng hiếp giày vò, trở thành kỹ nữ mang hình thức gia nô thấp kém.

Thời Minh cũng thịnh hành truyền thống dùng tù nhân làm kỹ nữ. Như Tam phong thập khiển ký, Ký sắc hoang nói "Nhà Minh diệt nhà Nguyên, phàm những con cháu của bộ lạc Mông cổ trôi dạt ở Trung Quốc đều sai các địa phương điều tra hộ tịch. Số ở tỉnh thành gọi là Nhạc hộ, ở châu quận gọi là Cái hộ".

Nhà Thanh cũng lấy tù nhân làm nguồn gốc chủ yếu của kỹ nữ. Ví dụ một trong mười võ công của Càn Long là cuộc chiến tranh đánh người Hồi ở phía tây, không chỉ tù binh mà cả những người Hồi đầu hàng (Hàng Hồi) đều theo nguyên tắc "Nên phân tán không nên cho tụ họp", "Không cho sinh sự", lập tức châm chước "chia thưởng cho các tướng sĩ trú phòng ở hai tỉnh Thiểm Tây, Cam Túc và trong Lục doanh làm nô lệ" (10). Tự nhiên các phụ nữ trong sô" tù nhân người Hồi này cũng biến thành doanh kỹ để thỏa mãn nhục dục cho tướng sĩ nhà Thanh.

Tóm tắt những điều nói trên, chúng ta có thể thấy rõ ràng: Phụ nữ là tù binh và tù nhân đều là nguồn gốc chủ yếu của kỹ nữ ở Trung Quốc, lịch sử của nó có thể nói là sâu xa lâu dài, thịnh mãi không suy!
_______________________

(1) Gia đình, tư hữu chế hòa quốc gia đích khởi nguyên (Nguồn gốc của gia đình của sở hữu tư nhân và của nhà nước), Nhân dân xuất bản xã, 1972, quyển 4, tr. 157.
(2) Mã Khắc Tư, Tư Cách Tư toàn tập (Marx Engels toàn tập), Nhân dân xuất bản xã, 1972, quyển 2, tr. 539.
(3) Ngụy thư, quyển 2, Thái tổ kỷ.
(4) Ngụy thư, quyển 4, Thế tổ kỹ hạ.
(5), (6) Ngụy thư, quyển 7, Cao tổ kỷ thượng.
(7) Tổng thư, quyển 77, Thẩm Khánh Chi truyện .
(8) Tống thư, quyển 9, Hậu Phế đế kỷ.
(9) Nam sử, quyển 5, Tề Phế đế Úc Lâm vương kỷ.
(10) Càn Long Thực lục, quyển 599.

II. Sung công

Cái gọi là Sung công (Tịch một) là chỉ việc quan phủ bắt các phụ nữ trong gia đình kẻ tội phạm làm kỹ nữ, cũng là một trong những nguồn gốc quan trọng của kỹ nữ thuộc quan lại ở Trung Quốc thời cổ.

Chính sách bắt phụ nữ trong gia đình tội phạm làm kỹ nữ hoặc nữ nô đã có một lịch sử lâu đời ở Trung Quốc. Chu lễ, Thu quan nói "Nô tỳ thì đàn ông xếp vào hạng tù nhân sai phái, phụ nữ đưa vào làm việc xay lúa giã gạo". Luật thời Hán quy định vợ và con gái tội phạm bị sung làm quan tỳ, làm công việc lao dịch ở các nha môn. Hán cựu nghi nói "Quan nô tỳ trong phủ Thừa tướng canh đêm báo thức. Nhũ mẫu trong cung lấy từ quan tỳ. Các quan lang trong cung đều dùng quan nô tỳ đưa tin. Thái quan Thang quan đều có ba ngàn nô tỳ". Lại nói "Thái bộc mục súy có ba mươi sáu sở, chia ra ở biên giới và phía bắc và phía tây, lấy quan lang làm Uyển giám, quan nô tỳ chia nhau nuôi ba mươi vạn ngựa". Hán luật còn quy định "Vợ của tội nhân làm nô tỳ phải thích chữ vào mặt, tổ tiên của nô tỳ có tội, tuy qua trăm đời vẫn phải thích chữ vào mặt để hầu hạ quan". Đó tức nói không xóa tên trong sổ nô tịch, phải làm nô tỳ trọn đời. Thời Ngụy Tấn Nam Bắc triều cũng có điều luật chuyên quy định về việc bắt gia thuộc tội nhân làm nô lệ, như Ngụy thư quyển 111, Hình phạt chí nói "Trước đời Hiếu Xương, thiên hạ hỗn loạn, pháp lệnh không thường, có khi chặt chẽ có khi lỏng lẻo. Đến khi Nhĩ Chu cầm quyền, cân nhắc ý tứ pháp luật, những người làm quan phần lớn đều lấy sự tàn khốc làm tài năng. Đến khi thiên đô qua đất Nghiệp, trộm cướp ở kinh kỳ đua nhau nổi lên, quan hữu ty tâu xin đặt ra hình phạt nghiêm trị: Phàm kẻ cướp bóc giết người, kẻ đầu đảng và tòng phạm đều chém đầu, vợ con thì đưa vào Nhạc hộ, kẻ nào không giết người mà giá trị của tang vật không tới năm tấm vải, thì kẻ đầu đảng bị chém đầu, vợ con cũng làm Nhạc hộ, bọn trộm vặt mà tang vật có giá trị từ mười tấm vải trở lên, kẻ đứng đầu xử tử, vợ con đưa vào làm lao dịch ở các dịch trạm, kẻ tòng phạm xử tội lưu". Lại như luật nhà Bắc Ngụy quy định "Kẻ tòng phạm bắt sung vào Công hộ, Nhạc hộ, đều đùng giấy đỏ làm hộ tịch, lấy chì làm cuốn trục" (11). Từ đó chế độ Nhạc tịch đã chính thức hình thành. Luật nhà Đường nhà Tùy đại khái cũng thế, cũng quy định bắt phụ nữ gia thuộc của tội phạm phải sung làm kỹ nữ. Như Đường lục điển, quyển 6, điều Hình bộ đô quan lang trung nói "Phàm liên lụy tới việc phản nghịch thì gia thuộc đều sung làm quan nô tỳ, được miễn xá một bậc thì làm Phiên hộ, được miễn xá bậc nữa thì làm Tạp hộ, được miễn xá ba bậc thì là lương dân. Đều do có dịp đại xá mà được miễn giảm. Những người sáu mươi tuổi hay tàn tật, tuy không hợp với lệnh miễn xá, cũng miễn làm Phiên hộ, người bảy mươi tuổi thì xá miễn làm lương dân, biên phụ tên vào Nhạc tịch". Lại nói "Phàm mới bắt đầu bị sung công, kẻ có tài nghệ thì theo khả năng mà giao về cho các ty. Phụ nữ giỏi nữ công thì đưa vào Dịch đình, số không có tài năng gì còn lại đều giao cho quan Tư nông". Đến thời Tống đã không còn chế độ bắt phụ nữ trong gia đình người phạm tội làm quan nô. Phương Hồi cuối thời Nam Tống nói "Gần đây không theo phép sung công bắt gia đình người phạm tội làm nô tỳ, phương Bắc thì nhờ có tù nhân trong chiến trận mà có. Phép tắc gần đây không hay, tiến cử người làm hoạn quan thì thiến người vô tội, phụ nữ phạm tội thông gian bị giam ba năm trở lên nên sung làm Tạp hộ, xử đánh trượng, giao qua Ty Kỹ nhạc cai quản" (12), tức thời Tống không còn hiện tượng đem tất cả gia thuộc của người phạm tội sung làm nô tỳ cho quan, chỉ có phụ nữ nhà bình dân phạm tội thông gian mà tình tiết nặng thì sung làm Tạp hộ, đưa tới Ty Kỹ nhạc cai quản. Thời Minh thì những người liên lụy với kẻ có tội đưa tới làm nô tỳ cho nhà các công thần nên có câu Nhà công thần không có nô tỳ. Thời Thanh thì ngoài việc hoàn toàn kế thừa điều luật có liên quan tới việc cấp nô tỳ cho nhà công thần, trong pháp luật chính thức còn có hình phạt gọi là "Phát khiển vi nô", là quy định gia thuộc của người phạm tội được cấp phát cho quan lại làm nô tỳ. Trong đó gia thuộc của những kẻ phạm tội mưu phản đại nghịch, bao gồm cả mẹ và con gái, thê thiếp, chị em gái, em dâu của kẻ chính phạm đều bị cấp cho công thần làm nô tỳ (13)

Tuy tuyệt đại đa số gia thuộc của tội phạm bị sung công đều rơi rụng làm nô tỳ nhưng chắc chắn là cũng có một bộ phận lớn hoàn toàn không làm việc lao động sản xuất, một số người xinh đẹp hoặc "khéo léo nữ công" trong đó sẽ biến thành công cụ thỏa mãn dục vọng cho kẻ thống trị. Như Hán thư, Vương Cống Lưỡng Cung Bão truyện chép "Lại như nô tỳ của các quan có hơn mười vạn người rong chơi không làm việc, đánh thuế lương dân để nuôi, hàng năm tốn năm sáu vạn". Hán thư, Cảnh Thập tam vương truyện chép "Chiêu Tín cùng hơn mười nô tỳ đánh bạc uống rượu làm vui". Hán thư, Hoắc Quang Kim Nhật Đạn truyện chép "Làm quan càng giữ tiết, dẫn quan nô hơn hai trăm người từ Xương Ấp đi theo tới chỗ làm quan, thường cùng vui chơi trong phủ". Hán thư, Thành đế kỹ chép "Công khanh liệt hầu... có kẻ xa xỉ dâm dật, mở phủ xây vườn, nuôi nhiều nô tỳ, cho mặc lụa là, bày chuông trống, dàn nữ nhạc, xe ngựa quần áo cưới hỏi ma chay đều vượt lễ". Rõ ràng các nữ nô làm việc thanh sắc này là gia kỹ không còn gì phải nghi ngờ. Du Lý Sơ thời Thanh trong Quý tỵ loại cảo, Trừ nhạc hộ khảo nói đời sống của quan nô tỳ thời Hán "giống như loại kỹ thiếp nhưng không có chồng nhất định" là vô cùng chính xác. Trong thực tế, nhà nước thời Hán đã sai quan nô tỳ làm công việc của xướng kỹ. Thời Tây Hán, Ngũ quan Lang trung Điền Nghi tư thông với quan nô tỳ Trần Vi, Lạc Dịch, từng bị Dương Hùng chỉ trích là "chứng cứ dâm ô bộc lộ trong các quan ở triều đình", thời Đông Hán Vương Quân Công nhờ sáng suốt được làm chức lang, mấy lần tâu bày không được dùng, bèn nghĩ ra kế tư thông với quan tỳ, được miễn chức về" (14), "Trương An Thế làm Quang lộc Huân lang, thông dâm với quan tỳ" (15), cũng chứng minh về việc quan tỳ bị sung làm kỹ nữ.

Từ thời Hán trở đi hiện tượng vợ con tội nhân bị sung làm kỹ nữ lại càng phổ biến. Xuyết canh lục nói "Nay lấy kỹ nữ làm quan nô, tức quan tỳ thời cổ". Cựu Đường thư, Lâm Uẩn truyện nói "Ra làm Thứ sử Thiều Châu, từng đánh chết mạc khách là Đào Nguyên Chi, ném xác xuống sông, bắt người vợ sung làm xướng kỹ". Mà thời Tống còn quy định "Con gái nhà thường dân thông gian thì xử tội lưu ba năm trở lên, coi như tạp hộ, xử đánh trượng đưa vào Ty Kỹ nhạc quản lý" (16). Ngoài ra đến thời Tống vẫn còn bảo lưu chế độ bắt gia thuộc của người phạm tội làm xướng kỹ từ thời Đường. Tống sử, Nhân Tống bản kỷ nói "Năm Thiên Thánh thứ 1 hạ chiếu ra lệnh doanh kỹ được vào giáo phường nam bắc, cho được tùy ý chọn lựa". Tống sử, Trương Bang Xương truyện nói "Lúc đầu Bang Xương ở trong nội đình, Hoa quốc Tĩnh cung Phu nhân Lý thị ủng hộ Bang Xương, về sau Cao Tống hạ ngục Lý thị, bà ta chịu tội, ban cho Bang Xương được tội chết. Lý thị bị xử đánh trượng đưa vào quân doanh". Các sử liệu ấy đều phản ảnh việc thời Tống vẫn bảo lưu chế độ thời Đường.

Thời Minh cũng thế, Chúc Minh Doãn trong Ôi đàm nói "Phụng Hóa có cái gọi là Cái hộ, tục gọi là Đại bần, tập trung cư ngụ ngoài thành, ăn ở với nhau, dân thường không thèm đi lại, được quan cấp lương thực quần áo. Phụ nữ ở đó hơi có sắc đẹp, làm việc hầu hạ chăn gối, lúc đầu đều là con nhà quan, phạm tội nên chồng bị giết mà vợ bị sung công. Quan giết chồng mà thu họ hầu hạ, đến mãi hiện nay. Giáo phường ở Kim Lăng gọi là mười tám nhà chính là đó". Mà việc Minh Thành tổ phát phối tất cả vợ con thân thích của các trung thần của Kiến Văn đế vào giáo phường làm kỹ nữ càng mang tính điển hình, như Quốc triều điển cố chép "Vợ Thiết Huyền là Dương thị ba mươi lăm tuổi, đưa vào Ty Giáo phường, vợ Lao Đại là Trương thị năm mươi sáu tuổi đưa vào Giáo phường, Trương thị chết". Lộ thư nói "Con hát người Trư Thị là Từ Vân Vọng giỏi phân biệt đồ cổ, ông nội là Ngưu Mỗ không theo quân Tĩnh Nạn, con cháu bi phát phối vào Giáo phường. Năm Giáp thân (Vĩnh Lạc năm thứ 22 đời Nhân tông) có chiếu cho tự trình bày, Vân Vọng nhân đó được trừ tịch, vẫn giữ họ cũ". Cắng sử nói "Tổ tiên Lâm Vân Nghi là Lâm Mỗ tuẫn nạn theo Kiến Văn đế, bị phát phối vào Giáo phường. Nay dòng dõi dần dần suy bại, rơi xuống hạng cầm khăn nâng tráp". Có tiền lệ đó nên nhà sử học thời Thanh là Chương Học Thành trong Phụ học từng cảm thán nói "Triều trước chính sự bạo ngược, phàm kẻ tấn thân có tội thì cả vợ con cũng bị phát phối, đến nỗi con nhà thi lễ phần lớn rơi vào chốn Bắc lý".
________________________

(11) Tả truyện, Tương công nhị thập tam niên, Sớ dẫn.
(12) Phương Hồi, Tục cổ kim khảo, quyển 36.
(13) Hộ bộ tắc lệ đời Hàm Phong, quyển 1.
(14) Hậu Hán thư, Phùng Manh truyện.
(15) Hậu Hán thư, Trương An Thế truyện.
(16) Phương Hồi, Tục cổ kim khảo, quyển 36.

III. Buôn người

Con gái nhà lành bị buôn bán làm nô tỳ chính là một nguồn gốc chủ yếu của kỹ nữ, nhất là tư kỹ ở Trung Quốc. Nó gồm hai loại là "tự bán mình" và "bị bán"

Cái gọi là "tự bán mình" chủ yếu là chỉ vào số đông những người lao động nghèo, vì bị kẻ thống trị bóc lột sưu cao thuế nặng, hoặc vì thiên tai nhân họa gây ra mất mùa đói kém, trong tình hình mất hết khả năng sinh sống, bị bức bách phải bán vợ con cho kỹ viện hoặc cho nhà giàu làm kỹ nữ. Tiếng là tự nguyện, nhưng trong thực tế là bị bức bách.

Lịch sử của việc này có thể truy tìm tới thời Tiên Tần, đương thời đã có một bộ phận nông dân phá sản hoặc dân tự do ở thành thị cho vợ con làm việc bán thân xác. Đến thời Tần Hán, hiện tượng bình dân vì nguyên nhân kinh tế mà phải "tự bán" vợ con lại càng phổ biến, vì thế kẻ thống trị còn chế định ra "luật bán mình". Hiện tượng dân nghèo thời Đường bị bức bách phải tự bán mình làm nô tỳ đã bắt đầu xuất hiện từ lúc trật tự xã hội khá ổn định, như năm Trinh Quan thứ 1 (627), "Quan Trung đói kém, đến nỗi bán con trai con gái" (17). Năm Trinh Quan thứ 2, "Quan Trung bị hạn, đói lớn. Thái tông... nghe có người phải bán con... bèn sai Ngự sử Đại phu Đỗ Yêm đi kiểm tra, bỏ vàng bạc trong ngự phủ ra chuộc, trả lại cho cha mẹ" (18). Đến giữa và cuối thời Đường, vì chiến tranh hoặc thiên tai, hiện tượng bán vợ con làm kỹ nữ lại càng thường thấy. Năm Quang Khải thứ 3 (887), "Quân Hội Tất đánh nhau lộn bậy, người ta bán nhau để ăn", lúc bấy giờ có Chu Địch đói tới mức "sắp chết", người vợ tự bán mình ở chợ, "được mấy ngàn đồng nuôi Địch" (19). Lại như lúc Hàn Dũ giữ chức Thứ sử Viên Châu, từng dựa vào điều luật "Không cho cầm bán con cái lương dân làm nô tỳ để sai khiến" mà "Kiểm tra trong địa giới Viên Châu được 731 người đều là con cái của lương dân, chuẩn theo luật hủy bỏ việc mua bán, nhất loạt cho về. Tim hiểu nguồn gốc, hoặc vì lụt vì hạn mất mùa, hoặc vì mắc nợ thiếu thuế nên bị cầm bán, dần dần trở thành phong tục. Danh mục tuy khác nhau nhưng đều là nô tỳ... Viên Châu tuy nhỏ mà có hơn 700 người, thì con số ở các châu quận trong thiên hạ ắt không ít" (20). Đến thời Tống việc bán người trở thành nguồn gốc chủ yếu nhất của kỹ nữ. Vũ lâm kỷ sự nói "Thẩm Cấu tự Văn Thông, trong niên hiệu Gia Hựu lấy hàm Thượng thư bộ Lễ ra coi Hàng Châu, ra lệnh cấm chỉ. Những người nghèo chết không thể chôn cất, sống không thể cưới vợ thì dùng tiền công chôn cất cưới vợ cho, được mấy trăm người. Con gái nhà lành bị bán làm kỹ nữ thì dùng tiền công chuộc về cho cha mẹ". Lại như Tôn Đức tính trai tập nói "Đằng Thù là người cung kiệm hiếu nghĩa, có một con gái nhà sĩ tộc trẻ tuổi xinh đẹp, nhà nghèo mẹ bệnh, người cha bị Nha hội lừa dối nên phải bán con làm kỹ nữ. Người nghe đều bất bình nhưng không ai làm gì được, riêng ông căm phẫn, bắt Xướng hội phải trả cô gái về, nhà kỹ viện bề ngoài ưng thuận nhưng đưa cô gái tới nơi khác giấu diếm. Ông biết được, ra sức tố cáo lên quan, vẫn chưa phân xử. Nhà kỹ viện ngụy tạo văn khế bán mình, viết tăng giá lên mấy lần". Từ hai ví dụ nói trên chúng ta có thể thấy rằng thời Tống việc mua người làm kỹ nữ đã được quan lại thừa nhận hoặc lờ di, mà việc xuất hiện của Xướng hội thời Nam Tống phản ảnh sự thịnh hành của phong khí mua con gái nhà lành làm kỹ nữ. Nguồn gốc của kỹ nữ thời Minh Thanh chủ yếu cũng là từ việc buôn người như vậy. Như Triều Gia phong nguyệt ký nói "Kỹ nữ trên thuyền ít người là con ruột của chủ chứa mà đều là mua từ các nhà nghèo". Những ví dụ về mặt này kể ra không hết, như Trình Nguyệt Nga, "tuổi mới mười lăm, vì cha chết không sao trả được nợ, rơi vào thanh lâu" (21). Kỹ nữ Trương Bảo Linh ở Nam Kinh "Vốn là con gái họ Phan ở Thái Châu, cha mẹ nối nhau qua đời, người anh không có nghề nghiệp gì, đưa nàng cùng lưu lạc giang hồ, rơi vào thanh lâu" (22).

Ngoài ra, còn phải nói rằng có một số trường hợp "tự bán" hoàn toàn không phải vì lý do kinh tế mà có quan hệ với quan niệm phong kiến nam tôn nữ ty trong dân gian. Dương Cốc mạn lục của Hồng Tốn thời Nam Tống chép "Những nhà nghèo ở kinh sư không trọng việc sinh con trai, mỗi khi sinh được con gái thì nâng niu như châu ngọc. Nuôi đến lớn ắt tùy theo tư chất mà dạy cho đàn hát, chuẩn bị bán cho các sĩ đại phu mua vui. Tên gọi khác nhau, có Người hầu cận (Thân biên nhân), Người của mình (Bản thân nhân), Người hầu (Cung quá nhân), Người may vá (Châm tuyến nhân), Người dưới thềm (Đường tiền nhân), Người diễn trò (Kịch tạp nhân), Hầu đàn (Cầm đồng), Hầu cờ (Kỳ đồng), Nhà bếp (Trù tử) rất phân minh. Trong đó Trù nương là hạng kém nhất nhưng nếu không phải nhà thật giàu thì không thể dùng được". Rất rõ ràng là "nhà nghèo" bán con gái cho "sĩ đại phu mua vui" hoàn toàn không phải vì không nuôi được mà vì bị ảnh hưởng bởi quan niệm nam tôn nữ ty truyền thống. Đối với họ toàn bộ giá trị của phụ nữ chỉ là công cụ sinh con nối dõi và đối tượng để đàn ông thỏa mãn xác thịt. Phụ nữ đã không thể làm việc lao động nặng nhọc như đàn ông thì chỉ có hai cách để chọn lựa: một là lấy chồng làm công cụ sinh con nối dõi, hai là bán cho nhà giàu hoặc kỹ viện để "mua vui" cho người ta, cam tâm làm tỳ thiếp hoặc gia kỹ. Vì thế Lục Du từng làm thơ rằng

"Bích ngọc đương niên vị phá qua,
Học thành ca vũ nhập hầu gia"

(Bích ngọc năm nay vẫn trắng trong,
Múa ca hầu hạ bậc vương công).

________________________

(17) Cựu Đường thư, quyển 2, Thái tông kỷ thượng.
(18) Trinh Quan chính yếu, quyển 6, Nhân trắc.
(19) Thái bình quảng ký, quyển 270, Chu Địch thê.
(20) Hàn Xương Lê tập, quyển 40, Ưng sở tại điển thiếp lương nhân nam nữ truyện.
(21)  Ngô Môn họa phảng tục lục.
(22) Tần Hoài họa phảng lục.

Không có nhận xét nào:

Đăng nhận xét