Chương 3. Kỹ viện
III. Tên gọi, đẳng cấp và cách cục của kỹ viện
1. Tên gọi của kỹ viện
Kỹ viện là nơi bán dâm chủ yếu của kỹ nữ. Nó có rất nhiều tên gọi, thường thấy nhất có Thanh lâu, Câu lan, Ngõa tử, Hoa đài, Hoa điếm, Hoa Hồ đồng, Hoa liễu doanh, Hoa phấn lâu, Hoa môn liễu hạng, Kê nhi hạng, Môn hộ, Môn hộ nhân gia, Phong trần, Phong nguyệt trường, Phong nguyệt sở, Phong nguyệt quán, Hỏa khanh, Hỏa viện, Thủy cục, Tiểu trà phường, Hàng viện, Quật tử, Kỹ quán, Kỹ xá, Bì giải khố, Xướng gia, Dâm phường, Lệ Xuân viện, Yến tử lâu, Liễu mạch hoa nhai, Oanh hoa trại, Oanh hoa thị, Phấn phòng, Yên hoa, Yên hoa trại, Yên hoa thị, Vân vũ hương, cẩm tú vi, Cẩm dinh hoa trận, Bình khang, Bắc lý, Chương đài, Thư ngụ vân vân mấy mươi loại. Xin chọn ra giới thiệu như sau:
Thanh lâu. Vì cửa kỹ viện phần lớn sơn màu đen, nên gọi như thế. Đỗ Phủ thời Đường có câu thơ "Tuấn đậu khấu từ công, Thanh lâu hảo mộng, Nan phú thâm tình" (Tuấn đậu khấu từ công, Lầu xanh mộng đẹp, Khó tả thâm tình). Tần Quan thời Tống cũng có câu từ "Mạn doanh đắc thanh lâu, Bạc hãnh danh tồn" (Được danh bạc hãnh chốn lầu xanh).
Câu lan, còn gọi là Câu đương, Câu tứ, vốn chỉ nơi giải trí, là chỗ biểu diễn tài nghệ cùa con hát thời cổ, nhưng về sau biến thành từ gọi chung kỹ viện. Như Thanh lâu tập viết "Trong Câu lan chỉ múa hát bốn màn rồi tan, nhưng từ thời quốc sơ trở đi, không kế tục được nữa". Cổ kim tiểu thuyết quyển 15 "Nhân tới Ngõa lý xem, giết đệ tử trong Câu lan, rồi ngay trong đêm bỏ trốn".
Phong nguyệt trường, cũng gọi là Phong nguyệt sở, Phong nguyệt quán, chỉ kỹ viện. Tạ Thiên Hương
"Lão thiên sinh ngã đa tài tứ,
Phong nguyệt trường trung khảng nhượng nhân?"
(Trời sinh ta vốn nhiều tài tứ,
Phong nguyệt trường kia há dưới người?).
Thủy tiên tử của Vương Diệp "Phong nguyệt sở thành văn án, Oanh hoa trại nghĩ tội danh, Lệ Xuân viện y lệ thi hành" (Sở Phong nguyệt làm văn án, Trại Oanh hoa định tội danh, Lệ Xuân viện theo lệ thi hành). Khôi lan ký màn 1 "Bèn không tới Phong nguyệt quán bán dâm truy hoan nữa".
Hỏa khanh, cũng gọi là Hỏa viện. Lưu Hàng thủ màn 3 "Mẹ cô ta dữ như rết độc... Gã ngốc, ai bảo ngươi tới Hỏa khanh thả con gái của mụ ta!". Phong quang hảo màn 4 "Ta vì ngươi mà cả ngày lên quan tư, không trở lại Hỏa viện chơi bời". Thanh sam lệ màn 2 "Bây giờ cùng khốn trong hầm Hỏa viện, chỉ đành lấy thân ta mà lấp".
Bì giải khố, chỉ việc kỹ nữ bán thân xác. Kim tuyến trì màn 1 "Cho dù nói nhà ta là Bì giải khố thì cũng là vì người đời có tiền... Sinh được một con gái là Hàng thủ Đỗ Tảo Nương trên sảnh".
Thủy cục. Kim tuyến trì màn 2 "Ngủ lại thường hầu hạ chăn gối, đều là chuyện thường, đó là việc Thủy cục của nhà kỹ viện". Khánh Sóc đường màn 3 "Bèn làm kỹ nữ Thủy cục, tường hoa ngõ liễu, cũng có kẻ thu về lá rụng".
Thủy trà phường. Đô thành kỹ thắng "Thủy trà phường là kỹ viện bày bàn ghế ra, lấy trà làm cớ, bọn hậu sinh cam chịu tốn tiền".
Hàng viện, còn gọi là Hàng hộ, Viện tử, vốn có ý cùng nghề nghiệp, về sau trở thành tiếng lóng của kỹ viện. Thủy hử truyện hồi 69 "Nhà kỹ viện của ta đây, đã chôn vùi hàng ngàn hàng vạn người, há chỉ một mình y!". "Tiểu đệ trước đây ở phủ Đông Bình, có quen biết với một kỹ nữ trong Viện tử tên Lý Thụy Lan". Cảnh thế thông ngôn quyển 5 viết "Lữ Ngọc là thiếu niên ngông nghênh, cũng không khỏi lui tới Hàng hộ một hai lần, chuốc lấy một thân ghẻ chóc phong lưu".
Hoa đài. Tạ Thiên Hương "Bình sinh lưu luyến tửu sắc, nên cứ lên Hoa đài chơi bời tử đệ". Ngọc hồ xuân màn 2 "Tướng công, chàng không nghĩ tới việc tiến thủ công danh, chỉ muốn lên Hoa đài chơi bời tử đệ, có chỗ nào hay?". Bách hoa đình màn 3 "Học thành gia phong lãng tử, luyện nên tài nghệ Hoa đài".
Hoa hồ đồng. Điểm giáng thần của Vu Bá Uyên "Ta những muốn có gấm triền đầu chuỗi hạt châu trùm xuống một tòa Hoa hồ đồng".
Hoa phấn lâu. Hoa lang đảm màn 3 "So với ngươi thì ta tới đất Do Đình muộn, so với ta thì ngươi lên Hoa phấn lâu nhiều".
Hoa liễu doanh. Đối ngọc sa màn 1 "Đem một tòa Hoa liễu doanh làm mê hồn trận". Tân Thủy lệnh, Quốc lệ của Kiều Cát "Ta không phải là con ếch dưới đáy giếng lưu ly, mà là ngựa chiến quen xông pha trong Hoa liễu doanh".
Hoa môn liễu hộ, còn gọi là Hoa môn hoặc Liễu hộ Hoa môn. Oan gia trái chủ màn 1 "Biết y rất có tình, hàng ngày cứ tới Hoa môn liễu hộ vũ tạ đài ca". Thanh Bình sơn đường thoại bản, Tào Bá Minh thố khám tang ký "Điệt nhi không thể cưới cô ta! Cô ta là người trong Hoa môn liễu hộ". Thanh Hạnh tử, Ngộ mê của Phùng Trí Viễn "Liễu hộ hoa môn trước nay tiêu sái, không cần xét nữa, cứ mặc người chia lòng cho đạo và tình nhiều hay ít"
Hoa nhai liễu hạng. Thanh Bình sơn đường thoại bản, Liễu Kỳ Khanh thi tửu ngoạn giang lâu ký "Chuyên chơi bời ở chốn Hoa nhai liễu hạng, rất nhiều danh kỹ thích y
Hoa nhai. Hoạn môn tử đệ thố lập thân bài 12 "Tại sao lại cùng người ở Hoa nhai yêu thương nhau?". Tống Nguyên hý văn tập trật, Vương Nguyệt Anh nguyệt hạ lưu hài "Làm sao có thể so ta với kỹ nữ ở Hoa nhai? Nếu muốn lấy chồng cũng không lấy ngươi". Trại nhi lệnh, Thất đề "Chỉ làm lang quân trong mười mấy nhà Hoa nhai các nơi".
Oanh nhi hạng. Đông Kinh mộng hoa lục, Phan lâu Đông nhai hạng "Phía đông gọi là Đông Oanh nhi hạng, phía tây gọi là Tây Oanh nhi hạng, đều là kỹ viện". Thủy tiên tử, Ức tình của Kiều Cát "Thuyết tương tư nan bát hồi đầu, Dạ nguyệt Oanh nhi hạng, Xuân phong Yến tử lâu, Nhất nhật tam thu" (Nói tương tư khó nỗi quay đầu, Đêm trăng xóm Oanh nhi, Gió xuân lầu Yến tử, Một buổi ba thu).
Môn hộ, Môn hộ nhân gia. Khúc Giang trì màn 3 "Môn hộ nhân gia ta đây, cái ăn cái mặc, chuyện gì lại không cần tiền? Ngươi không tìm tiền cho ta, còn đợi gì nữa?". Phong quang hảo màn 1 "Ta nghĩ nhà Môn hộ nhân gia chúng ta phải coi sóc việc đón tiếp khách khứa, mấy khi được nghỉ ngơi!". Kim tuyến trì màn 1 "Môn hộ nhân gia ta đây không thể không tiếp con em nhà giàu, đó là rồng tiền vào cửa đấy".
Liễu mạch hoa nhai. Bài từ Mãn phương đình, Kỹ nữ của Hoàng Đình Kiên "Sơ quán vân mấn, Tài thăng la ỷ, Tiện hiềm Liễu mạch hoa nhai" (Tóc mây vừa búi, Lụa là gấm vóc, Chỉ hiềm Bờ liễu đường hoa). Đông Pha mộng màn 1 , Vưu vân trệ vũ tác sinh nha (nhai). Tá vấn thiếp thân hà xứ trú, Liễu mạch hoa nhai đệ nhất gia" (Sinh nhai nhờ cậy việc phong lưu, Ướm hởi đâu là nơi thiếp trú, Bờ liễu đường hoa ấy ngõ đầu).
Oanh hoa trại, còn gọi là Oanh hoa thị. Thủy tiên tử, Nghị nghĩ của Vương Diệp "Phong nguyệt sở làm văn án, Oanh hoa trại xét tội danh, Lệ Xuân viện theo lệ thi hành". Phổ thiên lạc của Vương Trọng Nguyên "Trại Oanh hoa ta nhận hàng, biến thị phi ai khuấy động", "Có thắng tiền miền Yên nguyệt, không đền tiền chợ Oanh hoa".
Phấn phòng. Cứu phong trần màn 3 "Chu Xá nói: Ngươi cứ tới Phấn phòng tìm ta. Tiểu nhị nói: Nếu không có trong Phấn phòng thì sao? Chu Xá nói: Thì tới sòng bạc mà tìm".
Yên hoa. Bài từ Thước kiều tiên của Tăng Nghiên viết "Yên hoa bất thị bất tằng kinh, Phóng bất hạ, Duy tha nhất cá" (Yên hoa không phải chưa trải qua, Không bỏ được, Chỉ có mình y). Tuyên Hòa di sự "Người đẹp này là Hàng thủ bậc nhất ở kinh sư, đứng đầu các nhà Yên hoa trong hai kinh, họ Lý tên Sư Sư". Vân song mộng màn 2 "Hài nhi, số ngươi là trong chốn Yên hoa, cứ thế mà làm thôi".
Yên hoa trại, cũng gọi là Yên hoa thị. Khúc Giang trì màn 3 "Phong nguyệt sở được rảnh rang, làng mây mưa không dính dấp, Yên hoa trại bên tai yên ắng". Ngạc hồ xuân màn 4 "Hôm nay cáo biệt Yên hoa thị, cùng về màn gấm thêu".
Dâm phường. Bài từ Giá cô thiên, Minh nhật độc chước tự trào trình Sử ứng Chi của Hoàng Đình Kiên "Dâm phường tửu tứ cuồng cư sĩ, Lý hạ hà phường đã chỉnh quan" (Phường dâm quán rượu thân cuồng sĩ, Dưới mận nề chi cứ sửa khăn).
Cẩm doanh hoa trận, lại gọi là cẩm trận hoa doanh, Hoa trận cẩm doanh. Vân song mộng màn 4 "Ta cứ cho rằng đất bắc trời nam, doanh gấm trận hoa, kề hồng dựa lục, hôm nay lại nước lặng chim bay". Độ liễu thủy màn 1 "Khuyên ngươi à, ta thấy như khuyên một người gỗ thôi. Này, Liễu ạ, ngươi là mê đắm chốn doanh gấm trận hoa ấy rồi". Đối ngọc sơ màn 1 "Người bán hoa thì miệng bán hoa, đừng bước vào chỗ Doanh hoa trận gấm này của ta".
Phấn đại vi, Oanh hoa trận. Đào hoa phiến quyển 1 "Sinh nơi màn Phấn đại, Bước vào trận Oanh hoa, một giọng ca này là tiền bạc của tôi).
Bình khang. Vốn là tên một xóm trong kinh đô Trường An thời Đường, là nơi kỹ nữ tụ cư, người sau dùng đó để chỉ chung kỹ viện.
2. Đẳng cấp của kỹ viện
Đẳng cấp của kỹ viện đều tương ứng với quy mô, tiếng tăm của kỹ viện mà chia ra. Từ thời Đường Tống đã chia làm ba loại thượng trung hạ. Đến thời cận đại, sự chênh lệch về đẳng cấp của kỹ viện càng rõ ràng, lấy kỹ viện ở Thượng Hải thời cận đại làm ví dụ thì có bốn loại dưới đây:
a) Kỹ viện hạng nhất.
Kỹ viện hạng nhất ở Thượng Hải thời cận đại gọi là Thư ngụ, Trường tam Thư ngụ.
Thư ngụ thuộc loại cao cấp nhất trong kỹ viện. Hải thượng hoa liệt truyện hồi 2 miêu tả "Phác Trai phủi quần áo, định về khách sạn, lại thấy trước mặt là hẻm Thượng Nhân, nghe nói trong hẻm này đều là Trường tam Thư ngụ, bèn đi tới gần. Chỉ thấy trong hẻm nhà nào cũng có cầu thang sơn đỏ trước cửa, trên viết tên các Quán nhân, trong đó có một nhà trụ cổng bằng đá, tấm biển hiệu viết chữ sơn đen đề năm chữ Ngụ Hà Tiên thư ngự".
Thư ngụ Trường tam, vì khách chơi uống trà phải trả ba đồng tiền Tây dương, hầu rượu, Ngũ lại cũng đều trả ba đồng, nên có tên là Trường tam. Trường tam Thư ngụ không những có danh kỹ thu hút khách, mà trang trí trần thiết trong kỹ viện cũng vô cùng hoa lệ, đường hoàng lộng lẫy.
b) Kỹ viện hạng hai.
Kỹ viện hạng hai gọi là Yêu nhị Đường tử. Ở đó uống trà một đồng, hầu rượu một đồng, giữ khách ngủ lại mỗi lần trả sáu đồng, lần thứ hai thì trả hai đồng nên gọi là Yêu nhị. Vì trên biển ngoài cổng của loại kỹ viện này thường có chữ Đường, như Song Phúc đường, Cao thăng đường, nên gọi là Yêu nhị Đường tử. Yêu nhị Đường tử ở Thượng Hải phần lớn đặt trong tô giới thời trước, như Hồng Vận viện trong phường Hồng Vận cạnh Nam Kinh đại hý viện (nay là Phòng hòa nhạc Thượng Hải) đường Ái Đa Á, Nhị Hương viện, Thần Châu lữ quán đường Đông Tân Kiều (nay là đường Chiết Giang). Đào Công quán đường Lục Mã là một nhà Yêu nhị Đường tử nổi tiếng ở Thượng Hải thời trước. Trong "công quán" có một khách sảnh bài trí chỉnh tề, đó là nơi khách chơi bày Rượu hoa cho các "tiểu thư trong công quán". Rộng rãi sánh ngang với khách sảnh các nhà giàu có. "Khuê phòng" của "tiểu thư trong công quán" thì có vẻ kém hơn nhiều. Chủ chứa Đào công quán chia toàn bộ phòng ốc làm bốn tầng trên dưới, chia làm hơn ba trăm phòng, như một cái tổ ong. Mỗi phòng chỉ có thể đặt một cái giường, một cái bàn phấn và một thùng xí, một cái ghế, người ta gọi là Lồng bồ câu (Cáp tử lung). Loại khuê phòng của tiểu thư được gọi là Lồng bồ câu này suốt ngày không thấy ánh sáng, cũng không có không khí trong lành, tối tăm ẩm thấp, bước vào phòng thì mùi hôi hám và mùi son phấn xộc vào mũi khiến người ta buồn nôn. So với Đào công quán, điều kiện ở các Đường tử Yêu nhị như Dạ đô hội, Dương Quý Phi, Kim Thành còn kém hơn một bậc, các đường tử này đều là phòng ốc một gian ba tầng, chủ chứa kỹ viện lát ván cơi thêm thành năm sáu tầng, có thể chứa vài mươi kỹ nữ.
c) Kỹ viện hạng ba.
Kỹ viện hạng ba ở Thượng Hải thời trước chủ yếu là Trại thịt người (Hàm nhục trang), đường tử công khai (Khai môn đường tử), Phòng Khói hoa
Trại thịt người, vì người đầu tiên mở ra là họ Vi, nên còn gọi là Vi trang. Trong loại kỹ viện này, kỹ nữ cũng như "con thịt" bày bán ở sạp, giá cả rẻ mạt, mặc người ta tùy ý mổ xẻ. Bên trong đều treo ảnh kỹ nữ, do khách chơi lựa chọn, Những người ra vào loại kỹ viện này phần lớn là cặn bã xã hội như lưu manh, du đảng trong xã hội đen và bọn trộm cướp.
Phòng Khói hoa là tiệm hút thuốc phiện có kỹ nữ hầu hạ khách chơi hút thuốc phiện và ngủ lại. Cuối niên hiệu Đồng Trị thời Thanh, hai thành phố Thượng Hải và Nam Kinh thuốc phiện rất thịnh hành, tiệm hút thuốc phiện san sát như rừng. Trong đó có một loại Phòng Khói hoa, thuê phụ nữ tiêm thuốc cho khách, để mời gọi khách khứa, gọi là Tiệm hút có gái (Nữ tử Yên gian). Khách chơi tốn một hai hào là có thể muốn làm gì thì làm. Đến cuối đời Quang Tự, chính phủ nhà Thanh nghiêm cấm thuốc phiện, chủ chứa bèn dời đám kỹ nữ tiêm thuốc phiện ấy vào tô giới, bí mật mở ra kỹ viện làm việc mại dâm, lấy tên gọi Phòng Khói hoa cũ làm chiêu bài.
Tất cả Phòng Khói hoa đều chật hẹp, trong phòng trừ một cái giường thì cả ghế cũng không có. Hải thượng hoa liệt truyện hồi 2 tả "Ngoài cửa treo một đĩa đèn pha lê khói ám đen xì, bước vào cửa là cầu thang. Phác Trai theo đó bước lên, thấy chỉ có nửa gian lầu, vô cùng chật hẹp, bên trái đặt một chiếc giường rộng sơn đen, bên phải là một cái sạp hút thuốc phiện đối diện với cầu thang, có một cái bàn phấn bằng gỗ sam mộc dựa vào cửa sổ, hai bên có ghế cao hình chữ Xuyên, đó là đồ vật, trên giường có gối hoa nệm gấm".
d) Kỹ viện hạng tư.
Kỹ viện hạng tư ở Thượng Hải thời trước, có Bàn đinh (Đinh bằng), Hang sâu già (Lão trùng khoa).
Bàn đinh tương tự Phòng Khói hoa nhưng địa vị thấp hơn một bậc. Loại kỹ viện này mở trong Bằng hộ, chủ yếu tập trung ở một dải đường Áp Bắc Thiên Thông Am, cạnh Hồng Kiều chỗ Hồng Khẩu cũng có một số". Kỹ nữ trong đó một là không có nhan sắc, hai là không trang điểm, phần lớn mặt mày hốc hác, quần áo rách rưới. Vì họ già xấu không sao chịu nổi, nên ban ngày không dám công khai ra mặt tiếp khách, cho dù buổi tối cũng không thắp đèn nến. Khách chơi tới đó đều là loại những người lao động lớp dưới như phu xe, hầu bàn, cu ly, mục đích duy nhất của họ tới đó là để thỏa mãn nhục dục. Bất kể lúc nào, khách chơi chỉ cần bỏ ra ba hào tiền Tây dương là có thể trao đổi, tốc độ mau như đóng một cây đinh nên tục gọi là Đóng đinh (Đả đinh).
Hang sâu già tuy cũng gọi là Phòng Khói hoa nhưng có nhiều điểm khác biệt. Trong loại kỹ viện này khách chơi vừa bước vào cửa là có kỹ nữ bước ra tiếp đón. Khách chơi chỉ cần bỏ ra hơn hai hào là có thể lên đèn thòa mãn nhục dục. Cách bày trí trong Hang sâu già cũng rất đặc biệt, ngoài cửa phòng một gian đặt ngay cửa một cầu thang nhỏ hẹp, các kỹ nữ đều ngồi một bên cầu thang, ngoài cửa treo một đĩa đèn đầu nhỏ loại các xe hàng thường dùng, để làm biển hiệu. Họ ngồi ở cửa kỹ viện, miệng hát những bài ca khêu gợi như Thập bôi tửu, thấy có người bước vào là cao giọng gọi "Lại đây!". Nếu khách đứng lại quay nhìn, họ sẽ lập tức sấn tới, nắm tay khách như bắt từ nhân kéo lên lầu.
thay đổi nội dung bởi: Xuất Quân Vô Sầu., 28-10-2012 lúc 19:08
3. Cách cục của kỹ viện
Cách cục của kỹ viện, lấy ở Thượng Hải thời cận đại làm ví dụ, có thể chia làm ba loại là Đại viện chế, Phân viện chế và Tự gia chế.
a) Đại viện chế.
Đại viện chế tục gọi là Đại trường oa, cách cục là do chủ kỹ viện thuê mấy gian phòng, sau đó bài trí thành từng phòng thích hợp với việc kỹ nữ tiếp khách. Chủ chứa kỹ viện căn cứ vào tiếng tăm và đẳng cấp của kỹ nữ mà phân phối phòng ốc.
Kỹ nữ trong Đại viện chế gồm năm loại là kỹ nữ Bán đứt (Đoạn trướng kỹ nữ tức Thảo nhân - Bán mình), kỹ nữ Gán nợ (Áp trướng kỹ nữ), kỹ nữ Bao trướng (Bao trướng kỹ nữ), kỹ nữ Trừ nợ (Khổn trướng kỹ nữ) và kỹ nữ Tự do (Tự gia kỹ nữ).
b) Phân viện chế.
Phân viện chế là vì người bán mình trong kỹ viện không nhiều, việc làm ăn thưa thớt, nên đem phần lớn số phòng còn thừa cho các kỹ nữ tự do thuê, tức cái gọi là Bao phòng (Bao phòng gian). Kỹ nữ Bao phòng mỗi tháng ắt phải đúng lúc trả tiền thuê phòng, tiền cơm cho chủ chứa, chủ chứa cũng như chủ khách sạn. Nhưng kỹ nữ Bao phong muốn Bày rượu hoa thì phải dùng rượu thịt của kỹ viện, nếu không mỗi mâm đều phải đưa cho chủ chứa một số tiền nhất định. Ngoài những điều đó ra, việc làm ăn của kỹ nữ Bao phòng ra sao không có liên quan với chủ chứa.
c) Tự gia chế
Tự gia chế, là kỹ nữ tự thuê phòng, tự chuẩn bị thức ăn, tự lập môn hộ mà buôn bán thân xác. Loại kỷ nữ Tự gia này phần lớn là sau khi hoàn lương lấy chồng lại rơi rụng vào chốn phong trần, họ cam tâm tình nguyện làm nghề bán dâm nhất bản vạn lợi, phóng túng không bị ràng buộc này để sinh nhai.
Phòng của kỹ nữ Tại gia đều khá sang trọng, phần lớn trần thiết đẹp đẽ, vả lại còn mang đậm không khí gia đình, khiến khách chơi vừa bước vào đã có cảm giác khách tới như về nhà. Khách chơi phần lớn là loại đàn ông trẻ tuổi đẹp trai thuộc loại thượng lưu trong xã hội. Có một số kỹ nữ ở nhà thậm chí còn có cha mẹ anh em giúp đỡ kinh doanh.
d) Việc mở kỹ viện.
Mở kỹ viện, tục gọi là Phố phòng gian, cần có một số tiền bạc và đồ dùng nhất định. Trước tiên phải chọn địa điểm thích hợp thuê một gian nhà, kế đó mời người trang hoàng sắp xếp, chuẩn bị vật dùng trong nhà và trang sức "ăn nói" cho kỹ nữ dùng khi tiếp khách (như kỳ bào, châu ngọc, trâm nạm ngọc châu, ngọc cài tóc, vòng vàng, nhẫn vàng), mời các loại nhân viên công tác (như Bà dì, Chị lớn, Vòng ngoài, Thầy đàn, Tiên sinh kế toán). Khi mọi việc đã sắp xếp xong, thì có thể chọn ngày tốt khai trương kinh doanh, mời các khách quen uống rượu mấy ngày, để được sang trọng, phát phong bao lì xì.
Hải thượng hoa liệt truyện hồi 35 có miêu tả tường tận về tình hình kỹ viện chuẩn bị khai trương như sau:
"Nhị Bảo tự tới trả giá thuê phòng trong xóm Đỉnh Phong, rồi mang ba trăm đồng tiền Tây dương quay lại... Chọn được ngày mười sáu khai trương, thuê lại toàn bộ bàn ghế giường tủ gỗ hồng mộc trong nhà, lại đi mua sắm đồ dùng. Chị lớn A Xảo đi theo, lại thêm một Bà dì tên A Hổ, cả người Giúp việc cũng mất thêm hai trăm đồng. Phác Trai lấy giấy đỏ, viết bốn chữ đại tự Triệu Nhị Bảo ngụ dán ngoài cổng. Tối hôm ấy Thi Đoan Sinh tới uống rượu khai trương, khách mời có bọn Trần Tiểu Vân, Trang Lệ... Triệu Nhị Bảo một khi khai trương đường tử, làm ăn thịnh vượng, la cà đánh bạc uống rượu, vô cùng vui vẻ".
II. Quy củ và tiếng lóng trong kỹ viện
1. Quy củ của kỹ viện
Nghề kỹ nữ tuy là việc sinh nhai mạt hạng nhưng cũng có quy củ của nó. Trong quá trình bán dâm sinh nhai lâu dài, trong kỹ viện hình thành một hệ thống quy củ làm ăn riêng biệt, có khi gọi là Hàng quy.
Trước hết, theo quy củ của đường tử phàm có khách tới, thì Giúp việc cao giọng gọi một tiếng, nhưng trong đó lại có chia ra khách lạ và khách quen: nếu là khách lạ, thì Giúp việc chỉ xướng một tiếng "Khách tới", nếu là khách quen thì đều gọi Lão gia Mỗ, thiếu gia Mỗ. Nếu khách Mỗ bày vai thứ hai. Giúp việc sẽ gọi "Nhị thiếu gia". Nhưng muốn được Giúp việc kêu một tiếng "Nhị thiếu gia" ấy cũng rất không dễ, ít nhất cũng phải mất vài trăm đồng.
Thứ hai, nếu khách chơi không thiếu tiền kỹ viện thì kỹ nữ không được kiếm cớ (như viện cớ xấu xí, lớn tuổi) mà khinh mạn, không chịu ứng thù, lại càng không được khách đang trong phòng mà vô cớ đuổi ra, cho người khác vào Bày rượu hoa Ngủ lại.
Khách chơi bày tiệc trong kỹ viện, ngoài việc trả tiền theo quy định, còn phải cho tiền thưởng (tức Tiền giày dép), số lượng nhiều ít tùy khách, kỹ nữ, Bà dì và người trong kỹ viện không được mở miệng đòi số mục cụ thể. Nếu khách bày tiệc trước ngày rằm tháng giêng, theo hàng quy của đường tử phải chi Tiền giày dép gấp đôi, ví dụ mười đồng phải trả hai mươi đồng, hai mươi đồng phải trả bốn mươi đồng. Đương nhiên khách thưởng tiền ít sẽ bị Quán nhân, Bà dì và Chị lớn chế nhạo, vì vậy khách chơi bày tiệc đều tở ra vô cùng phóng khoáng.
Khách chơi trong kỹ viện không được tự ý đi bừa vào các phòng. Phàm các phòng có buông rèm thì bất kể là khách nào cũng nhất định không được bước bừa vào.
Ngoài ra, theo quy củ của Bắc bang, khách Gọi cuộc Quán nhân, Quán nhân ấy phải tới thẳng chỗ mọi người đang ăn tiệc mới được cáo từ. Nếu có người khác Gọi cuộc, hoặc có người đang uống rượu đánh bạc trong kỹ viện thì phải xin phép khách trước mặt đi vắng một lúc, tới chỗ khác rồi sẽ trở về tiếp tục ứng thù.
2. Gia pháp của kỹ viện
Trong kỹ viện, chủ chứa hoặc Lãnh ban, Bản gia rõ ràng là kẻ thống trị tối cao, các thành viên trong kỹ viện bao gồm kỹ nữ và đàn ông đàn bà Giúp việc đều chịu sự chi phối của chủ chứa hoặc Bản gia. Việc họ trách phạt đánh đập kỹ nữ trước nay vẫn được coi là thiên kinh địa nghĩa, không còn gì phải bàn. Kỹ nữ đối với sự trách phạt phán xử của chủ chứa, Bản gia, bất kể có thích đáng hay không, cũng phải ngoan ngoãn vâng lời, không được chống đối. Vì chủ chứa và Bản gia phần lớn đều là bọn lưu manh, kỹ nữ xuất thân, mang nhiều tố chất ngu muội, dã man, lại thêm họ vốn có một hệ thống chuẩn mực hành vi khác hẳn với xã hội chính thống, vì thế gia pháp của họ càng mang tính tàn khốc. Nguồn gốc của từ Chủ chứa (Nha mẫu) chính là bằng chứng phụ về việc họ ngược đãi kỹ nữ. Thượng Bỉnh Hòa trong Lịch đại xã hội phong tục sự vật khảo quyển 44 nói "Kẻ bộc thán, là nói dùng roi đánh đập kỹ nữ trẻ, cơn giận bộc phát như than (thán) bốc cháy (bộc). Cùng gọi là Nha mẫu, đại khái là chữ Bộc nói chệch đi". Gia pháp của họ có dùng que sắt nung đỏ đốt tay đốt ngực kỹ nữ, có dùng roi đánh vào lưng vào mông, có khi phạt quỳ đội gạch hay tảng đá giặt áo trên đầu, có khi trói chặt treo lên đánh đập, thậm chí có khi bỏ mèo vào đũng quần kỹ nữ cho cào cấu vân vân. Trong đó các loại gia pháp thường thấy nhất có:
a) Tế roi (Tế tiên).
Cái gọi là roi, hàng thoại trong nghề kỹ nữ gọi là Roi vạn năng (Vạn năng tiên), dùng dây da bện thành, trong cắm hơn trăm mũi kim lộ ra ngoài khoảng hai phân. Lúc tế thì đặt roi trước bài vị Ngũ đại tiên. Đến lúc đêm khuya vắng người, sai kỹ nữ thắp hương quỳ cạnh bàn thờ, do bọn Đầy tớ rùa (Miết đầu) nói rõ bản sắc của kỹ viện, lấy "đại nghĩa" hiểu dụ, giở trò mềm mỏng, kế đó lại dọa nạt, nếu dám chống đối, hoặc định bỏ trốn, ắt sẽ dùng tới gia pháp". Sai kỹ nữ cầm Roi vạn năng lên nhìn kỹ, sau đó đưa cho Đầy tớ rùa treo lên cái vòng trong mật thất, đến khi kỹ nữ tỏ vẻ phục tùng mới thôi. Nếu kỹ nữ bỏ trốn mà bị bắt về, hoặc tra xét được rõ ràng là có ý bỏ trốn, thì Đầy tớ rùa và Lão bản sẽ giam kỹ nữ vào phòng tối, cởi quần ra, trói giật cánh khuỷu treo lên xà nhà, dùng Roi vạn năng đánh đập, gọi là Thử roi (Thí tiên). Có lúc cũng sai các kỹ nữ khác đứng ngoài cửa xem, có ý giết một người dọa trăm người. Cái gọi là Thử hoàn toàn không phải là đánh nhẹ, mà đánh tới hàng trăm roi, khắp người tóe máu, hơi thở thoi thóp mới dừng. Kỹ nữ bị trừng phạt hôm sau vẫn phải tươi cười tiếp khách, không được để lộ nửa điểm dấu vết, nếu hơi hé ra cho khách biết, Đầy tớ rùa biết được sẽ đánh nữa, gọi là Lên gặm (Thượng đại khang - ý là ăn cơm hàng ngày). Một số Lão bản độc ác không những đánh đập kỹ nữ bỏ trốn bị bắt về mà còn cho kỹ nữ liên tiếp hai ngày không có khách Lên gặm. Đương nhiên vì đặc điểm nghề nghiệp nên theo lệ trước nay là đánh lên người không đánh lên mặt, đánh phía sau không đánh phía trước (1).
Về loại gia pháp Thử roi này, tiểu thuyết Song hợp hoan của Thanh Tâm tài nhân thời Thanh chép như sau:
"Má Tú sai bọn tay chân lột hết quần áo Thúy Kiều ra, cả vải bó chân cũng lột sạch, lấy dây buộc chặt trước ngực, xỏ qua hai khuỷu tay, buộc chặt hai ngón tay cái, treo lên trên xà nhà. Cách đất ba tấc, chỉ cho mũi chân chạm đất. Trên vách tường cũng có một người giả bị trói treo lên, chỉ không cởi quần lót của y. Thúy Kiều không tấc vải che thân, trần truồng như nhộng, xấu hổ không có lỗ nẻ mà chui. Đến lúc ấy sống chết do người, một thân vô chủ, chỉ đành nhắm nghiền hai mắt, tùy theo ý họ. Má Tú chửi "Đồ dâm phụ, quân tiện nhân! Ta bảo ngươi tiếp khách, ngươi lại lấy dao cứa cổ dọa ta, vậy ngươi theo người ta trốn đi làm gì? Loại hèn hạ như ngươi không đánh thì làm sao chịu sợ!". Bèn rút roi da ra đánh một mạch hai ba mươi roi. Đáng thương cho Thúy Kiều, chưa từng bị đánh đập lần nào, tay bị buộc chặt treo lên, chỉ còn hai ngón chân cái chạm đất. Đánh một roi xoay một vòng, xoay chuyển không thôi. Đúng là
Nhân tình tự thiết phi vi thiết,
Hình pháp như lô khước thị lô
(Lòng người tựa sắt không là sắt,
Hình phạt như nung lại đúng nung).
Thúy Kiều muốn chết không được, muốn sống không được, năn nỉ "Má ơi, đừng đánh nữa, con chết mất". Má Tú nói "Ạ, ngươi muốn chết à, thì ta đánh cho ngươi chết", lại đánh một mạch hai ba mươi roi nữa. Thúy Kiều run sợ, nói "Má, thật là đừng đánh nữa, má cứ bán con đi". Má Tú nói "Ta đang muốn đánh ngươi rồi sẽ bán". Lại đánh thêm hai ba chục roi. Lúc ấy Thúy Kiều gần như tắt thở... Chịu đau không nổi, nài nỉ nói "Má, đúng là con không phải. Từ nay về sau không dám phạm lỗi nữa, xin nghe lời má dạy bảo. Xin má giơ cao đánh khẽ, Vương Thúy Kiều nhất thời nông nổi, bị Sở Khanh lừa dối, bỏ má trốn đi, vốn không phải bản ý của con. Hôm nay hỏng việc rơi vào tay má, sống chết tùy má, còn mất tùy má. Chỉ xin má thương con rời nhà xa quê, lưu lạc tới đây. Xin má ngoài hình phạt ban nhân đức, mở một mặt lưới. Má, Thúy Kiều quả thật không chịu đòn được nữa. Đáng thương Vương Thúy Kiều lên trời không lối, xuống đất hết đường, đau đớn nát lòng xé ruột. Má, có thể tha được thì nên tha, má không nghĩ tới người cũng nên nghĩ tới tiền, cũng nên tha con lần này. Má, lần này má có lời gì, nếu con không nghe hãy đánh cũng chưa muộn mà".
Nói tới chỗ đau lòng, người chung quanh ai cũng ứa nước mắt. Má Tú nói "Thế thì cứ đánh thêm một trăm roi nữa rồi sẽ theo lời ngươi". Bèn cầm roi lên định đánh tiếp. Thúy Kiều hoảng sợ nói "Thôi đi, không chịu nổi nữa đâu, sẽ chết đây". Đầu lắc lắc ba lần, chân giật giật mấy cái, Chỉ thấy mười đầu ngón chân phun máu tươi, tóc tai xõa tung, miệng sùi bọt trắng, khóe mắt ứa máu. Mọi người nhìn thấy cảnh tượng như thế, nhất tề quỳ xuống van xin cho nàng, Má Tú thấy tình trạng như thế cũng sợ chết người, bèn ưng thuận nói "Vì mọi người xin, nên tha cho ngươi, từ nay trở đi mà trái lời ta thì chịu bao nhiêu roi?" Thúy Kiều nói "Nếu còn trái quy củ của má, xin nhận một trăm roi". Má Tú nói "Từ nay trở đi, thấy người phải bước ra đón, khách tới phải gọi pha trà, tươi cười lấy lòng, đón mời hầu rượu, đều không được trái lệnh. Nếu trái sẽ đánh một trăm roi da". Thúy Kiều rối rít nói "Thì đúng là thế" (2)
Từ sự miêu tả trong tiểu thuyết, chúng ta không khó tưởng tượng ra sự tàn khốc của hình phạt đánh roi.
b) Đánh mèo không đánh người.
Trong kỹ viện còn lưu hành hình phạt vừa tàn khốc vừa độc ác "đánh mèo không đánh người". Cái gọi là Đánh mèo không đánh người là trói chặt tay chân kỹ nữ đặt lên giường, bắt một con mèo bỏ vào đũng quần nàng, sau đó buộc chặt lưng quần và ống quần lại, dùng gậy tre đánh mèo. Con mèo bị đau tự nhiên cào cấu trong quần kỹ nữ, dùng móng sắc cào bừa hạ thể của kỹ nữ, khiến kỹ nữ không sao chịu được, sau cùng đành phải khuất phục. Loại hình phạt tàn độc này đã khiến kỹ nữ bị hình phạt phải khuất phục chủ chứa, lại không ảnh hưởng tới việc kỹ nữ tiếp khách sau đó. Quả thật có thể nói là một "phát minh" tàn ác của kỹ viện.
c) Nung đốt.
Cái gọi là Nung đốt (Hỏa chước), là dùng que sắt, kim sắt nung đỏ hoặc que tre đâm vào mông kỹ nữ. Loại hình phạt này còn tàn khốc, độc ác hơn hai loại đã nói trên. Điểm thạch trai họa báo cuối thời Thanh, tập Mão có chép về cực hình ngược đãi kỹ nữ thê thảm này "Chủ chứa tàn ác là mụ Vương ở Thương Kiều Tô thành có con gái nuôi tên Nám Nám, rất xinh đẹp, mụ ta muốn lấy đó làm Cây tiền. Nhưng cô gái sống trong chốn Câu lan song nết na, không chịu tiếp khách, mụ ta giận vì không vâng lời, nung đỏ cây tiêm thuốc phiện đốt hai vú".
_______________________
(1) Xem thêm Ban Biên tập địa phương chí Thành phố Khai Phong, Khai Phong dân tục (Nội san).
(2) Song hợp hoan, quyển 9, hồi 10.
3. Tiếng lóng trong nghề kỹ nữ
Ngôn ngữ riêng của nghề kỹ nữ đã nảy sinh từ thời Tống, như người đương thời gọi ca kỹ là Lược gỗ dầu (Du thủy sơ), khách chơi là Thằng già (Cô lão), Anh rể (Thư phu), chủ chứa là Liễu xanh (Liễu thanh), cha hờ của kỹ nữ là Quyết đinh, hai người đàn ông cùng ngủ với một kỹ nữ là Anh rể (Di phu), vào kỹ viện là Lên đài hoa (Thượng hoa đài), say mê kỹ nữ gọi là Thiệm biểu tử, vân vân. Đến thời Minh Thanh tiếng lóng chuyên dùng trong nghề kỹ nữ lại càng thịnh hành, đã xuất hiện những trước tác như Kim Lăng lục viện hàng ngữ. Bước vào (Nhập mã) là tiếng lóng lưu hành đương thời, chỉ việc ngủ lại kỹ viện, như Nam từ tự lục của Từ Vị thời Minh viết "Nhập mã, là bước vào. Lối nói của kỹ viện". Nhảy máng (Khiêu tào) cũng là thuật ngữ lưu hành trong kỹ viện thời Minh, chỉ khách quen tới chơi bời với một kỹ nữ khác. Cảnh thế thông ngôn quyển 31, Trọng Xuân Nhi trùng vượng Tào gia trang "Xuân Nhi không yên tâm, ngầm bảo người đi gọi y, tuy không Nhảy máng nhưng vẫn đang ăn to uống lớn như cũ".
Đến thời cận đại tiếng lóng nghề nghiệp của kỹ nữ lại càng phức tạp không sao kể xiết, như có khách tới cửa gọi là Xem sánh (Khán sánh), khách chọn kỹ nữ gọi là Khều người (Khiêu nhân nhi), kỹ nữ được khách chọn gọi là Khách quảy lên (Quải thượng khách), kỹ nữ ngủ với khách gọi là Quảy khách (Quải khách), khách nhờ người giới thiệu giùm gọi là Khách bán vải (Bố khách), phòng của kỹ nữ được chọn gọi là Phòng mình (Bản ốc tử), khách không có một đồng gọi là Khuôn đồ gốm (Dao bì), theo người tới động gọi là Gặp mép (Yết biên), vài người cùng quen một kỹ nữ hoặc vài kỹ nữ cùng quen một người gọi là Hoa (Hoa tử), chọn kỹ nữ quen với bạn mình ở phương bắc gọi là cắt hoa (Cát hoa), phương nam gọi là Xén mép (Tiễn biên), cùng ngủ với một kỹ nữ gọi là Anh em hoa (Hoa huynh hoa đệ), người cùng ngủ với một kỹ nữ gặp mặt nhau gọi là Họp hoa (Hội hoa tử), khách nặng tình với kỹ nữ gọi là Khách quen (Thục khách), Khách nóng (Nhiệt khách), Khách có ơn (Ân khách), kỹ nữ nặng tình với khách chơi gọi là Người nóng (Nhiệt nhân nhi), khách hẹn ở lại uống rượu gọi là Khách ruột (Định khách), hẹn ở lại rồi sau đó lại nuốt lời gọi là Khách quay đầu (Hồi đầu khách), khách chơi già gọi là Thùng oan nghiệt (Oan thống), Gã mắc dịch (Ôn sinh), người Gặp mép theo bạn được giữ lại uống rượu Mượn giường khô gọi là Đùi ngủ (Thụy thoái), khách phá trinh kỹ nữ trẻ gọi là Khách xái nhất (Đả đầu khách) hoặc Lão già buộc lược (Sơ lộng cô lão), khách ngủ với kỹ nữ đã phá trinh gọi là Khách xái nhì (Đả nhị khách), người được giữ lại sau Khách xái nhất gọi là Kéo cửa thành (Ai thành môn), Rỉa nồi (Loát oa), khách chơi vì bận việc không thể tới ngủ lại mà sáng tinh mơ đã tới ngủ với kỹ nữ gọi là Tới sớm (Hãn tảo nhi), Tới lật thành (Đảo hãn thành), Tới chăn nóng (Hãn nhiệt bị trì), kỹ nữ tới kỳ kinh nguyệt gọi là Ra nệm (Lai điếm tử), kỹ nữ gặp kỳ kinh nguyệt hoặc đang mắc bệnh mà có khách quen tới chơi ra tiếp nhưng không giữ khách ngủ lại gọi là Giữ nệm (Thủ điếm tử) hoặc Giữ trời râm (Thủ âm thiên), kỹ nữ tỏ vẻ kiều mỵ thân thiết với khách gọi là Vận kình (Thượng kình nhi), kỹ nữ được gọi tới hiệu ăn hoặc nhà riêng của khách gọi là Lên mua bán (Thượng mại mãi), kỹ nữ và khách không hẹn mà gặp, khách viết thêm Phiếu gọi cuộc gọi là Thêm điều (Bổ điều tử), lúc kỹ viện mở cửa do khách đánh trống thưởng tiền gọi là Nghe đánh trống (Thính đả cổ), kỹ viện mỗi dịp lễ tết do khách bày cơm, đánh bài, nghe đánh trống một lần gọi là Mở chợ (Khai thị), kỹ viện trước ngày lễ tết vài hôm cho các kỹ nữ về nhà gọi là Lên xe (Thượng xa), kỹ nữ mỗi khi đến ngày lễ tết trở về kỹ viện gọi là Xuống xe (Hạ xa), kỹ nữ xuống xe xong được khách thưởng tiền gọi là Bưng xuống xe (Bổng hạ xa), kỹ nữ tới ngày lễ tết không về nhà gọi là Bán luôn (Liên thị), kỹ nữ và khách quan hệ đã thân thiết tới mức lưu khách ở lại gọi là Tới ban (Đáo ban nhi), kỹ nữ ngoài thu nhập thông thường còn vòi vĩnh tiền bạc của khách gọi là Kê thang thuốc (Khai phương tử), Kiếm hàng lẻ (Sao tiểu hóa), Chém búa (Trảm phủ đầu), kỹ nữ ra khỏi kỹ viện tiếp khách gọi là Qua ban (Quá ban nhi), kỹ nữ mới ra tiếp khách gọi là Vừa ra tay (Tân xuất thủ), kỹ nữ làm ra vẻ mặt lạnh lùng tiếp khách gọi là Thùng băng (Băng thống), khách chơi trong kỹ viện hất chân nhau gọi là Khách húc (Đỉnh khách), kỹ nữ hoàn lương gọi là Bay cao (Cao phi), khách chơi tuyệt giao với kỹ nữ gọi là Nồi bể (Liệt oa), khách chơi đã tuyệt giao với kỹ nữ nhưng sau khi điều đình hòa giải lại thân thiết với nhau gọi là Nồi hàn (Cư oa), kỹ nữ dùng mắt đưa tình gọi là Gợi ý (Điếu bàng tử), khách chơi đòi giấy đỏ mời khách gọi là Đòi tấm giấy (Nã chỉ phiến), kỹ nữ tư thông với Mã sư gọi là Khuôn dây đàn (Huyền tử sáo), kỹ nữ bồi tiếp chủ chứa hoặc đàn ông Lãnh gia qua đêm gọi là Tiếp quầy (Bồi quỹ), khách chơi trẻ tuổi đẹp trai gọi là Mặt trắng nhỏ (Tiểu bạch kiểm), khách chơi xấu xí gọi là Chà và (Ấn Độ), khách chơi và kỹ nữ hôn môi nhau gọi là Cắn ngoan ngoan (Giảo quai quai), kỹ nữ ứng thù không chu đáo để khách tức giận gọi là Khều con mắt (Khiêu nhãn nhi), những đàn ông đàn bà giúp việc trong kỹ viện vào kỹ viện làm việc gọi là Nhận việc (Đới đương), Chị lớn tha thướt xinh đẹp gọi là Cái vở (Xác đầu) vân vân.
Đương nhiên trong các kỹ viện không cùng đẳng cấp thì tiếng lóng nghề nghiệp tự nhiên của khác nhau. Lấy kỹ viện ở Thượng Hải thời cận đại làm ví dụ, thì tiếng lóng nghề nghiệp trong các kỹ viện khác nhau tự hình thành hệ thống, đều có sự đặc sắc riêng.
a) Trường tam Thư ngụ
Chủ Thư ngụ Trường tam gọi là Bản gia, kỹ nữ là Tiên sinh, đầy tớ rùa là Giúp việc (Tương bang), con gái chủ chứa (con gái nuôi) là Tiểu bản gia, theo người khác vào kỹ viện là Tương biên đại thần, nhạc công đánh đàn cho kỹ nữ hát là Mã sư, kỹ nữ vừa được thu nhận vào kỹ viện là Hàng mới (Nguyên sinh hóa), kỹ nữ Bao trướng là Bao thân thể, kỹ nữ Bán đứt là Thảo nhân, kỹ nữ Tự gia là Lõa kế, người có thế lực mà kỹ nữ dựa vào là Giữ cửa (Chưởng môn khẩu), khách chơi có tiền mà không biết gì, bị kỹ nữ và chủ chứa lừa gạt là Anh dê (Cải dương ca), khách chơi dè xẻn mà biết lễ phép là Thắt ống dẫn tinh (Quát tinh mã tử), khách chơi bỏ tiền ra không đáng là Gã mắc dịch (ôn sinh), khách không giàu có nhưng thích chơi gái là Gã tham (Cực sinh), kỹ nữ nhờ chị em cùng kỹ viện tiếp khách thay là Thay kiệu (Đại kiệu), kỹ nữ đang ăn nên làm ra là Hồng quán nhân, kỹ nữ không có tên tuổi gì là Bếp lạnh (Lãnh táo), tiền lẻ khách chơi thưởng cho người hầu hạ trong kỹ viện là Giày dép (Hạ cước) hoặc Tiền giày dép (Hạ cước dương tiền), kỹ nữ hoàn lương lấy chồng là Hạ bảng (Trừ bài tử), khách chơi chuộc kỹ nữ thưởng tiền cho những người hầu hạ trong phòng là Đưa mâm bạc (Tống ngân bàn), người làm trong kỹ viện chúc mừng khách chuộc mình cho kỹ nữ là Dâng đào xuân (Hiến xuân đào), Mã sư chúc mừng khách chuộc mình cho kỹ nữ là Tặng áo đỏ (Tống hồng sam), lúc kỹ nữ có kinh nguyệt là Khóa sông (Phong giang), khách chơi đánh bài, ăn uống, ngủ lại trong kỹ viện là Ba vang (Tam hưởng đầu), khách chơi già nua là Lạy lẻ (Bái đơn), Lão gia ngói (Ngõa lão gia), kỹ nữ bị động kinh là Ăn rau (Ngật tư thái), khách chơi thiếu tiền bỏ đi là Giặc chơi (Tiêu phỉ), khách chơi gian dâm với đầy tớ gái trong kỹ viện là Chắp chân (Tháp cước), khách chơi không hào sảng là Rút chỉ (Khiên ty), kỹ nữ thân thể to lớn thô kệch là Đại a phúc, khách chơi thân thể gầy nhỏ là Khỉ đầu (Du hồ tôn), kỹ nữ lớn tuổi hoặc chủ chứa tàn độc là Rết già (Lão bách cước), khách chơi có thân phận địa vị là Mâm trên (Thượng đài bàn), bán dâm để sinh nhai là Ăn cơm Bả thế (Ngật bả thế phạn), chủ chứa ký kết khế ước với kỹ nữ là Viết giấy (Tả chỉ), khách chơi đánh mạt chược, ăn uống trong kỹ viện là Làm hoa (Tố hoa đầu).
b) Kỹ viện Xu kỹ
Giữa ban ngày hành dâm gọi là Đốt pháo (Đả pháo), ban đêm hành dâm là Làm cuộc (Tố cục), tiền khách ngũ lại qua đêm là Ném bàn (Phao bàn số), kỹ nữ đứng đầu đường kéo khách là Ngồi núi (Tọa sơn), kỹ nữ ở đầu đường rủ mời khách cùng về là Dâng hương (Hành hương), kỹ nữ bán dâm gọi là Làm ăn (Tố sinh ý), đầy tớ đàn ông quét dọn trong kỹ viện gọi là Giúp việc (Tương bang), đám du côn lưu manh mà kỹ nữ nhờ vả lúc rảnh rỗi ghé lại ngủ qua đêm không trả tiền gọi là Chơi không (Trường bạch), kỹ nữ đã có khách bao vẫn tiếp khách khác gọi là Mặc áo tơi (Phi soa y) vân vân.
c) Phòng Khói hoa
Kỹ nữ mà kỹ viện mới mua về gọi là Hàng khuôn (Sáo hóa), kỹ nữ dựa cửa vẫy khách gọi là Đón Thần Tài (Tiếp Tài thần), kỹ nữ làm ăn không khá gọi là Cùn (Thất phong), kỹ viện hoặc kỹ nữ ăn nên làm ra gọi là Bén (Thượng phong), khách chơi không sành dùng tiền không đúng mức gọi là Lão sộp (Sung đầu tử), khách chơi hoặc kỹ nữ mắc bệnh dương mai gọi là Đỗ Trạng nguyên (Trúng Trạng nguyên), kỹ nữ bị chủ chứa đánh đập chửi mắng gọi là Ăn điều (Ngật điều tử), khách chơi mới tới Phòng khói hoa chơi gái gọi là Rơi núi (Lạc sơn), khách chơi bao tiền cho kỹ nữ gọi là Quảy đỏ (Quải hồng), phí tổn khách chơi thỉnh thoảng ghé lại kỹ viện ngủ qua đêm gọi là Tiền nhang (Hương đầu), khách chơi sướng ngất gọi là Đóng cửa phòng (Quan phòng môn) vân vân
d) Bàn đinh
Khách chơi gọi là Mắm già (Lão bào), khách chơi lập tức sướng ngất là Phóng ngựa (Bão mã) hoặc Đóng đinh (Đả đinh), khách chơi qua đêm là Đến sáng (Thông tiêu), kỹ nữ đòi thêm tiền của khách là Gậy giải sầu (Đả muộn côn) phí tổn khách chơi ngủ lại qua đêm là Cái đinh (Đinh tử), kỹ nữ kéo khách là Kéo xác (Lao tử thi), kỹ viện hoặc kỹ nữ làm ăn không khá là Làm ngược (Đảo tác), người vừa làm kỹ nữ là Hàng mới (Tân sơn hóa).
e) Trại thịt người
Kỹ nữ trong kỹ viện gọi là Hàng (Trang hóa), Con thịt (Hàm nhục), chủ chứa gọi là Trang chủ, kỹ nữ mà kỹ viện thuê gọi là Ngồi trại (Tọa trang), kỹ nữ gà lẻ ở nhà gọi là Bão trang, lưu manh mà kỹ viện dựa vào hay vợ chồng của chủ chứa gọi là Cái then (San đầu), thông gian gọi là Ngửa bài (Lộ thiên bài cửu), giới thiệu khách làm quen với kỹ nữ gọi là Lột da (Lạp bì điều), khách ít tiền mà thích chơi gái gọi là Đại thiếu Hoa sen (Hà hoa đại thiếu), khách bị thua thiệt mà không biết là Gã mắc dịch (Ôn sinh), khách chơi nhờ người khác chọn kỹ nữ giúp là Xem hàng (Định hóa) vân vân (3)
Ngoài ra tiếng lóng nghề nghiệp của kỹ nữ ở nam bắc Trung Quốc cũng có sự khác biệt rất lớn. Như kỹ nữ Ra cuộc, phương nam gọi là Ra hát (Xuất đường xướng), phương bắc gọi là Ra điều (Xuất điều tử), đầy tớ rùa trong kỹ viện, phương nam gọi là Giúp việc (Tương bang), phương bắc gọi là Đàn ông (Nam ban tử), Bình trà lớn (Đại trà hồ), khách chơi chọn kỹ nữ thân thiết với bạn của mình, phương bắc gọi là Cắt hoa (Cát hoa), phương nam gọi là Xén mép (Tiễn biên), kỹ nữ thì Thượng Hải gọi là Quán nhân, một dải Thiên Tân gọi là Cô nương, kỹ viện thì Thượng Hải gọi là Đường tử, Thiên Tân gọi là Quật tử vân vân, phản ánh sự khác biệt về văn hóa giữa hai vùng nam bắc Trung Quốc.
_______________________
(3) Xem thêm Khúc Ngạn Bân, Trung Quốc dân gian bí mật ngữ (Tiếng lóng dân gian Trung Quốc), Tam Liên thư điếm, Thượng Hải phân điếm, 1990.
III. Nhân viên trong kỹ viện
Ngoài kỹ nữ, kỹ viện còn có rất nhiều nhân viên làm những việc liên quan, như Lão bản, nam nữ Tương bang, Mã sư và Tiên sinh kế toán. Bọn họ trong kỹ viện ai lo việc người ấy, có tác dụng phối hợp với nhau.
1. Cha hờ mẹ hờ
Cha hờ mẹ hờ tức cha mẹ nuôi của kỹ nữ còn gọi là Can gia Can má. Họ là Lão bản, Bản gia trong kỹ viện, cũng là gia trưởng của kỹ nữ.
Cha hờ mẹ hờ phần lớn là kẻ âm hiểm xảo quyệt, mất hết nhân tính. Họ dưới sự hấp dẫn của tiền bạc, đều không ngó ngàng gì tới đạo đức luân lý, tình nghĩa ruột thịt. Thanh sam lệ thời Thanh miêu tả nhân vật Kiền bà như sau "Thí mạng trong đống bạc, yên thân trong tiền bạc, mở kỹ viện đem con ra bán", chính là miêu tả rất chính xác về mẹ hờ. Họ coi kỹ nữ là Cây tiền, Chậu của, không chọn thủ đoạn ép kỹ nữ bán dâm, điên cuồng giày vò tinh thần và thể xác của kỹ nữ, là loại cặn bã của xã hội, là kẻ bóc lột không làm mà ăn.
a) Cha hờ
Cha hờ còn gọi là Quyết đinh, Quy đầu, Miết đầu, Quật chủ, Đường chủ, Nam bản gia, Ngũ nô, Bát lão, Can gia, Đại bá.
Quyết đinh còn gọi là Quyết (quyết = tâm + quyết) là từ gọi Quy nô. Ung Hy nhạc phủ, Điểm giáng thần, màn Vữ ước vân tình "Con ta đợi xem hàng mới, đời nào chịu tái giá với Quyết đinh". Nhất chi hoa, Tư tình của Kiều Cát "Lão bà bà ngồi giữ hành giám, Quyết đinh ác sáng bốn chiều ba". Từ việc đem lão bà đối với Quyết đinh trên đây, có thể thấy đó là Lão bản, tức Cha hờ.
Đại bá. Thủy hử truyện hồi 69 viết "Tới nhà Lý Thụy Lan, Đại bá nhìn thấy Sử Tiến, giật nảy mình".
Bản gia. Hải thượng hoa liệt truyện hồi 27 viết "A Toán ta là Bản gia"
Ngũ nô. Mộng lương lục của Ngô Tự Mục thời Nam Tống, quyển 16 "Lại có quán trà, là nơi bọn Ngũ nô chuyên tụ họp". Lưu Hàng thủ màn 2 "Thì nghe lời Kiền bà, Ngũ nô dạy, chứ đừng nghe lời thần tiên".
b) Mẹ hờ
Mẹ hờ tức nữ chủ nhân trong kỹ viện. Bắc lý chí giải thích "Mẹ của kỹ nữ phần lớn là Mẹ hờ. Tục gọi là Bộc thán, không biết nguyên do, có lẽ là điển cố cha mẹ chồng khó tính". Còn gọi là Nha mẫu, Nha nhi, Nha kỹ, Quy bà, Phủ súc nương, Bạc mẫu, Má nhi, Thanh liễu, Bốc nhi, Bảo nhi, Kiền bà, Bác ma vân vân.
Nha mẫu. Chu Quyền thời Minh trong Thải hòa chính âm phổ, Từ lâm tu tri viết "Kỹ nữ già gọi là Nha. Nha giống con nhạn mà lớn hơn, không có ngón sau, sắc rằn ri, dâm đãng không chán, chim nào cũng nhảy được, người ta còn gọi là Độc báo. Người nay dùng chữ Nha là vì như thế". Người sau dùng đó gọi Mẹ hờ (hoặc mẹ nuôi) của kỹ nữ là Nha mẫu. Nha mẫu còn gọi là Nha nhi, Lão nha, như Lưu Đình Tính trong Trại nhi lệnh, Giới tiêu đãng "Quyết đinh oai lẫm lẫm, Nha nhi ác lang lang” (Cha hờ oai lẫm liệt, Mẹ nuôi tướng dữ dằn). Khúc Giang trì màn 2
"Khả kham Lão nha thái vô ân,
Phách hạ cô bần bán tử thân"
(Nghĩ xem chở chứa rất vô ơn,
Bỏ mặc người nghèo cứ chết dần).
Bảo nhi. Liễu doanh khúc. Phong nguyệt đảm của Vô danh thị
"Bảo nhi tâm hùng củ củ,
Quyết đinh kiểm lãnh sưu sưu"
(Bảo nhi lòng mạnh mẽ,
Quyết đinh mặt lạnh lùng).
Bạc mẫu. Thanh hạnh tử, Ngộ mê của Mã Trí Viễn viết "Cũng không sợ Bạc mẫu trách mắng, đám con xưa nay vẫn biết tính nết".
Bác ma. Tống Nguyên hý văn tập dật, Trương Tư Uyên ương đăng "Nô gia từ nhỏ rơi vào chốn yên hoa, bị người Bác ma này cấm đoán, chịu đủ sự hành hạ".
Bốc nhi. Mặc nga tiểu lục quyển 14, Hàng viện thanh thốc "Nhân vật: Nam kỹ mẫu, Bốc nhi".
Má nhi. Cứu phong trần màn 1 "Nàng dốc lòng lấy ta ta dốc lòng cưới nàng làm vợ, nhưng Má nhi của nàng không chịu". Khúc Giang trì màn 2 "Ngươi không sợ người ngoài chê cười, Má nhi tức giận, gia gia ta trách phạt sao!".
Má má. Tuyên Hòa di sự viết "(Lý) Sư Sư nghe nói, sợ đến nỗi hồn bất phụ thể, vội rời chỗ tới nói với mẹ nàng... Lý Má má nghe câu ấy hoảng sợ chạy đi nói với hai dãy phòng tả hữu tìm giết Tôn Vinh". Văn song mộng màn 2 "Thiếp rơi vào nhạc tịch Lạc Dương, chỗ Trương Má má".
Liễu thanh. vì chủ chứa sắc mặt âm trầm lạnh lùng mà thành tên. Như Vân song mộng màn 3 "Hận là hận gã Phùng Khôi xấu xa, bán ta cho Liễu thanh". Vương Trọng Nguyên trong Phổ thiên nhạc "Liễu thanh nghiêm, oan gia tạm. Tình truvền nhãn giác, hận ký mi tiêm" (Chủ chứa nghiêm, oan gia khắc. Tình đưa khóe mắt, hận gởi đuôi mày).
2. Bà dì, Chị lớn
Bên trong kỹ viện chủ yếu là Bà dì, Chị lớn, họ là đầy tớ gái trong kỹ viện, là người giúp việc cho kỹ nữ. Trong đó người có chồng gọi là Bà dì (Di nương), người còn trẻ chưa lấy chồng gọi là Chị lớn (Đại thư). Họ chủ yếu phụ trách việc tạp vụ trong phòng kỹ nữ, như quét dọn bàn ghế, bưng cơm rót nước, dọn dẹp giường chiếu, cho tới những việc chải đầu trang điểm cho kỹ nữ, khách tới kỹ viện thì do họ bưng trà đưa khăn, kỹ nữ Ra cuộc thì họ mang đàn đi theo, phụ trách cả việc bảo vệ, kiểm soát kỹ nữ.
Bà dì còn có loại gọi là Bà dì tới cùng (Đả đê nương di), Bà dì theo cuộc (Căn cục nương di), Bà dì nặng nhọc (Thô tố nương di). Bà dì tới cùng là người giúp việc trong phòng kỹ nữ trẻ, vì kỹ nữ còn quá nhỏ tuổi không thể giữ khách ngủ lại qua đêm mà lại gặp lúc có khách nhất định đòi ngủ lại qua đêm trong phòng kỹ nữ, thì do Bà dì tới cùng thay thế kỹ nữ trẻ qua đêm với khách. Tuy ăn chén cơm Bà dì trong Đường tử nhưng có câu "Mại chủy bất mại thân" (Bán miệng không bán thân), vì tất cả các Bà dì đều đã có chồng, có nghĩa vụ "giữ trinh tiết". Nhưng ở chốn dục vọng thị phi, Bà dì muốn giữ trinh tiết, làm một người trong sạch thì không phải chuyện dễ, Vì thế, nghề Bà dì tới cùng cũng theo đó mà nảy sinh. Bà dì theo cuộc chuyên phụ trách việc theo kỹ nữ ra đương sai, như A Quế trong Tục hải thượng phồn hoa mộng là Bà dì theo cuộc của kỹ nữ Kinh Hoa. Bà dì nặng nhọc là người giao cho kỹ nữ sai bảo, phụ trách các việc nặng nhọc như giặt giũ, dọn giường, quét nhà nấu cơm vân vân.
Chị lớn cũng có những tên gọi như Chị lớn tới cùng (Đả đê đại thư), Chị lớn theo cuộc (Căn cục đại thư), Chị lớn nặng nhọc (Thô tố đại thư). Bọn họ đều còn khá trẻ tuổi, nhiệm vụ là hầu hạ kỹ nữ trong những việc sinh hoạt hàng ngày, ngoài ra còn phải giúp đỡ kỹ nữ tiếp khách, như tiêm thuốc phiện, mời trà bánh vân vân, cũng như các a hoàn bên cạnh tiểu thư trong nhà quý tộc. Hải thượng hoa mỵ ảnh hồi 5 miêu tả:
"Chỉ thấy một Chị lớn khoảng mười bảy mười tám tuổi, búi tóc theo kiểu mới, giắt một chiếc trâm vàng, bên cạnh cắm một cây lấy ráy tai bạc, đeo một đôi hoa tai vàng, khuôn mặt trái xoan, mày tỉa mắt sáng, thoa một lớp phấn mỏng, khẽ nhún nhảy như chim sẻ, mặc một chiếc áo sa bó sát người tay bằng cổ rộng, thêm một chiếc áo khoác bằng sa mịn, một chiếc quần màu nguyên sắc, chân đi một đôi hài hồ điệp màu hồ sắc, tay đeo vòng bạc dát mỏng, tay trái đeo một chiếc nhẫn vàng, cầm một chiếc tiêm thuốc phiện bằng bạc. Mọi người thấy Chị lớn này tuy không phải mười phần xinh đẹp, nhưng cũng khá phong tao, đều chăm chú nhìn chị ta"
Ngoài ra, Chị lớn tới cùng còn phải thay kỹ nữ trẻ tiếp khách ngủ lại. Như Tiểu Thúy trong Tục hải thượng phồn hoa mộng, "Từ trước đã làm Chị lớn tới cùng trong kỹ viện Di Tình Các phường Thanh Hòa, mặt mũi khá sáng sủa" (4). Mà Chị lớn theo cuộc cũng phải Ra đường xướng với kỹ nữ, giúp đỡ kỹ nữ ứng thù với khách, vì vậy cũng thường bị đám khách chơi hạ lưu lăng nhục vô lý. Địa vị của họ trong kỹ viện rất thấp, đời sống cực kỳ bi thảm. Ví dụ A Xảo trong tiểu thuyết Hải thượng hoa liệt truyện, lúc mười bốn mười lăm tuổi đã làm thuê trong kỹ viện, chịu đủ mọi sự vất vả và hành hạ, cô ta khóc lóc nói với chồng mới cưới rằng:
"Tôi làm Chị lớn, một tháng lãnh lương một đồng, từ tháng Giêng đến nay chưa được ba đồng Tây dương, đã gởi về quê, bây giờ chỉ còn hai hào tiền Tây dương".
Cho dù là tiền công "mỗi tháng một đồng" như thế cũng không dễ có được, họ phải làm việc vất vả tới mức người thường không sao chịu nổi:
"Sáng sớm vừa dậy, ba cái bàn đèn, tám cái điếu hút thuốc lào thì phải tôi dọn dẹp. Lại thêm ba gian phòng, quét dọn, dọn bàn, đổ ống nhổ, lục lý tất cả chưa làm. Suốt buổi chiều giặt quần áo, một đống quần áo đều giao cho tôi, suốt cả ngày đêm không lúc nào được rảnh rỗi. Có lúc khách khứa đánh bạc, suốt đêm không nghỉ, đến sáng vẫn còn chơi, không hề mỏi mệt, tôi không thể dọn phòng".
______________________
(4) Tục hải thượng phồn hoa mộng, hồi 22.
3. Giúp việc
Đầy tớ trai trong kỹ viện gọi là Ngoại trường, Ngoại thế, Tương bang, Quy nô, Quy trảo, Bát lão, Vương bát, Vong nhân, Nam lãnh ban, Đại trà hồ, Miết thoái, Nhị gia.
a) Quy nô.
Từ Quy nô này bắt đầu từ thời Minh Vương Sĩ Trinh đầu thời Thanh trong Trì bắc ngẫu đàm, quyển 22, Danh quy nói "Lân phụng quy long gọi là tứ linh, từ thời Hán Đường Tống trở đi những người lấy chữ Quy để đặt tên nhiều không kể xiết. Đến thời Minh lại coi đó là sự kiêng kỵ, thật không sao hiểu được". Lại căn cứ Cai dư tùng khảo của học giả Triệu Dực thời Thanh, quyển 38, Húy quy thì Quy nô là chỉ đàn ông cho vợ đi lang chạ, người đương thời lấy đó để gọi đám Giúp việc (Tương bang).
b) Bát lão.
Cổ kim tiểu thuyết quyển 3 "Ngô Sơn vào cửa hiệu, mua hàng một lúc. Bát lão bên trong bước ra mời uống trà, mời vào trong".
c) Nhị gia.
Hải thượng hoa liệt truyện hồi 5 "Có Nhị gia bước ra đỡ kiệu".
Trong các kỹ nữ hạng sang ở Thượng Hải thời cận đại có đặt ra đám Giúp việc khiêng kiệu, kéo xe, Giúp việc trực trong phòng, Giúp việc phân phối kỹ nữ, mời trà khách chơi, Giúp việc canh đêm, ở phương bắc thường thấy có đám Đại trà hồ, Bão sảnh, Đại trà hồ chuyên phân phối kỹ nữ, mời trà khách chơi, Bão sảnh thì cũng tương tự đám Giúp việc đưa khách lên phòng trong các kỹ viện ở phương nam. Tóm lại nhiệm vụ của đám Vòng ngoài (Ngoại trường) chủ yếu là: đón khách, giúp khách chọn kỹ nữ, đưa Phiếu gọi cuộc, giục kỹ nữ Ra cuộc, Bày tiệc, đòi nợ, khiêng kiệu, đổ rác, mua trái cây, pha trà, canh cửa và bảo vệ trật tự trong kỹ viện, giám thị hoạt động của kỹ nữ. Địa vị của họ trong kỹ viện rất thấp kém, phàm người trong kỹ viện đều có quyền sai phái.
Vòng ngoài tuy là việc hèn hạ nhất trong kỹ viện, nhưng không phải bất cứ ai cũng làm được, nó cần có một kỹ năng nhất định. Phàm kẻ làm Vòng ngoài trong kỹ viện phần lớn đều là bọn vô lại ở chợ búa mềm nắn rắn buông, biết xem lời nói xét sắc mặt, biết ăn nói. Họ đều có một khả năng đặc biệt thế này: chỉ cần khách chơi vào kỹ viện một lần thì lần thứ hai bước vào, bất kể là xa cách bao lâu, họ cũng nhất định nhớ được tên khách là gì, lần trước là ai tiếp đãi, quả có thể nói là huấn luyện có bài bản.
4. Bì điều khách
Bì điều khách là chỉ loại người ăn không ngồi rồi trong xã hội thường đi lại trong kỹ viện, làm mối lái cho kỹ nữ và khách chơi. Họ tuy không phải là người trong kỹ viện nhưng có quan hệ mật thiết với kỹ viện.
Bì điều khách trong tiếng lóng nơi chợ búa thời Tống Nguyên trở đi còn gọi là Nhàn gia, Mã bạc lực, Miệt phiến Bang nhàn vân vân.
Mã bạc lục, còn gọi là Mã bách lục, Mã bá lục, Mã bác lục, là chỉ người chuyên làm việc quan hệ nam nữ bất chính. Chử Nhân Hoạch trong Kiên biều tập, Quảng tập, quyển 6 nói "Tục gọi kẻ làm mối lái là Mã bá lục, không rõ nghĩa ngẫu nhiên thấy trong Quần toái lục chép: Đàn ngựa ở phương bắc, mỗi một con đực thì có hơn mười con cái đi theo, con cái đều theo con đực, không vào bầy khác, nên gọi phụ nữ là Má má *. Nếu tính là ngẫu nhiên, cũng là mỗi con ngựa đực thì dùng sáu con ngựa cái, nên gọi là Mã bá lục chăng? Một thuyết nói khi ngựa giao hợp ắt dựng đứng lên như người đưa vào của ngựa cái, nên gọi là Mã bá lục". Thạch điểm đầu, quyển 12 "Bọn ăn không ngồi rồi trong xóm làng, lại làm Mã bách lục cho người ta". Kim Bình Mai hồi 57 "Y lại đi làm một gã Mã bát lục, kiếm được nhiều tiền".
Ngoài đám Cha hờ Mẹ hờ, Bà dì, Chị lớn, Giúp việc, Bì điều khách nói trên, một số kỹ viện hạng sang còn có các nhân viên như Mã sư, Tư trướng, Tư thái, Xa phu. Mã sư tức thầy nhạc trong kỹ viện đều phổ biến trong cả kỹ viện ở hai vùng nam bắc, kỹ nữ theo lời gọi Ra đường xướng, Mã sư ắt cầm đàn đi theo, đàn giúp vui trong tiệc. Tư trướng là tiên sinh kế toán trong kỹ viện. Tư thái tức đầu bếp trong kỹ viện.
________________________
* Chữ Má đây trong Hán tự viết với nữ + mã.
Không có nhận xét nào:
Đăng nhận xét