Chương 4. Phương thức tiếp khách của kỹ nữ
I. Phương thức tiếp khách của kỹ nữ
Kỹ nữ tiếp khách có phương thức nhất định, trong đó phương thức của kỹ nữ hạng sang rất rắc rối, thông thường có Uống trà (Bả trà vi), Ra hát (Xuất đường xướng), Uống rượu hoa (Ngật hoa tửu), Ngủ đêm (Trú cục).
1. Uống trà
Uống trà còn gọi là Gặp uống trà (Đả trà hội), Mở mâm (Khai bàn nhi), Uống trà lớn (Yết đại trà), chỉ việc khách chơi tới kỹ viện nghe hát, chọn một kỹ nữ bồi tiếp, cùng lả lơi vui vẻ, kỹ viện sẽ đưa lên một bình trà và một đĩa hạt dưa mời khách. Tục lệ này lưu hành ở các kỹ viện hạng sang.
Uống trà có nghi thức nhất định. Vòng ngoài vừa thấy có khách lạ tới, sẽ cao giọng gọi "Khách tới", dùng chén trong sảnh pha cho khách một chén trà. Chén trà trong kỹ viện rất có quy củ, loại chén nhỏ mà thô gọi là Chén trà đầu vườn (Viên đầu trà uyển), chuyên dùng để mời trà khách lạ tới lần đầu. Khách lạ qua sự giới thiệu đã ưng ý kỹ nữ nào, kỹ nữ ấy sẽ vào phòng mình lấy một cái chén tinh xảo đẹp đẽ, pha trà ngon đích thân bưng cho khách, gọi đó là Thêm chén trà (Gia trà uyển), biểu thị việc đính ước giao du giữa kỹ nữ với khách, tục gọi là Vin tình (Phàn tương hảo). Kế đó, Vòng ngoài sẽ bưng Khô ướt (Can thấp, tức kẹo mứt) lên. Lúc ấy khách phải bỏ tiền ra, đặt lên khay trà, gọi là Tiền khay (Bàn tử tiền) hoặc Làm khay (Đả trà bàn). Tục lệ này trong Cửu vĩ quy hồi 143 có ghi lại rất chi tiết:
"Kim Quan sát đột nhiên nói với Thu Cốc "Ta quên mất một chuyện. Ngươi vừa vào đây, chưa có người tình, thì chọn một trong những Thanh quán nhân ở đây được chứ?". Thu Cốc nghe thấy, gật đầu ưng thuận. Kim Quan sát lại nhìn Kim Lan nói "Mau gọi họ lên đây ra mắt". Kim Lan dạ một tiếng, bước ra ngoài phòng. Chỉ nghe Vòng ngoài cao giọng xướng một tiếng "Có khách!''. Kim Lan liền quay người đi luôn. Trong giây lát, tiếng cười nói huyên náo, các kỹ nữ kéo tới, cao thấp lố nhố hơn mười mấy nàng bước vào, cũng có người lớn tuổi, có người nhỏ tuổi, có người đẹp, có người xấu, lũ lượt kéo vào, đứng đầy cả phòng. Có người liếc mắt đưa tình, có người tươi cười khêu gợi, có người cười khúc khích, có người cấu véo nhau. Người nào cũng làm duyên làm dáng, ra vẻ phong tình. Thu Cốc nhìn kỹ từng người một lượt, cảm thấy không có ai vừa mắt, toàn là bọn tầm thường, không có người nào xuất sắc. Chỉ có một nàng bước vào sau cùng, khoảng mười bảy mười tám tuổi, mặc một chiếc áo sa màu huyền thiết, một chiếc quần sa màu thanh thiên, đôi bàn chân nhỏ bốn tấc đi một đôi hài bảo lam bình kim cong vút, tóc trên đầu chỉ búi qua, không mang một món nữ trang nào nhưng càng rõ vẻ mắt sáng răng trắng, mặt ngọc môi son, mày như vầng trăng, má như ráng chiều... tư thái yêu kiều, dáng vẻ xinh đẹp. Thu Cốc nhìn nàng một cái, rồi chỉ vào nàng hoi Kim Quan sát "Nàng kia tên gì?". Kim Quan sát vỗ tay cười nói "Quả nhiên nhãn lực của ngươi không kém! Nàng tên Vân Lan, cũng mới từ Thượng Hải tới, ngụ lại trong ban Bảo Hoa này. Đến nay lại được ngươi ưng ý". Thu Cốc nghe xong bèn bước qua nắm bàn tay Vân Lan nhìn kỹ một lượt. Vân Lan bị Thu Cốc nắm tay hơi bực mình, nguýt Thu Cốc một cái nói ''Làm cái gì thế? Từ từ hãy nhìn có được không?". Thu Cốc cười khẽ, buông tay nàng ra. Vân Lan lườm Thu Cốc một cái, quay lại gọi khẽ một tiếng 'Mang hạt dưa lên" chỉ nghe bên ngoài dạ một tiếng, mang vào hai đĩa hạt dưa. Vân Lan đón lấy, đầu tiên mời Quan sát, kế mời Thu Cốc, lại nhìn Thu Cốc cười khẽ một tiếng. Thu Cốc bèn kéo tay nàng bảo ngồi xuống, nói hết chuyện nọ tới chuyện kia. Các nàng Thanh quán nhân lưu lạc kia lúc mới vào thấy Thu Cốc còn trẻ, dáng vẻ tiêu sái đều cảm thấy động tâm, đầu mày cuối mắt đưa tình, bây giờ thấy y chọn Vân Lan, mọi người đều biết mình không có phúc phận, vừa thẹn thùng vừa ganh ghét, đều hứ một tiếng bước ra".
Kỹ nữ thời cận đại Vin tình xong còn vui vẻ đưa cho bạn tình một số tấm danh thiếp nhỏ in hoa, xin họ thường thường chiếu cố. Nếu kỹ nữ không muốn đính ước với khách chơi, cũng lấy chén trà để tỏ ý, lại đều thường lấy cớ phải Ra cuộc để đuổi người khách lạ Uống trà, nói là Xua chó (Hấn cẩu tẩu). Nếu kỹ nữ đã có bạn tình mới, không muốn quan hệ với khách cũ, thì lúc khách cũ tới không Thêm chén trà, tục gọi là Đổi chén trà (Cách trà uyển). Theo thông lệ trong kỹ viện thời cận đại, kỹ nữ tiếp khách Uống trà đều trong khoảng nửa giờ, quá giờ phải trả tiền thêm. Ngoài ra, khách Uống trà chỉ được trò chuyện cười nói, tán tỉnh lả lơi với kỹ nữ, không được ép buộc kỹ nữ quan hệ tình dục.
Tục lệ Uống trà nảy sinh khá sớm. Thời Tống gọi là Uống trà hoa (Ngật hoa trà). Đương thời tiền trà khách trả cho kỹ viện gọi là Tiền trà (Can trà tiền). Như Đô thành kỹ thắng, Trà phường viết "Trà phường là do các kỹ viện bày bàn ghế ra, lấy trà làm cớ, bọn hậu sinh cam chịu tốn tiền, gọi là Tiền trà". Vu lâm cựu sự, quyển 6, Ca quán viết "Phàm mới vào cửa lần đầu, ắt có người mang bình ra mời trà, tuy một chén cũng đòi tiền, gọi là Trà châm hoa (Điểm hoa trà)"
2. Ra cuộc
Sau khi Uống trà, kỹ nữ đã có người tình mới. Khách chơi có thể tùy lúc tới vui thú, cũng có thể gọi kỹ nữ ra ngoài bồi rượu tiếp khách. Kỹ nữ được gọi ra ngoài bồi rượu ca hát gọi là Ra cuộc. Việc kỹ nữ Ra cuộc, ở Thượng Hải gọi là Ra đường xướng (Xuất đường xướng), ở Bắc Kinh gọi là Ra điều tử (Xuất điều tử).
Khách chơi gọi cuộc phải có Phiếu gọi cuộc (Cục phiếu), tức giấy gọi kỹ nữ tới ca hát bồi rượu trong tiệc, trên đó ghi rõ hoa danh của kỹ nữ, tên kỹ viện, địa điểm mở tiệc và tên khách. Có khi còn ghi rõ tên khách chơi trên danh thiếp của kỹ nữ quen. Kỹ nữ nhận được Phiếu gọi cuộc gọi Ra đường xướng, sẽ thay đổi quần áo, tô son đánh phấn, vội vội vàng vàng tới bồi tiếp. Gọi cuộc đều là ca hát, cũng có khi rất thanh nhã, tức kỹ nữ ngồi bên cạnh khách, rót rượu mời y. Lúc ấy, thường đều là cơ hội rất tốt cho kỹ nữ tỏ vẻ phong tình, họ cố ý lấy lòng, lưu ý mọi việc, ngàn phương trăm kế khêu gợi dục tình của khách để lấy lòng họ, khiến về sau họ thường Gọi cuộc.
Tiền Ra cuộc theo quy củ của các kỹ viện ở Thượng Hải thời cận đại thì khách quen có thể thiếu, vào ba ngày Đoan ngọ, Trung thu, Trừ tịch thì kết toán.
Theo tư liệu sử sách mà nói thì lệ Gọi cuộc đã bắt đầu hình thành từ thời Tống, đương thời gọi là Chấm hoa bài (Điểm hoa bài). Hoa bài là tấm bài mang danh hiệu của kỹ nữ. Đô thành kỹ thắng, Tửu tứ viết "Nếu muốn chơi gái thì tới Quan khố Chấm hoa bài". Mộng Lương lục, quyển 10, Điểm kiểm sở tửu khố viết "Những kẻ phong lưu tài tử ở quận ấy, nếu muốn mua vui một phen thì thường tới Quan khố Chấm hoa bài, tùy ý lựa chọn".
Ra cuộc có Ra cuộc lần đầu, Ra cuộc lần kế. Cái gọi là Ra cuộc lần đầu là chỉ khách trên tiệc gọi một nhóm kỹ nữ tới ca hát mời rượu, Ra cuộc lần kế là chỉ khách trên tiệc gọi nhóm kỹ nữ khác tới ca hát mời rượu. Ngoài ra còn có Chuyển cuộc (Chuyển cục), Mang cuộc (Đới cục), Trộm cuộc (Thâu cục).
Chuyển cuộc, theo tục lệ ở Thượng Hải, là kỹ nữ theo lời gọi Ra cuộc, nếu không có khách nào khác đưa Phiếu gọi cuộc tới, thì tất cả đều phải chờ đến khi tan tiệc mới được về, nếu liên tiếp nhận được hai ba Phiếu gọi cuộc hoặc đang Ra cuộc mà có Phiếu gọi cuộc, thì phải giữa chừng rời tiệc, chuyển qua chỗ khách khác ca hát mời rượu, như thế gọi là Chuyển cuộc. Cách này rất được các kỹ nữ hoan nghênh, vì tất cả các kỹ nữ đều muốn chuyển qua vài cuộc, cách thức Chuyển cuộc khiến họ đi đi lại lại, tránh khởi bị sàm sỡ.
Mang cuộc là chỉ khách Uống rượu hoa từ tiệc này chuyển qua tiệc khác ở cùng một chỗ để tiệc bên kia khỏi phải gọi kỹ nữ khác.
Trộm cuộc là chỉ kỹ nữ mượn cơ hội Ra cuộc để lên giường quan hệ tình dục với khách quen. Điều đó trong nghề mại dâm là hành vi "không quang minh", vì theo quy củ của kỹ viện, kỹ nữ Ra đường xướng chỉ được mời rượu ca hát, không được lên giường với khách.
Cuộc câm (Á cục) là chỉ khách chơi gọi kỹ nữ không biết hát tới mời rượu.
Cuộc giả dạng (Đả dạng cục) là chỉ khách chơi mạo nhận để gọi kỹ nữ không quen biết tới mời rượu ca hát trong tiệc.
Tuy việc kỹ nữ Ra cuộc là "món làm ăn nhỏ" trong nghề kỹ nữ, nhưng chủ chứa rất coi trọng, một là có thể mượn cơ hội đó để kỹ nữ làm quen với khách chơi, để về sau kỹ nữ có cơ sở giữ khách ở lại trong phòng, hai là để họ lấy số lượng thủ thắng, vì đối với các kỹ nữ đang nổi tiếng gặp
thời thì mỗi ngày Ra cuộc bốn năm mươi lần là chuyện thường, thu nhập trong một ngày Ra đường xướng cũng rất khả quan. Vì thế chú chứa ra sức trang điểm cho các kỹ nữ Ra cuộc, cấp cho họ các loại nữ trang như vòng xuyên kiềng nhẫn, vòng phỉ thúy, trâm bạc, chuỗi hạt trai. Đương nhiên những nữ trang quý báu ấy, sau khi kỹ nữ Ra đường xướng trở về thì theo quy củ của kỹ viện phải giao lại hết cho chủ chứa, hôm sau Ra đường xướng mới có thể lại nhận chìa khóa mở rương lấy ra dùng.
Đối với kỹ nữ thì Ra cuộc là một việc khổ sai. Kỹ nữ Úc Tiếu nói "Người ta ai cũng bằng xương bằng thịt, mà một ngày phải ra đương sai bốn năm mươi, năm sáu mươi lần, chỉ một chuyện lên cầu thang cũng đã mỏi nhừ chân rồi. Đúng là chỉ biết có tiền, không kể gì tới tính mạng của người ta" (1).
_______________________
(1) Nhân gian địa ngục hồi 63.
3. Uống rượu hoa
Uống rượu hoa, còn gọi là Bày rượu hoa (Bài hoa tửu), Bày cơm (Bài phạn cục), Cuộc ăn (Ngật cục), là chỉ khách chơi bày tiệc trong phòng kỹ nữ để tiếp khách, nhờ kỹ nữ mời rượu làm vui. Khách chơi hoặc rót rượu mời nhau, hoặc xai quyền làm tửu lệnh, hoặc tay trái ôm tay phải sờ, các kỹ nữ thì vừa tất bật mời rượu, mời thức ăn, xai quyền, vừa phải cầm khăn lau mồ hôi cho khách, cất tiếng ca hát, không ngừng hát những bài hát dâm đãng cho khách nghe. Lúc bấy giờ mùi rượu bóng hoa lời ca tiếng nhạc, nói không xiết tình cảm ngọt ngào, nói không hết lòng dạ khoan khoái.
Tục lệ Uống rượu hoa đã có từ xa xưa lưu truyền lâu dài. Theo sử sách ghi chép, từ thời Tống đã rất thịnh hành. Thời bấy giờ khách trên tửu lâu theo hoa bài gọi kỹ nữ bồi rượu, gọi là Chấm hoa bài. Như Vũ lâm cựu sự, quyển 6, Tửu lâu chép "Khách khứa lên lầu, thì lấy hoa bài ra chấm gọi người mời rượu, gọi là Chấm hoa bài".
Vì Uống rượu hoa lâu hơn Uống trà, nên khách chơi phải trà tiền nhiều gấp năm sáu lần lần Uống trà. Ngoài ra theo quy củ của các kỹ viện ở Thượng Hải thời cận đại, khách khứa mở tiệc mời khách trong kỹ viện phải đưa tiền mặt. Phí tổn ngoài mười đồng cho mỗi bàn, còn phải có tiền thưởng gọi là Tiền giày dép (Hạ cước). Tiền giày dép nhiều ít tùy khách, mỗi bàn thì Tiền giày dép ít là hai ba chục, nhiều là tám chục, một trăm tiền. Nếu khách mở tiệc mời khách ngày rằm tháng giêng, thì phải trả Tiền giày dép gấp đôi tức mười tiền phải đưa thành hai mươi, hai mươi phải đưa thành bốn mươi.
Uống rượu hoa có nghi thức nhất định, trong đó chủ yếu có hai bước là Đưa khăn tay (Khởi thủ cân) và Mời tiên sinh (Thượng tiên sinh). Đại khái khi khách đã tới đủ, chủ nhân bèn gọi "Đưa khăn tay", Vòng ngoài bèn bưng mâm đựng khăn tay lên, bắt đầu vào tiệc. Mọi người lau mặt xong, thì theo vai vế ngồi vào tiệc. Các kỹ nữ sau khi món thứ nhất đã bưng lên thì lục tục vào tiệc, ngồi ở chỗ lệch về phương sau của người khách gọi mình. Nếu là kỹ nữ Trường tam, thì có thể trước tiên đàn hát rồi sau đó vào tiệc, cũng có thể vào ngồi trước rồi sau đó sẽ đàn hát. Nếu là kỹ nữ Yêu nhị, thì tất cả chỉ mời rượu mà không đàn hát. Kỹ nữ vào tiệc gọi là Mời tiên sinh. Vì danh phận của kỹ nữ là mời rượu, không phải là khách nên không thể cùng ăn uống với khách. Nhưng nếu người khách của mình xai quyền bị thua hoặc làm trái tửu lệnh, thì kỹ nữ theo lệ phải có "nghĩa vụ" uống rượu phạt thay khách, ngoài ra trước khi tan tiệc, khách khứa bắt đầu ăn cơm, các kỹ nữ cũng có thể cùng ăn cơm bồi tiếp với khách. Cho nên trước mặt mỗi kỹ nữ, theo lệ đều đặt một đôi đũa.
Đổi mặt bằng (Phiên đài diện), Rượu tồn (Tồn tửu) cũng là các danh mục trong việc Uống rượu hoa. Như khách Mỗ bày tiệc mời khách ở kỹ viện Mỗ, hoặc mọi người vẫn còn hứng, hoặc vì lý do nào khác (ví dụ trong tiệc phát hiện ra khách nào có tình ý thắm thiết với kỹ nữ nào đó), thì người khách ấy sẽ làm chủ bày thêm một tiệc khác ở kỹ viện ấy hoặc kỹ viện khác, mọi người tiếp tục ăn uống, hết hứng mới thôi, gọi là Đổi mặt bằng. Rượu tồn là lúc chưa tan tiệc mà kỹ nữ Đổi cuộc về trước, có thể phải uống mấy chén rượu còn "tồn lại".
Đương nhiên quy củ Uống rượu hoa của kỹ viện ở những nơi khác nhau cũng không hoàn toàn giống nhau như ở Tô Châu thì khác rất nhiều so với Thượng Hải. Cửu vĩ quy miêu tả:
"Nguyên là quy củ trong Đường tử ở Tô Châu khác với Thượng Hải, uống rượu đánh bạc ở Thượng Hải đều phải trả hai mươi quan, vả lại khách khứa uống rượu, người trong phòng không được gì hay, chẳng qua chỉ dựa vào Vòng ngoài, nếu gặp khách đánh bạc, người trong phòng mới được chút ít, chuyện đó thì người trong chốn yên hoa đều biết. Đường tử ở Tô Châu lại khác hẳn, vốn chỉ có uống rượu, không có đánh bạc. Ngẫu nhiên có khách nào cao hứng, hẹn hò bạn bè, mở một sòng bạc, thì tiền đánh bạc có thể tùy tiện, có khi bốn quan, có khi sáu quan, không có số mục nhất định, về sau có kẻ tính toán nhỏ nhen, chỉ tới đánh bạc chứ không uống rượu, tuy không có tiền đánh bạc nhưng vẫn phải có thuốc trà cơm rượu, làm ầm cả lên, kỹ viện và các kỹ nữ chịu không nổi mới theo lối các Đường tử ở Thượng Hải, định ra danh mục đánh bạc, mỗi sòng phải trả tám đồng Tây dương. Còn như khách uống rượu thì tình hình đại thể khác với Thượng Hải, mỗi mâm chỉ có hai mươi quan nhưng ngoài ra còn có rất nhiều khoản khác, người uống rượu bất kể là chủ hay khách cũng phải bỏ ra một số tiền mâm, mỗi người hai đồng, phải trả bằng tiền mặt, nếu Gọi cuộc thì phải trả tiền ghế cho kỹ nữ, mỗi người một đồng, cũng phải trả bằng tiền mặt tại chỗ. Như trên mâm có tám người, mỗi người Gọi cuộc một lần thì phải trả mười sáu đồng, tám đồng tiền ghế, tính ra còn hơn cả hai mươi đồng tiền tiệc, đó là chỗ có lợi của các kỹ nữ. Cho nên Đường tử ở Thượng Hải chỉ thích khách đánh bạc chứ không thích khách uống rượu. Đường tử ở Tô Châu thì chỉ thích khách uống rượu chứ không thích khách đánh bạc, đó cũng là chỗ khác nhau trong phong khí kỹ viện giữa Thượng Hải và Tô Châu. Lại như ở Tô Châu, bày tiệc mời khách trong kỹ viện, khách được mời nhất định phải là người vẫn thân thiết với kỹ viện ấy mới chịu tới, vì tiền mâm đều phải chính mình bỏ ra, không như Thượng Hải không có khoản ấy, tức khách Gọi cuộc cũng phải là người quen biết kỹ nữ mới chịu ứng thù, vì tiền cuộc của người khách ấy đến ngày mới trả, mà tiền ghế của kỹ nữ Ra cuộc thì chính kỹ viện ấy phải bỏ ra (2).
_______________________
(2) Cửu vĩ quy, hồi 54.
4. Ngủ lại
Ngủ lại tức kỹ nữ giữ khách lại ngủ qua đêm ở kỹ viện. Trong Thư ngụ Trường tam việc này được chia làm hai loại là Thuê giường khô (Tá can phố) và Thuê giường ướt (Tá thấp phố). Khách ngủ lại kỹ viện mà không có quan hệ tình dục với kỹ nữ thì gọi là Thuê giường khô, ngủ lại kỹ viện mà có quan hệ tình dục với kỹ nữ thì gọi là Thuê giường ướt.
Theo tục lệ ở kỹ viện, kỹ nữ vào hôm được khách chọn hoặc do người khác giới thiệu được khách mà lập tức giữ khách lại ngủ qua đêm trong phòng mình thì gọi là Ruổi ngựa nhận chức (Tẩu mã phó nhiệm), khách ngủ lại trong phòng kỹ nữ từ hai đêm trở lên gọi là Lên đài liên tiếp (Tẩu liên đài), kỹ nữ gặp kỳ kinh nguyệt hoặc đang bị bệnh có khách quen tới thì bồi tiếp nhưng không giữ lại thì gọi là Giữ đệm (Thủ điếm tử), Giữ trời râm (Thủ âm thiên) vân vân.
Bốn phương thức tiếp khách trên đây chủ yếu lưu hành trong các kỹ viện hạng sang ở phương nam (như Thư ngụ Trường tam ở Thượng Hải thời cận đại). Kỹ viện hạng vừa (như Kỹ viện Trĩ kỹ) tuy cũng có các phương thức tiếp khách này, nhưng nghi thức và tên gọi có khác. Như họ gọi việc khách chơi uống trà là Ngồi trong phòng (Tọa phòng gian), khách ngủ lại qua đêm trong phòng kỹ nữ là Ở lại đêm (Trú dạ sương), khách quan hệ tình dục với kỹ nữ giữa ban ngày là Đốt pháo (Đả pháo), ban đêm gọi là Làm cuộc (Tố cục). Ngoài ra kỹ nữ trong Đường tử Yêu nhị ở Thượng Hải ngẫu nhiên ra ngoài đương sai thì thu phí đắt hơn Đường tử Trường tam, phải là hai đồng. Tục lệ Uống rượu hoa cũng lưu hành trong Đường tử Yêu nhị, mỗi khi đến tháng chín, Đường tử Yêu nhị bày Núi hoa cúc (Cúc hoa sơn) trong phòng khách lớn dưới lầu, kết hoa cúc khắp bốn vách trong phòng khách bày rất nhiều bàn ghế, để các khách khứa giàu có tùy ý lui tới mời khách. Lúc bấy giờ những khách chưa bao giờ đặt chân tới kỹ viện hạng sang như Đường tử Yêu nhị cũng nhao nhao tới xem Núi hoa cúc. Những khách xem Núi hoa cúc, còn gọi là Ăn hoa mai năm cánh (Ngật ngũ mai hoa), tức mỗi người uống rượu phải mất mười hay hai mươi đồng, khách làm chủ tiệc phải trả tiền rượu năm mâm cho kỹ viện, mỗi mâm mười hai đồng. Còn như các kỹ viện hạng dưới thì không có quy trình rắc rối phức tạp như vậy, họ chủ yếu lưu hành một phương thức là Kéo giường (Lạp phố).
Cái gọi là Kéo giường là có ý kéo rèm lên giường ngủ, tức khách chơi vào cửa đưa tiền xong, kỹ nữ sẽ lập tức quan hệ tình dục với họ, khi khách đã thỏa mãn thì mời về ngay.
Kỹ nữ Kéo giường giá cả không những rẻ mạt mà còn bị giày vò rất tàn tệ. Mỗi ngày họ phải tiếp mười khách trở lên, nhiều thì thậm chí hai ba mươi khách. Có thể nói suốt đêm không được nghỉ ngơi, cơ hồ biến thành một cái máy thỏa mãn xác thịt.
Các kỹ viện phương bắc thì không có quy trình phức tạp như kỹ viện phương nam. Phương thức tiếp khách của họ đơn giản tiện lợi, trước đồng tiền thì cơ bản mọi người đều bình đẳng, nhất thị đồng nhân, bất kể xấu trai hay đẹp trai, quần áo sang trọng hay rách rưới, tuổi tác lớn hay nhỏ, thân phận cao hay thấp đều khoản đãi nồng hậu. Vì thế có người đã bình luận về chỗ khác biệt trong phương thức kinh doanh và tục lệ tiếp khách của kỹ viện giữa hai vùng nam bắc như sau ''Đại khái phương nam thì phong phú nhưng không khỏi có chỗ phù hoa, phương bắc thì thành thực mà không khỏi có chỗ cố chấp. Phương nam thì đủ loại nghi thức, tiếp đãi chu đáo, phương bắc thì ngoài lên giường không có tài năng gì khác, ngoài chuyện ôm ấp không có cách tiếp đãi nào khác hơn".
Phương thức tiếp khách của kỹ nữ phương bắc về đại thể như sau: vừa thấy khách vào tới kỹ viện là lập tức tươi cười bước ra chào đón, có khi mời lên lầu, có khi mời vào đại sảnh hoặc hậu viện, gọi là Ngồi quầy (Tọa quỹ tử). Đợi khách ngồi xong bèn cung cung kính kính hỏi "Có quen cô nương nào không?". Nếu khách nói có thì lập tức gọi kỹ nữ ấy ra tiếp khách. Nếu khách chơi ưng ý kỹ nữ nào, đưa tiền xong là có thể theo kỹ nữ vào phòng, gọi là Tới phòng riêng (Đáo bản phòng). Lúc bấy giờ có thể Uống trà, cũng có thể Ngủ đêm. Uống trà thì có thể ngồi khoảng trên dưới một giờ, lúc sắp về, khách bỏ ra một đồng lên bàn, keng một tiếng, gọi là Bày mâm. Nếu muốn ngủ lại qua đêm, thì phải bỏ ra từ tám tới mười hai đồng.
II. Việc Buộc lược của kỹ nữ
1. Tên gọi của việc Buộc lược
Buộc lược (Sơ lộng) là chỉ kỹ nữ còn trinh trong kỹ viện tiếp khách lần đầu. Theo tục lệ của kỹ viện, Thanh quán nhân (tức kỹ nữ còn trinh) chỉ cài lược trên bím tóc, sau lần đầu tiếp khách ngủ lại qua đêm thì đổi thành búi tóc lên, nên gọi là Buộc lược (Sơ lộng).
Buộc lược có nhiều tên gọi khác nhau, thường thấy nhất có các từ Bổ dưa (Phá qua), Lên búi tóc (Thượng đầu), Mở báu vật (Khai bảo), Mở túi (Khai bao), Bày phòng (Bài phòng), Thắp nến lớn (Điểm đại lạp chúc) vân vân.
Bổ dưa là chỉ việc phá trinh của kỹ nữ trong kỹ viện. Thời cổ, mọi người thường gọi con gái mười sáu tuổi là tới tuổi Phá qua, vì chữ qua (đưa) có thể chiết tự thành hai chữ bát (tám), hai tám là mười sáu. Mà học giả Hà Lan Cao La Bội trong quyển Trung Quốc cổ đại phòng nội khảo (Khảo cứu việc trong phòng ở Trung Quốc thời cổ) thì cho rằng Bổ dưa nghĩa gốc là chỉ việc "bổ quả dưa còn tươi hồng", tức dấu hiệu về việc con gái trẻ có kinh nguyệt lần đầu hoặc xử nữ mất trinh.
Búi tóc lên cũng là từ chuyên dùng chỉ việc kỹ nữ tiếp khách qua đêm lần đầu. Nó vốn là dấu hiệu về việc phụ nữ kết hôn, tỏ ra là thời thiếu nữ đã kết thúc. Người sau dùng đó để biểu thị việc kỹ nữ phá trinh, như Đào Tống Nghi trong Xuyết canh lục quyển 14 viết "Ngày nay con gái tới tuổi cập kê gọi là Búi tóc lên, mà kỹ nữ trong kỹ viện lần đầu ngủ với khách cũng gọi là Búi tóc lên". Lại như Đào hoa phiến quyển 1 viết "Hôm nay là ngày tốt Búi tóc lên, hãy mở tiệc lớn, bày nhã nhạc, khách mời tới đủ, chị em cùng ra, đừng bở lỡ dịp".
Sự lưu hành của tục lệ Buộc lược có liên quan tới việc nghiện xử nữ của khách chơi. Việc khách chơi nghiện xử nữ chịu ảnh hưởng của hai yếu tố: một là thuyết dưỡng sinh trong phòng của Đạo gia. Thuyết dưỡng sinh trong phòng của Đạo gia cho rằng giao hợp với xử nữ có thể đạt được mục đích lấy âm bổ dương, khỏe mạnh sống lâu. Như đầu quyển Ngọc phòng bí yếu nói "Bành Tổ nói: Phàm đàn ông đều muốn khỏe mạnh mà không biết dùng con gái là tốt nhất. Nếu ngủ với đồng nữ thì diện mạo cũng sẽ như đồng nữ. Những cô gái sẽ khổ vì y không còn trẻ. Nếu được người trên mười lăm dưới mười tám mười chín tuổi, thì càng có ích... Tiên sư của ta truyền lại phép này, đã được ba ngàn năm". Thầv thuốc nổi tiếng thời Đường là Tôn Tư Mạo trong Thiên kim phương, quyển 27 Phòng trung bổ ích cũng nói "Phàm phụ nữ không cần có nhan sắc xinh đẹp, chỉ cần còn trẻ, chưa sinh nở nuôi con, da thịt đầy đặn là tốt". Thứ hai là quan niệm về trinh tiết của Nho gia. Lễ ký, Tang phục nói "Dùng lễ để trị, dùng nghĩa để sửa, thì cho dù là con mà có hiếu, em trai hiếu đễ, phụ nữ trinh tiết đều có thể cúng tế được". Lễ kỹ, Giao đặc sinh nói "Tín là đức hạnh của phụ nữ. Một khi đã sánh đôi với người thì trọn đời không thay đổi, nên chồng chết thì không lấy chồng khác". Từ đó có thể thấy từ thời Tiên Tần Nho gia đã bắt đầu đề cao trinh tiết của phụ nữ. Đến thời Tống, nhà khai sáng Lý học là Trình Di cũng đề xuất quan điểm "Chết đói là chuyện nhỏ, thất tiết là chuyện lớn", vô hình trung càng làm tăng thêm sự ham muốn xử nữ của đàn ông.
Chính vì sự đề cao của Nho giáo, Đạo giáo nên trong lịch sử có không ít kẻ thống trị nghiện xử nữ. Tùy Dạng đế đặc biệt thích đồng nữ, có kẻ xu nịnh hiến dâm cụ là "đồng xa" chuyên cung đốn sự thỏa mãn xác thịt cho Dạng đế. Lúc Minh Vũ tông Chu Hậu Chiếu tuần thú Dương Châu, cũng từng sai thái giám tìm kiếm xử nữ. Trong dân gian, người ta cũng rất có hứng thú với xử nữ trẻ. Trong các tiểu thuyết bút ký thời Minh Thanh cũng có nhiều tác phẩm miêu tả việc phá trinh xử nữ, đồng nữ.
2. Nghi thức Buộc lược
Không còn gì phải nghi ngờ là việc Buộc lược chiếm địa vị rất quan trọng trong nghề bán dâm sinh nhai của kỹ nữ, cũng như nghi lễ hôn nhân của người thường. Vì thế kỹ viện rất coi trọng việc này, chủ chứa cũng thường lấy đó làm món hàng lạ, coi đó là Cây tiền, "nếu không được nhiều tiền, sao có thể khinh dị bỏ ra?". Họ để lấy thêm nhiều tiền của khách chơi, nên đặt ra một quy trình phiền hà mà phức tạp.
Trước khi kỹ nữ Buộc lược, trước tiên phải Thắt dây (Kết tuyên đầu) với khách chơi, uống cạn Rượu hòa hợp (Hòa hợp tửu). Như Tục Kim Bình Mai hồi 210 tả:
"Kể chuyện không cần rườm lời, đến ngày mười tám tháng giêng, Dịch Viên ngoại sắp xếp đầy tớ xe ngựa chỉnh tề, y phục sang trọng, khách mời có Trương Đô ích, Ngô Xuân Nguyên và một bọn con em lêu lổng như Trịnh Ngọc Khanh, Vương Tam Quan, Tôn Miệng nhọn, Trương Mắt lé, tất cả đều mặc quần áo mới, gọi hai ban nhạc, mang hộp đồ ăn, trà quả Tây dương, đều kết hoa vải sặc sỡ, kèn trống om sòm kéo tới. Nhà Sư Sư bày sáu bàn tiệc trong đại sảnh, mời Lý Vũ cử bồi tiếp, nhận lễ thiếp xong, mở đồ lễ ra xem, thì là hai mươi đĩnh Nguyên bảo (đĩnh bạc 50 lượng - ND), vòng xuyến châu ngọc, quần áo vải vóc không thiếu món nào, ngoài ra còn có hai trăm lượng bạc vụn đựng trong một cái hộp đựng sách làm phí tổn tiệc ra mắt. Mọi người đều hoảng sợ, khen Dịch Viên ngoại vung tiền như rác, quả đúng là con em nhà giàu. Sư Sư nâng chén lên, mọi người đã yên vị, bèn nhận lễ vật... Tất cả khách khứa có mặt thấy lễ vật nhiều như thế, thảy đều vui vẻ. Đầu tiên ban nhạc của nhà là bọn Vu Vân sáu người hát xong, kế là bốn gã kép hát nhỏ cũng hát bài cẩm đường nguyệt... Dàn nhạc hai bên tấu lên,đám gái hầu đỡ Ngân Bình ra, trải nệm dày lên chiếu, hướng lên trên lạy bốn lạy, ăn mặc như tiên nữ, thoa vàng vòng ngọc thì không cần phải nói. Ngân Bình lạy xong lui vào. Viên ngoại đưa ra hai tấm đoạn đại hồng kỳ lân, hai mươi lượng bạc trắng buộc tua đỏ làm lễ ra mắt. Ở tiền sảnh ca hát uống rượu, thắp nến hồng lên, khiến Dịch Viên ngoại say mềm. Mọi người đua nhau chúc mừng ỵ, náo nhiệt một hồi đến canh hai mới chịu giải tán!".
Kế đó đôi bên chọn ngày tốt, tiến hành nghi thức Buộc lược. Theo tục lệ của kỹ viện, kỹ nữ giữ khách ngủ lại qua đêm lần đầu phải thắp một đôi nến lớn, còn sau khi phá trinh thì giữ lại chiếc khăn vấy máu giao cho khách chơi để họ chứng minh mình mua được hàng thật (3). Tục Kim Bình Mai hồi 213, Dịch Viên ngoại đại tán mãi hoa tiền, Trịnh Ngọc Khanh ổn ngật tân hồng tửu (Dịch Viên ngoại phung phí tiền mua hoa, Trịnh Ngọc Khanh yên ổn uống rượu cưới) cũng miêu tả tường tận về tục lệ này như sau:
"Đến ngày mười lăm, Dịch Viên ngoại ăn mặc chải chuốt, trên gấm thêm hoa, ngồi kiệu, trỗi nhạc, xách đèn lồng, khiêng rượu lễ như đi đón dâu. Lại thêm một bọn lêu lổng đi theo. Nhà Lý Sư Sư bày tiệc lớn như hôm trước, đàn sáo inh ỏi, ăn uống đến tối mịt mới tan, lúc ấy mới đỡ Ngân Bình vào trướng. Nhưng bọn khách kia đời nào chịu về sớm! Ầm ĩ đến canh một, thắp đèn đuốc lên... (Ngân Bình) trang điểm đã xong, mặc một chiếc áo bào bằng đoạn đại hồng kỳ lân, một chiếc quần bằng lăng màu thanh thiên, đeo thắt lưng kim tương khảm ngọc thạch mã não, dưới gắn lục lạc vàng, áo choàng khoác vai, gấm thêu như lối trong cung, búi tóc cao gắn thoa hình chim phượng, chân mang hài nhẹ, đúng là người tiên Cô Xạ. thần nữ Phi kinh. Lúc ấy có mười người nữ nhạc ăn mặc lộng lẫy, đều cầm đàn sáo tiếng nhạc rộn rã đưa ra, cùng Dịch Viên ngoại làm lễ giao bái rồi mới vào phòng... Đến khi trời sáng, khách khứa đã tới cửa, hò hét đòi uống rượu mừng. Sư Sư cũng sai người tới chúc mừng, chỉ thấy Ngân Bình giấu một chiếc khăn lau mồ hôi trong tay áo không chịu đưa ra, bị Vu Vân giật lấy. Đám phụ nữ cười ầm lên, lúc ấy mới biết là chuyện vừa khéo. Dịch Viên ngoại bước ra cho Lý Sư Sư làm lễ, nhận một lạy của bà ta, bày rượu ở tiền sảnh, giữ khách khứa lại nghiệm hồng. Rượu được ba tuần, chỉ thấy vợ Vu Vân bưng một cái mâm sơn đen đựng chiếc khăn dính mau ra... Mọi người nghiệm hồng xong, lại phạt Dịch Viên ngoại ba chén lớn, nói y quá vô tình. Viên ngoại lại gói hai lượng bạc thưởng cho Vu Vân...".
Theo tục lệ của kỹ viện, người phá trinh kỹ nữ gọi là Lão già Buộc lược (Sơ lộng cô lão), tất cả đều là phú thương thân hào có tiền có thế, hoặc là đầu mục bang phái xã hội đen, thủ lĩnh thổ phỉ. Nếu khách chơi trả lại tiền bán thân của kỹ nữ cho chủ chứa thì kỹ nữ có thể tự do tiếp khách không ai quản thúc, đó gọi là Lão già chuộc thân (Tục thân cô lão). Nhưng nếu Lão già chuộc thân muốn qua đêm với kỹ nữ thì khách khác phải nhường lại cho y, mười đêm năm đêm cũng không nói chuyện tiền bạc gì cả. Về sau nếu muốn cưới kỹ nữ ấy về, cũng không phải tốn tiền sính lễ (4)
Kỹ nữ Buộc lược xong, có thể chính thức tiếp khách. Tiếp đãi người khách thứ hai và phát sinh quan hệ tình dục với y gọi là Bán lại (Phục trướng).
________________________
(3) loại khăn tay này thời cận đại ở Thượng Hải tục gọi là Khăn Trạng nguyên (Trạng nguyên cân).
(4) Cảnh thế thông chí, quyển 31, Triệu Xuân Nhi trùng vượng Tào gia trang
Không có nhận xét nào:
Đăng nhận xét