Chương 7. Tôn giáo, tín ngưỡng và tập tục của kỹ nữ
I. Tiên sư và Thần bảo hộ của kỹ nữ
Về tổ sư và thần bảo hộ của kỹ nữ, trước nay đã có nhiều tranh cãi, nhiều thuyết khác nhau. Nhưng từ tư liệu thư tịch các đời mà nhìn, thì chủ yếu có thần Bạch Mi, Quản Trọng, Câu Lan nữ thần (có khi gọi là Câu Lan thổ địa), Lữ Đồng Tân, Thiết bản kiều Chân nhân Tiên sư, Ngũ đại tiên, Kim tướng quân, Nữ Hồ tiên, Lưu xích kim mẫu, Câu Lan thổ địa, Giáo phường đại vương, Yên hoa sứ giả, Chi phấn tiên nương, Quan Âm Bồ tát, Phật Như Lai vân vân, xin chọn ra giới thiệu dưới đây:
1. Thần Bạch Mi
Thần Bạch Mi còn gọi là Bạch nhãn thần, Áo thần, là thần linh được các kỹ nữ thời Minh Thanh kính ngưỡng nhất. Vị thần này theo tranh vẽ thì râu dài dáng lớn, cưỡi ngựa cầm đao, tướng mạo tương tự như Quan Vũ trong các tranh vẽ lưu hành đương thời, nhưng lông mày trắng mà mắt đỏ. Thẩm Đức Phù thời Minh trong Tệ tảo trai thặng ngữ, Thần danh ngoa xưng nói "Gần đây các nhà Hiệp tà phần nhiều thờ hình Quan Tráng mục, tôi trộm cho rằng đó là làm nhục bậc chính thần. Sau mới biết là không phải. Đó là thần Bạch Mi, râu dài mặt đẹp, cưỡi ngựa cầm đao, hơi giống hình Quan công. Nhưng mày trắng mà mắt đỏ, ở kinh sư cãi cọ chửi người ta là Quân mày trắng mắt đỏ là vô cùng căm hận thù ghét, đủ biết sự ty tiện. Hiệp tà kiêng kỵ điều đó, bèn giả danh Quan hầu. Kỹ nữ ở kỹ viện lúc bắt đầu ngủ với khách ắt cùng khách thề thốt lạy thần ấy, sau đó định tình. Nam bắc hai kinh đều như thế" (1). Trên thực tế việc sùng bái thần Bạch Mi không chỉ lưu hành trong các kỹ viện ở hai kinh Nam Bắc mà còn thịnh hành ở tất cả các địa phương trên toàn quốc. Như Như mộng lục, Nhai thị kỹ đệ lục chép về phủ Khai Phong thời Minh "(Đường Ngũ Thắng Giác trong thành) hướng về phía nam, có ba gian nhà lớn cổng sơn đen biển ngạch đề Phú Lạc viện. Trong có ba bốn chỗ thờ thần Bạch Mi, từng nhà xây cất cư trú, kính được nhà vua đề bạt hai mươi bảy nhà, theo xa giá chờ lúc tấu nhạc. Trong đó có rất nhiều kỹ nữ đặc biệt xinh đẹp, giỏi khôi hài, âm nhạc vẽ tranh, đánh cờ vây, đánh trống gõ phách, ca hát, đá cầu nhảy múa, tửu lệnh, xai quyền, môn nào cũng giỏi. Hàng ngày vương tôn công tử, văn nhân mặc khách ngồi kiệu cưỡi ngựa tìm tới truy hoan, không lúc nào vắng".
Miếu thờ thần Bạch Mi đều dựng trong kỹ viện, như Bồ Tùng Linh thời Thanh trong Tăng bổ Hạnh vân khúc (còn gọi là Chính Đức tiêu viện), hồi 14 tả "Vạn tuế gia vào kỹ viện, ngước mắt nhìn lên thấy ở giữa có miếu Bạch Mi thần. Hai viện Nam Bắc chia ở hai bên, kỹ nữ áo hồng quần lục, người lòng dạ sắt đá nhìn thấy cũng thương yêu. Một bên là Thu thiên viện lạc, một bên là Ca quán lâu đài" (2). Nhưng cũng có miếu thờ Bạch mi thần xây cạnh kỹ viện, như miếu Bạch mi thần trong Như mộng lục, Quan sương ký đệ thất xây cạnh ngõ Đại điếm nơi kỹ nữ tụ họp ở phủ Khai Phong thời Minh.
Kỹ nữ thời Minh Thanh rất kính ngưỡng thần Bạch Mi, ngoài nghi thức tế tự hàng ngày còn tiến hành một loại nghi thức ma thuật thần bí vào ngày mùng một và ngày rằm hàng tháng. Điền Nghệ Hành thời Minh trong Lưu thanh nhật trát, quyển 21, điều Bạch Mi thần chép "Kỹ nữ giáo phường đều thờ cúng thần Bạch Mi, mỗi khi đến ngày mùng một và ngày rằm thì lấy khăn tay khăn lau mồ hôi lau qua mặt thần một lượt, nếu gặp bọn con em có kẻ ngang bướng nuốt lời, thì dùng khăn ấy lau lên mặt họ, qua một lượt như thế thì tự nhiên họ sẽ thương yêu, lưu luyến không thôi, đại khái là ma thuật trong kỹ viện". Đàm Thiên trong Táo lâm tạp trở, Hòa tập, điều Bạch Mi thần dẫn lại Hoa tỏa chí "Giáo phường thờ thần Bạch Mi, ngày mùng một và ngày rằm dùng khăn tay, kim thêu đâm lên mặt thần, khấn khứa rất trịnh trọng, gọi là vẫy khăn lên mặt người, thì có kẻ say đắm không bỏ đi". Khách tọa tân văn chép "Nhà kỹ nữ ắt thờ thần Bạch Mi, gọi là Áo thần, sớm tối cầu khấn, đến ngày mùng một và ngày rằm thì dùng khăn tay phủ lên mặt thần, lấy kim đâm lên, thấy bọn con em kẻ nào gian hoạt thì làm ra vẻ giận dỗi vứt khăn vào mặt họ, khăn rơi xuống đất, bảo họ nhặt lên, ắt họ sẽ yêu thương mà không có ý khác" (3).
Thần Bạch Mi tức Hồng Nhai tiên sinh trong truyền thuyết cổ đại của Trung Quốc. Đàm Thiên trong Táo lâm tập trở, Hòa tập, điều Bạch Mi thần dẫn lại Hoa tỏa chí "Thần Bạch Mi tức Hồng Nhai tiên sinh thời cổ". Lý Điệu Nguyên thời Thanh trong Vạn trai tỏa lục nói "Kỹ là nữ nhạc. Kỹ nữ Hồng Nhai người thời Tam hoàng, là người đầu tiên mở ra kỹ viện, xem Vạn vật nguyên thủy". Châu Tuyền cư sĩ thời Thanh trong Tuyết Hồng tiểu ký, Tổng bạt nói "Khảo sách Vạn vật nguyên thủy, thì kỹ nữ Hồng Nhai là người thời Tam hoàng, là người đầu tiên mở ra kỹ viện, là thủy tổ của nghề kỹ nữ". Văn tuyển, Trương Hành, Tây Kinh phú viết "Hồng Nhai lập nhi chỉ huy, bị mao vũ chi tiêm ky" (Hồng Nhai đứng mà vung cờ, khoác áo lông bay phất phơ). Bốn chữ Hồng Nhai trong các tư liệu thư tịch nói trên đều chỉ một người, tức Nhạc quan Linh Luân của Hoàng Đế trong truyền thuyết thần thoại. Liệt tiên toàn truyện quyển 1 viết "Hồng Nhai tiên sinh, có người nói là Linh Luân bề tôi của Hoàng Đế. Có người nói thời vua Nghiêu ông đã được ba ngàn tuổi. Thần tiên thời Hán là Vệ Thúc Khanh đánh bạc với mấy người trên đỉnh Chung Nam, con là Độ Thế hỏi Khanh đánh bạc với ai? Thúc Khanh nói: Với bọn Hồng Nhai tiên sinh".
Về sự tích Linh Luân, các thư tịch thời cổ đều có ghi chép. Lữ thị Xuân thu, Cổ thị nói "Ngày xưa Hoàng Đế sai Linh Luân chế ra nhạc luật. Linh Luân từ phía tây Đại Hạ lại từ phía tây Nguyễn Du (Côn Luân)... Nghe tiếng chim phượng kêu, phân biệt làm mười hai luật... Hoàng Đế lại sai Linh Luân cùng Vinh Tương đúc mười hai chiếc chuông, để hòa với ngũ âm, để triển khai Anh thiều". Thế bản nói "Linh Luân chế ra âm luật". Lộ sử chép "Linh Luân chế ra khánh để hòa với bát âm, điều hòa ngũ âm để lập ra lịch pháp, phối hợp bát âm để xếp đạt ngôi thứ". Từ đó có thể thấy kỹ nữ là do nhạc công phát triển mà thành, nên người sau gộp chung lại gọi là Xướng ưu. Cho nên kỹ nữ lấy thần Bạch Mi (tức Hồng Nhai tiên sinh, hoặc gọi là Linh Luân) làm tổ sư gia thì hoàn toàn không phải sai lầm, mà là có lý do
_______________________
(1) Xem thêm Thẩm Đức Phù, Vạn Lịch dã hoạch biên bổ di, quyển 4 Thần tiên, Thần danh ngộ xưng.
(2) Bồ Tùng Linh tập, Liêu Trai lý khúc tập, Thượng Hải cổ tịch xuất bản xã, 1986
(3) Dẫn lại theo Chử Nhân Hoạch, Kiên biều tập, Quảng vận, quyển 1, Xướng gia ma thuật. Lại theo Thanh bị loại sao, Mê tín loại cũng có điều Xướng gia ma thuật, nội dung đại khái cũng tương tự, không kể ra ở đây.
2. Chích
Chích, có khi còn viết là Chích (Túc + thứ) là lãnh tụ nô lệ khởi nghĩa thời Xuân thu Chiến quốc. Trong sử sách cổ thời Tiên Tần đều gọi là Đạo Chích hoặc Kiệt Chích, theo truyền thuyết từng suất lãnh chín ngàn nô lệ đánh lên phương bắc, đánh đâu thắng đó, tung hoành thiên hạ, khiến kẻ thống trị tim đập chân run, nổi tiếng trên đời, về sau chết già
Việc Chích được kể vào loại tổ sư gia của nghề kỹ nữ hát bắt đầu thấy trong các tiểu thuyết thời Minh Thanh. Trảm quỷ truyện hồi 8 viết "Trong nhà Liễu Kim Nương (chủ chứa) ta thấy y thờ một vị thần, lông mày màu trắng, tiểu nhân hỏi đó là thần gì. Y nói là thần Bạch Mi tổ sư gia... Liễu Kim Nương bước qua khấu đầu, Hàm Oan (tên thần) nói: Trong nhà ngươi có thần Bạch Mi không? Liễu Kim Nương nói: Bên trên thờ cúng chính là thần Bạch Mi. Hàm Oan vén rèm nhìn ra, quả nhiên là một tượng thần, hai hàng lông mày trắng. Hàm Oan lại hỏi Vị thần này xuất thân thế nào, lúc còn sống tên họ là gì? Liễu Kim Nương nói: Tiểu phụ cũng không biết rõ ràng, chỉ nghe lão chết giẫm lúc còn sống nói là Liễu Đạo Chích"
Đinh Diệu Khanh thời Thanh viết quyển Tục Kim Bình Mai, hồi 45 có chép việc Liễu Đạo Chích làm thần "Đã tới cổng lầu Lệ Xuân viện. Chỉ thấy giữa hẻm có một ngôi miếu thần, là thờ Liễu Đạo Chích, mặt đỏ mày trắng, đội khăn khoác áo. Vì y là một gã cường đạo, nên phong làm dâm thần. Ở đó đám vô lại thường tới thắp hương cầu tài, nếu có con em nhà giàu sang vào cửa, thì tới tạ thần"
3. Quản Trọng
Quản Trọng (? - 645 trước Công nguyên), tự Kinh Trọng, người Dĩnh Thượng (nay thuộc An Huy), là nhà chính trị nổi tiếng đầu thời Xuân thu. Ông từng được Hoàn công dùng làm Thượng khanh, phụ chính hơn bốn mươi năm, theo thời thế đặt ra pháp luật phù hợp, thực hành cải cách, khiến Tề Hoàn công trở thành bá chủ đầu tiên trong Ngũ bá thời Xuân thu. Theo sử sách ghi chép, một trong những cải cách mà Quản Trọng thi hành ở nước Tề chính là "Đặt Nữ lư bảy trăm, đánh thuế những khách ngủ đêm để giúp đỡ tài chính trong việc quân quốc" (4). Vì thế ông cũng được các kỹ nữ tôn làm tổ sư gia của nghề mại dâm, đó là điều mà nhà chính tri Quản Trọng lúc sống không hề tính tới.
Kỹ nữ thờ Quản Trọng làm tổ sư, điều này trong các thư tịch từ thời Minh Thanh trở đi ghi chép rất nhiều, như Bính Chúc lý đàm quyển thượng chép ở Nam Kinh "Kỹ nữ thờ cúng Quản Trọng, con hát thờ Đường Minh Hoàng, là có ý không quên cội nguồn". Duyệt Vi thảo đường bút ký quyển 4 nói "Kỹ nữ thờ Quản Trọng, vì ông mở ba trăm Nữ lư".
_______________________
(4) Tạ Triệu Chiết, Ngũ tạp trở, quyển 8, Xướng kỹ bố mãn thiên hạ.
4. Câu Lan nữ thần
Căn cứ vào truyền thuyết trong thư tịch, Câu Lan nữ thần cũng là Thần bảo hộ được kỹ nữ thờ cúng.
Trương Thứ Khê trong Yên Kinh phỏng cổ lục điều Câu Lan nữ tượng nói tại Bắc Kinh "Giữa hai phía đông tây Câu Lan Hồ Đồng tức chỗ Ngự câu thời Nguyên có một phủ đệ lớn bỏ hoang, trong hoa viên có một ngôi miếu nhỏ, trong miếu thờ một tượng thần bằng đồng theo tư thế ngồi, cao bốn thước tám tấc, dáng vẻ tươi cười, khuôn mặt xinh đẹp, nghiêng về bên trái, trên đầu búi tóc, cắm hai cành thoa, mặc áo ngắn, vế phải xếp bằng, để lộ hài sen, tay phải chống thẳng xuống, ngón tay chấm đất, vế trái đưa cao, tay trái nắm hài sen, dáng dấp khêu gợi, làm động lòng người. Xét phủ đệ ấy là kỹ viện cũ, pho tượng ấy là Thần mà kỹ nữ thờ cúng" (5).
Từ Quốc Khu người thời cận đại viết trong quyển Yên Đô tục vịnh, điều Câu Lan nữ thần cũng từng chép thần ấy "Chuyên được kỹ nữ thờ phụng", lại làm thơ ghi lại như sau
"Yêu dả phong tư triển tiếu tần,
Hàm tình đoan họa (hòa) hối dâm thân.
Kỹ gia cố chỉ Câu lan ngộ,
Thủy tín Tùy Viên khảo chứng chân"
(Yểu điệu phong tư miệng mỉm cười,
Ý tình khêu gợi khiến say người.
Câu lan kỹ viện xưa mờ vết,
Mới rõ Tùy Viên khảo đúng thay).
Cuối bài thơ có lời án rằng "Từ khi Lý Thương Ẩn có câu thơ tả nhà xướng kỹ Liêm khinh mạc trọng kim Câu lan (Rèm thưa màn kín chốn Câu lan), người sau bèn theo đó gọi kỹ viện là Câu lan. Xem Tùy Viên thi thoại" (6)
________________________
(5) Trương Thứ Khê, Yên Kinh phỏng cổ lục, Trung Hoa thư cục, Bắc Bình, 1934
(6) Lôi Mộng Thủy biên tập, Bắc kinh phong tục tạp vịnh tục biên, Bắc Kinh cổ tịch xuất bản xã, 1987, tr. 235
5. Lữ Đồng Tân
Lữ Đồng Tân (798 -?) tên Nham (có khi viết là Nham - sơn + thạch), hiệu Thuần Dương tử, tương truyền là người Kinh triệu thời Đường, có thuyết nói là người phủ Hà Trung (nay là huyện Vĩnh Tế Sơn Tây), là một trong Bát tiên trong truyền thuyết dân gian. Theo Liệt tiên toàn truyện quyển 6 tóm tắt, thì Lữ Đồng Tân hai lần đi thi Tiến sĩ không đỗ, năm sáu mươi bốn tuổi bắt đầu lãng du giang hồ, gặp Vân Phòng tiên sinh trong quán rượu ở Trường An, xin học thuật cứu đời. Vân Phòng thử Lữ Đồng Tân mười lần, ông đều không động tâm. Vân Phòng bèn đưa Lữ Đồng Tàn về Sơn Hạc lĩnh núi Chung Nam, truyền cho bí quyết Thượng thanh. Đồng Tân đã đắc đạo, bắt đầu ngao du ở vùng Giang Hoài, tự xưng là đạo nhân, ẩn hiện biến hóa hơn bốn trăm năm, người ta đều không nhận biết, về các truyền thuyết thần thoại có liên quan tới ông, ngoài việc chém giao long ở Giang Hoài, cưỡi hạc ở Nhạc Dương say rượu trong khách điếm còn có rất nhiều, đều được miêu tả trong nhiều tiểu thuyết, vở kịch. Như Mã Trí Viễn thời Nguyên có vở tạp kịch Lữ Đồng Tân tam túy Nhạc Dương lâu, Cốc Tử Kính thời Minh có Lữ Đồng Tân tam độ thành nam liễu, Chu Hữu Đôn có Lữ Đồng Tân hoa nguyệt thần tiên hội, Giả Trọng Minh có Lữ Đồng Tân khiêu liễu thăng tiên mộng, một tác giả vô danh có Lữ Thuần Dương điểm hóa Độ Hoàng long vân vân. Từ các vở kịch nói trên mà nhìn, Lữ Đồng Tân rõ ràng từ thời Tống trở đi đã biến thành một nhân vật phong lưu được dân gian ca ngợi.
Từ các truyền thuyết trong thư tịch mà nhìn các kỹ nữ rất thành kính trong việc thờ cúng Lữ Đồng Tân tựa hồ có liên quan với việc Lữ Đồng Tân đã chỉ vẽ cho kỹ nữ chữa các bệnh nan y cho kỹ nữ.
Theo Trung Hoa toàn quốc phong tục chí dẫn lại Bắc Kinh dù hiên lục nói: Phong tục ở Bắc Kinh, hàng năm vào ngày 14 tháng 4 là ngày Đãn sinh của Lữ Đồng Tân, kỹ nữ túm năm tụm ba tới miếu Lữ Đồng Tân ở Lưu Ly xưởng ngoài cửa Tuyên Ngoại lễ bái "Phía đông xưởng có miếu Lữ tổ hương hỏa rất thịnh. Chị em thanh lâu tới đó không ai không vào thắp hương, cầu Lữ tổ gia phù hộ". Lại theo Tô Châu phong tục đàm thì kỹ nữ Tô Châu cũng rất thịnh hành việc đến ngày Đãn sinh của Lữ Đồng Tân thì tới đạo quán Phúc Tế mua hoa cúng Lữ tổ, đương thời gọi là Hoa thần tiên (Thần tiên hoa). Thanh gia lục quyển 4, điều Thần tiên hoa "Bài từ Ức Giang Nam của Thẩm Triêu Sơ viết: Tô Châu hảo, Sinh nhật khánh Thuần Dương. Ngọc động thần tiên thiên thượng độ, Thanh lâu chi phấn miếu trung hương. Hoa thị nhiễu hồi lang (Tô Châu đẹp, Ngày sinh nhật Thuần Dương. Thần tiên động ngọc lên trời thẳm, Son phấn lầu xanh cúng khói hương. Hoa bán ngập hành lang). Chú: Ngày 14 tháng 4 là sinh nhật của Thuần Dương, kỹ nữ toàn thành đều tới chợ hoa ở hai bên hành lang mua hoa, gọi là Hoa thần tiên
Đương nhiên vì phong tục ở các địa phương trên toàn quốc đều có chỗ khác nhau, nên việc các kỹ nữ thờ tổ sư gia và Thần bảo hộ cũng có chỗ không giống nhau. Như kỹ nữ Triều Châu thích thờ cúng Thiết bản kiều đầu Chân nhân tiên sư và Địa chủ thần, kỹ nữ Khai Phong Hà Nam thì thờ cúng Ngũ đại tiên, kỹ nữ Thượng Hải thờ Kim tướng quân. Ngoài ra còn có kỹ nữ thờ Câu Lan thổ địa, Giáo phường đại vương, Yên hoa sứ giả, Chi phấn tiên nương vân vân.
Việc kỹ nữ Triều Châu thờ cúng Thiết bản kiều đầu Chân nhân tiên sư và Địa chủ thần có chép trong Triều Châu đích tập tục, Chức nghiệp chương, Kỹ quán của Dương Duệ Thông. Từ các tư liệu có liên quan mà nhìn, Thiết bản kiều đầu Chân nhân tiên sư đại khái có quan hệ với Phong hỏa viện Thiết bản kiều Lão lang quân mà các nghệ nhân kịch nghệ phương nam thờ cúng. Địa chủ thần đại khái là thần Thổ địa của kỹ quán.
Ngũ đại tiên mà kỹ nữ Khai Phong thờ cúng chỉ năm loại động vật là nhím, ba ba, chuột nhắt, chuột và rắn.
Kim tướng quân mà kỹ nữ Thượng Hải thờ cúng, cúng tế ở trong viện Hóa đạo tại phía nam Hồng Kiều. Vương Thao thời cận đại trong Doanh nhu tạp chí quyển 2 chép "Mùa hạ năm Nhâm tý, người trong thanh lâu chợt lên Mao Sơn mang về một tượng gỗ nói là Kim tướng quân, gởi trong viện ấy. Từ đó giới son phấn trong toàn thành tới cầu nguyện hoàn nguyện, không ngày nào vắng". Lại nói ở đất Hộ có nhiều dâm từ, như đền Tam Mao Chân nhân và Thi miếu ở Hồng Từ, người trong Câu Lan lại càng cung kính. Phàm kỹ nữ sợ mắc bệnh dương mai thì tới Thi miếu mổ heo rót rượu cúng tế, lại dùng ban nhạc hòa theo, nói là rất linh thiêng".
Ngoài ra kỹ nữ Thượng Hải còn sùng bái Lôi tổ, mỗi khi gặp ngày đản sinh của Lôi tổ ngày 24 tháng 6, một số kỹ nữ mắc bệnh hơi đỡ lại tới dâng hương hoàn nguyện (7)
Quan công cùng là đối tượng thờ cúng của kỹ nữ Thượng Hải thời cận đại, Tục hải thượng phồn hoa mộng tập 1, hồi 18 chép "Kinh Hồng tiên quán vì tới công đường lần đầu không được may mắn, trở về viện thay quần áo, mua một ít hương nến và giấy tiền vàng bạc, tới miếu Quan đế ở đường Lục Mã thắp hương
_______________________
(7) Hải thượng hoa mỵ ảnh, hồi 15.
II. Tôn giáo tín ngưỡng, mê tín và kiêng kỵ của kỹ nữ
1. Tín ngưỡng Phật giáo của kỹ nữ
Kỹ nữ có quan hệ mật thiết với Phật giáo. Theo truyền thuyết lúc đầu Quan Âm đại sĩ thấy cõi trần dục căn quá nặng, bèn biến thành thiếu nữ xinh đẹp, vào kỹ viện. Phàm Vương tôn công tử nhìn thấy dung mạo không ai không say mê. Một lần ngủ với nàng, thì lòng dục giảm hẳn. Vì bà có đại pháp lực, nên tự nhiên có thể phá trừ lưới tà. Về sau không bệnh mà chết, người trong kỹ viện mua quan tài mai táng. Có nhà sư đất Hồ nhìn thấy ngôi mộ, chắp tay làm lễ, nói "Thiện tai, thiện tai!" người trong kỹ viện nói với nhà sư "Đây là mộ của kỹ nữ sư phụ nhận lầm rồi". Nhà sư đất Hồ nói "Đó không phải là kỹ nữ, mà là Quan Thế Âm Bồ tát hóa thân, tới đây để cứu độ cho những kẻ tham dục trên đời về theo chính đạo. Nếu không tin thì cứ đào mộ lên mà xem, hình hài ắt có chỗ kỳ lạ". Người trong kỹ viện không tin, vội vàng đào mộ lên xem, thấy xương cốt dính liền, không rời ra, lóng lánh như vàng, mới lấy làm kinh ngạc. Bèn lập miếu cạnh mộ, gọi là Hoàng kim tỏa tử cốt Bồ tát. Đó gọi là hoa sen thanh khiết, gần bùn không nhơ (8).
Đương nhiên câu chuyện Quan Âm Bồ tát vào kỹ viện này đều là lời người sau thêm thắt, không đủ để tin. Có điều các quan niệm Sinh tử luân hồi, Nhân quả báo ứng, Phật quốc tĩnh thổ, Ngạ quỷ địa ngục mà Phật giáo đề cao lại có ảnh hưởng sâu sắc trong kỹ nữ, lưu truyền rất rộng.
Phật giáo ngăn cấm sự dâm dục, nên điều thứ ba trong Ngũ giới là không được trai gái (9). Cho rằng người ta có sự dâm dục, thì đời đời kiếp kiếp đắm chìm trong bể dục, vĩnh viễn không có ngày siêu thoát khỏi vòng luân hồi. Lại cho rằng "Trước là nhân, sau là quả, điều làm là nhân, điều nhận là quả. Cũng như trồng dưa được dưa, trồng đậu được đậu, trồng cây gì được quả ấy..." Nhân tốt thì được quả tốt, nhân xấu thì được quả xấu. Cho nên nói: Muốn biết nhân kiếp trước, hãy xem kiếp này nhận gì, muốn biết nhân kiếp sau, thì xem kiếp này làm gì" (10). Vì thế kỹ nữ muốn vượt ra khỏi biển khổ, ắt phải dốc lòng cầu Phật, ra sức bố thí.
Tập tục thờ cúng Quan Âm Bồ tát của kỹ nữ lưu hành mãi đến thời cận đại. Như kỹ nữ Thanh Linh trong Tục hải thượng phồn hoa mộng tập 1 vô cùng sùng bái Quan Âm, nàng nói:
"Quan Âm là Phật sống cứu khổ cứu nạn, vô cùng linh thiêng, há có thể phỉ báng như vậy? Tháng hai, tháng sáu, tháng chín đều tới chùa Phổ Đà và chùa Thiên Trúc dâng hương là vì sao? Tôi mua bức tranh thêu này về, gặp những ngày Phật đản tháng hai, tháng sáu, tháng chín thì dọn dẹp phòng sau sạch sẽ, thắp hương vái lạy, để cầu cho kiếp sau, khỏi phải hàng năm cứ gởi người ta dâng hương, có nhiều điều bất tiện".
Từ việc kỹ nữ sùng bái Thần Phật mà nhìn, thì ngoài Quân Âm Bồ tát, còn có Phật Như Lai, Phật Di Lạc, Hộ pháp Bồ tát. Có kỹ nữ còn dán tranh vẽ Đường Tăng lên đầu giường để thờ cúng.
_______________________
(8) Phùng Mộng Long, Dụ thế minh ngôn, quyển 29, Nguyệt Minh hòa thượng độ Liễu Thúy.
(9) Ngũ giới gồm: đệ nhất giới là không sát sinh, đệ nhị giới là không trộm cắp, đệ tam giới là không trai gái, đệ tứ giới là không uống rượu ăn thịt, đệ ngũ giới là không bịa đặt.
(10) Phùng Mộng Long, Dụ thế minh ngôn, quyển 29, Nguyệt Minh hòa thượng độ Liễu Thúy.
2. Kỹ nữ với Đạo giáo
Kỹ nữ đối với Đạo giáo cũng cực kỳ tôn sùng, đó không những vì Lữ Đồng Tân nhân vật trong Đạo giáo là Thần bảo hộ của kỹ viện, mà vì chủ nghĩa hưởng lạc lấy cuộc sống làm vui của Đạo gia cũng ăn khớp với nhu cầu tâm lý của kỹ nữ.
Ngược lại với Phật giáo, Đạo giáo hoàn toàn không ngăn cấm việc dâm dục, mà chủ trương lấy sự hưởng thụ nhục dục để hấp dẫn người khác. Thích Minh Khái thời Đường trong Khoái đối phó dịch phế Phật tăng sự đã vạch trần thuyết của Đạo giáo, nếu vào Đạo giáo thì phải "Vào ngày mùng một và ngày rằm" vào phòng thầy để tu đạo. Vậy thì tu đạo gì? Đó chính là "Tình ý tương thân, nam nữ tương tiếp, khiến bốn mắt hai mũi trên dưới tương đương, hai lưỡi hai miệng đôi bên đối nhau, âm dương tiếp xúc, tinh khí thông suốt". Đó là giáo nghĩa dùng nhục dục mời gọi tín dồ không những được các khách chơi vô cùng hoan nghênh mà cũng rất phù hợp với tâm lý của kỹ nữ.
3. Hoạt động mê tín của kỹ nữ
Việc mê tín của kỹ nữ có nhiều loại, trong đó chủ yếu có:
a) Đốt phong long (Huân phòng gian).
Kỹ nữ gặp phải khách tính tình nhỏ mọn keo kiệt, sau khi y đi rồi, nhất định
phải dùng giấy tiền vàng bạc hoặc bùa đốt để xông cửa, cho tới những thứ đồ dùng mà "gã khách keo kiệt" đã đụng tới, như bàn ghế, giường tủ. Cũng có khi đốt pháo tre. Kỹ nữ hy vọng thông qua cách thức ấy để xua đuổi vận xấu. Như Hải thượng hoa mỵ ảnh hồi 20 viết "Tiểu Bảo vì họ ngồi trong phòng của mình lâu, đợi họ ra khỏi cửa, bèn dốt hai tờ giấy tiền vàng bạc".
b) Thắp hương cầu tài (Thiêu tài hương).
Kỹ nữ làm ăn không khá, mỗi khi gặp những ngày mùng một và ngày rằm thường phải vào điện thờ Thần Tài thắp hương vái lạy, để cầu thần linh phù hộ cho phát tài.
c) Xua tà ma (Khu tà sùng).
Kỹ nữ nào trong kỹ viện cổng nẻo vắng tanh, làm ăn không khá, chủ chứa sẽ sai hai ba kỹ nữ đốt một đống lửa, cởi truồng, cầm lá bùa đốt cháy đi vòng quanh phòng của kỹ nữ ấy đến khi lá bùa cháy hết thì thôi. Họ cho rằng làm như thế sẽ xua đuổi được tà ma, bảo đảm làm ăn thịnh vượng.
d) Vịn chân lạnh (Phàn lãnh cước).
Phàm những khách chơi hào phóng, thì kỹ nữ gọi là Khách tốt (Đại hảo khách nhân) hoặc Khách sang (Hảo hộ đầu). Nếu Khách sang chỉ là ngẫu nhiên tới cửa chứ không phải là khách thường lui tới, thì sẽ bị kỹ nữ coi là Ông khách chân lạnh (Lãnh cước khách nhân). Nếu Ông khách chân lạnh ngẫu nhiên tới ngủ lại kỹ viện, kỹ nữ ấy ắt sẽ chờ lúc khách say rượu ngầm đốt giấy tiền vàng bạc dưới giường, rồi đem giày tất của khách hơ iên trên lửa. Họ rất tin tưởng điều ấy có thể khiến Ông khách chân lạnh trở thành Ông khách chân ấm (Nhiệt cước khách nhân) (11).
_______________________
(11) Trở lên xem thêm Thượng Hải than hắc mạc, tập 4, Giáp biên: Xướng kỹ hắc mạc.
4. Những điều kiêng kỵ của kỹ nữ
a) Kiêng kỵ trong từ ngữ.
Nghề mại dâm mà kỹ nữ làm là một trong ba trăm sáu mươi nghề, là nghề nghiệp hạ lưu. Tự nhiên nó cũng như những nghề nghiệp giang hồ khác, có một số từ ngữ nghề nghiệp của mình. Những từ ngữ nghề nghiệp này đối với kỹ nữ mà nói, có một tác dụng đặc biệt, cần phải vận dụng cẩn thận, không thể có chút sơ xuất nào.
Trong từ ngữ nghề nghiệp của kỹ nữ, có một phần lớn là từ kiêng kỵ. Loại từ kiêng kỵ này còn gọi là Làm mảnh (Tố khối). Căn cứ vào ghi chép trong sử sách, kỹ nữ phải kiêng kỵ có tám Mảnh lớn (Đại khối) tức Long, Hổ, Mộng, Đăng, Kiều, Tháp, Quỷ, Khốc (Rồng, Cọp, Mộng, Đèn, Cầu, Tháp, Ma, Khóc). Trong từ ngữ của nghề mại dâm, Rồng là Dây biển (Hải điều tử), Cọp là Mở biển (Hải chủy tử), Mộng là Cái chớp (Hoảng lượng tử), Đèn là Cái sáng (Lượng tử), Cầu là Cái trên không (Hải không tử), Tháp là Cái dùi (Chùy tử), Ma là Cái lưới lùn (Nụy la tử), Khóc là Bỏ sông (Phách tô).
Ngoài ra còn có bảy mươi hai Mảnh nhỏ (Tiểu khối) như đầu là Cái vỏ ngọn (Đỉnh xác tử), tóc là Mạ (Miêu), mắt là Cái máng (Tào tử), lông mày là Cái treo cao (Cao điếu tử), răng là Tiền bạc (Tài), mồm là Cái khép (Hợp tử), mặt là Trái đào (Đào), lưỡi là Cá (Ngư) vân vân.
Kị nữ quên tiếng nghề nghiệp, nói như bình thường gọi là Phạm mảnh (Phạm khối), người vi phạm cho là điều không may, chủ về việc suốt ngày không có khách, có khách cũng sẽ có chuyện. Ắt phải lập tức tự kéo tai mình, nhổ nước bọt liên tiếp ba cái, hoặc xé rách vạt áo, bứt cúc áo, để làm
phép hóa giải, gọi là Phá khối (Phá khoái). Vào ngày mùng một và rằm hàng tháng và trong mùa xuân thì việc kiêng kỵ lại càng nghiêm ngặt. Bình thời trong việc đối nội đối ngoại, tám Mảnh lớn phải được tuân thủ nghiêm ngặt. Bảy mươi hai Mảnh nhỏ thì yêu cầu không nghiêm ngặt lắm. Nhưng cũng phải xem tình hình cụ thể, như kỹ nữ mới tới, không tuân lệnh quản giáo, không dễ thuần phục, hoặc khách khứa thưa thớt, làm ăn không khá, chủ chứa sẽ lấy cớ Phạm khối, hoặc túm tóc hoặc kéo tai, dập đầu vào tường ba lần, đến lúc kỹ nữ vỡ đầu chảy máu mới thôi. Nếu kỹ nữ đang gặp vận may, ngẫu nhiên có Phạm khối, thì sẽ có cách xử trí khác, nhưng cũng được giảm khinh kéo tai, hoặc nhắc nhở phải tự làm phép hóa giải, để biểu thị quy củ của kỹ viện. Khách chơi Phạm mảnh, phần lớn là phạm vào tám Mảnh lớn, kỹ nữ cũng phải ngấm ngầm hóa giải, phần nhiều là khạc nước bọt xuống nền nhà, hoặc dùng móng tay vạch dưới gầm giường. Nếu khách chơi Phạm mảnh quá nhiều, nhất là phạm vào chữ Mộng (như nói nằm mộng, mộng thấy chuyện này chuyện nọ), thì cố ý làm vỡ miệng bầu rượu, làm gãy vòi bình rượu, những việc như thế trong kỹ viện hạng sang rất ít xảy ra. Ví dụ đem chén trà sứt vòi mẻ miệng ra úp xuống mặt bàn, để tỏ ý nhắc nhở những người thông hiểu quy củ giang hồ. Có một số khách chơi lão luyện, lúc kỹ nữ úp chén trà lại sẽ cố ý lật chén trà trở lại cho miệng chén hướng lên trên, sẽ được coi là kẻ sành sỏi, kỹ nữ sẽ lập tức nhìn bằng con mắt khác, tiếp đãi đặc biệt (12).
b) Kiêng kỵ trong nghề nghiệp.
Kỹ nữ cũng như thương nhân làm ăn, kỵ nhất là người khách đầu tiên trong ngày khai trương không chơi mà bỏ đi, tục coi đó là Vé đầu xấu (Đải đầu thái) trong chuyện hưng suy. Lại vì kỹ nữ đều làm ăn trên gố, nên kiêng dựng đứng chiếc gối, tục cho rằng đó là hiện tượng bất thường, chỉ sợ sẽ bất lợi trong việc tiếp khách (13). Kỹ nữ cùng ân khách lén thề ước chuyện hôn nhân với nhau cũng là điều rất kiêng kỵ trong nghề mại dâm, vì kỹ nữ là Cây tiền của chủ chứa, chủ chứa sợ kỹ nữ bỏ trốn theo khách. Lại vì kỹ nữ là hạng tiện dân, nên kiêng kỵ việc ngủ chung với người trong những nghề hèn hạ như con hát, thái giám, cho rằng như vậy sẽ bôi xấu thanh danh của mình, mất mố làm ăn. Như Thanh bị loại sao nói "Nếu kỹ nữ ngủ chung với con hát thì mọi người đều khinh rẻ, nếu ngủ chung với kẻ yêm hoạn thì người biết chuyện sẽ không chiếu cố nữa". Lại như kỹ nữ trong chuyện làm ăn có những tin tưởng thế này, phàm lược rơi xuống đất ban đêm chủ về việc có khách chơi giàu có sang trọng vào phòng, lọ dầu chải tóc rơi xuống đất chủ về việc có khách chơi quấy nhiễu (14).
_______________________
(12) Trở lên xem thêm Ban Biên tập địa phương chí Thành phố Khai Phong, Khai Phong dân tục và Trần Vũ Môn, cổ Biện xướng kỹ huyết lệ lục.
(13) Xem thêm Nhiệm Sính, Trung Quốc dân gian cấm kỵ (Những kiêng kỵ trong dân gian Trung Quốc), Tác gia xuất bản xã, 1990, tr. 371
(14) Tục hải thượng phồn hoa mộng, tập 1, hồi 7
III. Phong tục tập quán của kỹ nữ
1. Đón hướng Hỷ thần
Đón hướng Hỷ thần (Đâu Hỷ thần phương), còn gọi là Đón tiền (Đâu tài) là một trong các tập tục dân gian truyền thống của người Hán, lưu hành ở khu vực Giang Nam. Theo lịch nhà Hạ ngày mùng một tháng giêng là Lăng thần, mọi người mặc áo đeo đai tề chỉnh theo lịch năm ấy chỉ thị mà đón phương hướng thần tài tới, trước bữa cơm sáng ra ngoài đồng dạo một vòng, để mong năm mới tiền bạc và điều vui sẽ tới cửa. Tập tục này cực kỳ thịnh hành trong kỹ nữ vùng ấy như Cửu vĩ quy hồi 132 thuật:
"Không đầy một lúc, đã nghe thấy xa xa có tiếng gà gáy sáng, ánh sáng đã mờ mờ xuyên qua cửa kính. Lục Lệ Quyên vội vàng ra trước gương rửa mặt, đánh phấn lại, rồi kẻ lông mày, thay một bộ quần áo khác, nhìn Thu Cốc cười nói "Chàng khờ đi thôi!". Thu Cốc nghe xong, bèn cùng bọn Tân Tu Phó đứng lên theo Lục Lệ Quyên xuống lầu. Còn có mấy chị em trong viện Lục Lệ Quyên đi cùng. Trai gái lố nhố khoảng mười mấy người. Thu Cốc vừa đi vừa nhìn kỹ trang phục của họ. Chỉ thấy họ người nào cũng đầu đầy châu ngọc trên người khoác áo da, cũng có áo da chồn, ngoài mặc quần kiểu trong cung bằng sa, thắt lưng buông xuống phất phơ. Lục Lệ Quyên còn mang một đôi hài cong bằng đoạn hồng. Người nào cũng mặc quần áo mới, giắt hoa cài lược. Một đám người đi ra khỏi cổng, Lục Lệ Quyên đứng lại nói "Năm nay Hỷ thần ở phương đông nam, chúng ta đi qua hẻm Đồng Khánh được không?". Mọi người đều theo lời nàng, đi thẳng vào hẻm Đồng Khánh. Tới đường Tứ Mã một người quay lại, ngẫu nhiên thấy trên đường có vô số kỹ nữ cũng đi về hướng Hỷ thần, ai cũng đầy mặt xuân tình, một thân xinh đẹp... Đi một vòng, mọi người lại trở về hẻm An Lý" (15)
________________________
(15) Cửu vĩ quy, hồi 132.
2. Mở mâm rượu ngày Nguyên đán
Ngày Nguyên đán đầu năm, theo phong tục của kỹ nữ Thượng Hải thời cận đại thì đều phải mời những khách chơi thân thiết với kỹ nữ tới Mở mâm rượu, phát tiền lì xì, mà kỹ nữ thì mở mâm quả chiêu đãi khách khứa. Tập tục này được Nhân gian địa ngục miêu tả khá tường tận chi tiết, sao ra dưới đây:
"(Diêu Túc Thu) vào hôm Nguyên đán, ăn sáng xongg thấy buồn chán, bèn tới chỗ Bích Yên mở mâm quả, thấy Bích Yên đang mặc một chiếc áo lông điêu ngoài một chiếc áo màu vàng sẫm điểm hoa hồng. Ngày thường chỉ thắt bím tóc, hôm nay thì chải đầu một lượt, trên đầu cắm hai chiếc thoa Tiên nhân chưởng. Trong phòng đều thay nệm gối màu đỏ, bước tới đình thì thấy chỗ giường căng một tấm màn tơ màu thiên thanh, trên giường là một chiếc chăn đại hồng bách quả. Trên giường buộc hai thanh gỗ cao hơn cây mía, ngoài bọc giấy đỏ, gọi là Đốt đốt Cao (Tiết tiết cao). Trên bàn phấn có hai cây nến đỏ chưa thắp. Lúc Diêu Túc Thu bước vào... người trong phòng vội vã tất bật mở trà Nguyên bảo, bưng ra bốn cái khay bạc lớn sắp xếp đầy đủ, đều là những món bánh mứt điểm tâm. Bà dì liền chạy vào nhà bếp nấu điểm tâm, A Thái thì cười hì hì bước tới bàn phấn cắm một đôi nến long phượng tuế thời. Túc Thu nói "Thắp nến làm gì?". A Thái đáp "Hôm qua đã thắp hết một đôi nến rồi, đôi này là chúng tôi đều nói lúc nào Nhị thiếu tới sẽ thắp. Quả nhiên người đầu tiên tới là Nhị thiếu tự nhiên là phải thắp chứ". Túc Thu quay lại cười cười nhìn Bích Yên nói "Chẳng lẽ đầu năm chúng ta sẽ thắp một đôi nến lớn à?" Bích Yên như giận mà không phải giận, lườm Túc Thu một cái. Vốn quy củ trong Đường tử ở Thượng Hải, năm mới có khách tới mở Mâm hoặc Mở mâm rượu đều phải thắp nến. Ai là người khách đầu tiên thì bắt đầu thắp nến. Túc Thu hôm nay tới đây, đương nhiên phải Mở mâm, nên A Thái vội thắp nến lên. Qua một lúc, chỉ nghe chỗ cầu thang có tiếng nhốn nháo, rất nhiều đàn ông kéo vào. Hôm nay ai cũng mặc áo bào màu lam, áo khoác màu đen, đội mũ quả dưa bước tới phòng trước nói "Chúng tôi phải chúc tết Nhị thiếu!", kế có ba bốn người bước vào dập đầu lạy Túc Thu. Nguyên đó đều là Giúp việc của phòng Bích Yên, vì Túc Thu ra vào đã quen, nên họ đều tới chúc tết. Túc Thu nhân đó hỏi Bích Yên, những người Giúp việc chỗ cô tất cả đàn ông đàn bà có bao nhiêu người, Bích Yên nói "Trên dưới lầu tất cả có mười người". Túc Thu bèn lấy ra hai mươi đồng nói "Nhờ cô phân phát giùm! Mỗi người một phong bao hai đồng" (16).
Ngoài việc Mở mâm rượu ngày Nguyên đán, theo tập tục ở Thượng Hải thời cận đại, kỹ nữ đều lấy ngày mùng năm tháng giêng làm ngày Thần tài. Đến hôm ấy, "Tất cả các Quán nhân đều ăn mặc đẹp đẽ ra đón Thần Tài, nên xe ngựa trên đường Mã Lộ đặc biệt đông đúc so với các đường khác" (17)
_______________________
(16) Nhân gian địa ngục, hồi 67
(17) Trương Xuân Phàm, Cửu vĩ quy, hồi 165.
3. Hội Cái hộp
Hội Cái hộp (Hạp tử hội) là một tập tục họp mặt năm mới của kỹ nữ thời trước, lưu hành ở vùng Giang Tô Nam Kinh, cử hành vào trước sau ngày Thượng tỵ Thanh minh hàng năm. Đến hôm ấy các kỹ nữ chọn một nơi yên tĩnh, tất cả đều trang điểm, mỗi người mang một hộp thức ăn tới phó hội. Ai mang bánh trái thức ăn mới lạ nhất thì người ấy thắng. Trong tiệc từng người diễn tấu hoặc diễn xướng làm vui. Dư Hoài thời Minh trong Bản Kiều tạp ký chép lại Hạp tử hội từ tự của Thẩm Chu nói "Những người tài sắc kiêm toàn trong các kỹ viện cũ ở Nam Kinh, có khi hai ba mươi người kết làm Chị em khăn tay (Thủ phách tỷ muội) (18). Ngày Thượng tỵ, lấy việc nấu nướng thức ăn để so tài, gọi là Hạp tử hội. Phàm người nào nấu được món lạ thì thắng, người thua thì bị phạt mời rượu người thắng. Trong đó có người có khách riêng, cũng tới góp tiền giúp việc họp mặt, đêm đêm uống rượu, cả tháng mới thôi. Trong tiệc thắp đèn tấu nhạc, mọi người đều trổ tài". Lại như Khổng Thượng Nhiệm thời Thanh trong Đào hoa phiến, Phỏng thúy chép "Các danh kỹ trong viện này kết làm Chị em khăn tay, cũng như anh em kết nghĩa, mỗi khi gặp ngày lễ tết thì hội họp vui chơi... Kết khăn là yên hoa bày hàng nhạn, gặp ngày tết mọi người đều điểm trang... Hôm nay là tiết Thanh minh nên đều đi phó hội... Hôm phó hội, mỗi người mang theo một cái hộp, đều là thức ngon vật lạ, có Hải thố, Giang dao, Ngọc dịch tương. Đến lúc hội mọi người so tài nấu nướng, đánh đàn, thổi sênh náo nhiệt".
_______________________
(18) Thủ phách tỷ muội, còn gọi là Hương hỏa tỷ muội, Hương hỏa huynh đệ. Trong giáo phường thời Đường, kỹ nữ gọi những chị em thân thiết cùng sảnh là Hương hỏa tỷ muội. Ví dụ Giáo phường ký của Thôi Lệnh Khâm viết "Các kỹ nữ trong giáo phường, lấy việc tính nết hợp nhau, đều kết làm Hương hỏa huynh đệ".
4. Điếu Liễu Thất
Viếng Liễu Thất (Điếu Liễu Thất), còn gọi là Lên mộ phong lưu (Thượng phong lưu trủng), lưu hành ở một dải Biện Kinh thời Bắc Tống. Theo ghi chép trong sử sách, hàng năm đến trước sau Tiết thanh minh, gió xuân hiu hiu, các danh kỹ trong thành không hẹn mà đều mang lễ vật tới mộ Liễu Vĩnh đốt giấy tiền vàng bạc, quét dọn nhổ cỏ. Những người chưa Viếng Liễu Thất, Lên mộ phong lưu thì không dám du xuân chơi hội Đạp thanh ngoài đồng. Tập tục phong lưu ấy mãi đến sau khi Tống Cao tông nam độ mới chấm dứt. Người sau có thơ đề mộ Liễu Vĩnh rằng
"Lạc du nguyên thượng kỹ như vân,
Tận thượng phong lưu Liễu Thất văn.
Khả tiếu phân phân tấn thân bối,
Lân tài bất cập chúng hồng quần"
(Du xuân kỹ nữ dạo trên đồng,
Đều tới mồ xưa viếng Liễu ông.
Nghĩ thẹn những người mang áo mão,
Thương tài lại kém kẻ quần hồng) (19)
________________________
(19) Dụ thế minh ngôn, quyển 12.
5. Thường nguyện
Kỹ nữ ở Thượng Hải thời cận đại vào Tiết thanh minh có tập tục Thường nguyện. Vương Thao trong Doanh nhu tạp chí quyển 1 nói "Người đất Hộ vào ngày Thanh minh, rằm tháng bảy và mùng một tháng mười hàng năm, theo lệ có tục dùng âm nhạc đưa thần Thành hoàng ra dạo ngoài đồng, đàn tế không thờ quỷ thần. Nghi trượng xe kiệu tùy tùng, ngựa hí vang đường, có đến vài trăm con. Kỹ nữ búi đầu xõa tóc, mặc áo đỏ, đeo gông bạc, đi phía sau kiệu, gọi là Thường nguyện. Trong đám có bọn lưu manh ở chợ, bọn thiếu niên khinh bạc chỉ trỏ đuổi theo cười nói cợt nhã. Đó không phải là kính thần, mà đúng là thành dâm phong vậy. Ôi!".
6. Tặng Mâm tết ngày Đoan ngọ
Ngày mùng năm tháng năm là ngày tết truyền thống của Trung Quốc, tục gọi là tết Đoan ngũ, cũng gọi là tết Đoan dương. Theo lệ kỹ viện, trong ngày Đoan ngọ kỹ nữ có hai việc lớn phải làm, một là Tặng mâm tết (Tống tiết bàn) cho khách chơi thân thiết, mời họ sau đó thường tới kỹ viện Uống rượu hoa, ngủ lại, để cầu được "song song đối đối, đoàn đoàn viên viên", hai là nhân cơ hội này đòi tiền cho Đường tử. Như Cửu vĩ quy hồi 99 miêu tả:
"Chớp mắt đã đến ngày Đoan ngọ. Hoa lựu đỏ rực, khí nóng bức người. Các Bà dì Chị lớn trong Đường tử đi lại không ngớt trên đường Mã Lộ, lại có bọn Đầy tớ rùa khiêng kiệu mang các lễ vật đi lại đầy đường. Khách còn nợ tiền kỹ viện đến lúc ấy đều mất tăm mất tích, báo hại đám Bà dì Chị lớn tìm kiếm muốn hôn mê" (20).
Phẩm vật trong Mâm tết đều gồm bốn món là đùi heo sấy, chà là, ngó sen tươi, quả tỳ bà. Ngoài lễ vật kỹ nữ tặng biếu cũng có một số là chủ chứa hay đám Giúp việc của kỹ viện tặng biếu. Như Cửu vĩ quy hồi 18 miêu tả "Lại nói Thu Cốc về tới khách sạn, qua vài hôm đã sắp tới ngày Đoan ngọ. Thu Cốc thanh toán tất cả tiền bạc, mình cũng tới nhà Trần Văn Tiên ở vài hôm, đưa một cái khăn tay gói hai mươi đồng Văn Tiên khuyên y không cần tốn kém nhưng Thu Cốc không nghe. Đến ngày Đoan dương, Thu Cốc đến trưa vẫn chưa ra chợt thấy Trần Văn Tiên ăn mặc lộng lẫy, châu ngọc đầy đầu, trang điểm thướt tha bước vào, sau lưng là một người Giúp việc, gánh một gánh đồ vật. Thu Cốc kinh ngạc ngồi dậy, hỏi Văn Tiên "Mâm tết của các ngươi đã mang tới rồi sao còn mang tới nữa?". Văn Tiên mỉm cười đáp "Mâm tết lần sau là Giúp việc hiếu kính, không quan hệ tới tôi. Chàng là khách của tôi, nhận hay không là tùy chàng nhưng xin nhận cho tôi có thể diện". Nói xong, gọi Giúp việc nhất nhất bày đồ lễ lên, Thu Cốc vô cùng kinh ngạc, nhìn tới lễ vật thấy là hai cái đùi heo sấy, mười giỏ bạch sa tỳ bà, một hộp thuốc lá Singapore, một tấm vải sa ngoại quốc, lại thấy Giúp việc xách ra một cái giỏ. Văn Tiên nói "Thức ăn ở khách sạn không ngon, đây là tự tôi làm, cũng mang tới đây". Rồi mở nắp hộp lấy ra từng món từng món bày lên bàn. Thu Cốc nhìn qua, thấy là một đĩa thời ngư lớn, một đĩa bạch chuẩn ba kiều, một con vịt quay nguyên con, một chén bào ngư. Vốn Trần Văn Tiên nấu những món mà Thu Cốc thích ăn, đặc biệt đưa tới".
Đương nhiên khách chơi không thể nhận không lễ vật của Giúp việc, ắt phải báo đáp trọng hậu, gọi là Tiền kiệu đưa lễ vật tới, cho kỹ nữ thân thiết được có thể diện.
______________________
(20) Trương Xuân Phàm, Cửu vỹ quy, hồi 99
7. Lão lang hội
Lão lang hội lưu hành ở vùng Giang Tô Nam Kinh, là một tập tục họp mặt trong năm của kỹ nữ. Theo sử sách, Lão lang hội mỗi năm cử hành ba lần vào ngày 11 tháng giêng, tháng 6, tháng 11 theo lịch nhà Hạ. Đến hôm ấy, các kỹ nữ đặc biệt điểm trang, cài hoa giắt lược, lại yêu cầu các khách chơi quen biết hàng ngày bày yến tấu nhạc, gọi là Làm thể diện (Tác diện tử). Kỹ nữ càng nổi tiếng thì số bàn tiệc càng nhiều. Trong đó Lão lang hội ngày 11 tháng 6 là lớn nhất. Hai bên bờ sông Tần Hoài cho tới dưới thuyền đều là nơi tụ họp uống rượu đàn hát (21).
______________________
(21) Hồ Phác An, Trung Hoa toàn quốc phong tục chí (Hạ thiên), Giang Tô dẫn lại từ Nam Kinh thái phong ký, Tuế thời tỏa ký.
8. Đả tiêu
Đả tiêu là một phong tục tế tự dân gian lưu hành trong người Hán, có từ rất sớm, Tống Ngọc trong bài Cao Đường phú đã ghi việc "Tiêu chư thần, lễ Thái nhất", về sau nó lại hấp thu nghi thức tế tự để tiêu tai cầu phúc, siêu độ vong hồn của Đạo giáo, dần dần chuyển biến thành phong tục dân gian. Đến thời Đường phong tục ấy rất thịnh hành trên đời. Diêu Linh Tê trong Kim binh tiểu trát chép "Gia huấn của Lục Du nói: Cái học của Hoàng Lão vốn thanh tĩnh tự nhiên, chuyện địa ngục thiên đường nào thường nhắc tới? Bọn đạo sĩ mũ vàng thấy đám sư sãi thu lợi bèn làm theo, đưa hồn lên trời, thay trời khoan hồng, gọi là Luyện độ, rất là đáng cười, như La thiên đại tiêu, Bình an đại tiêu, danh mục không sao kể xiết, tức tục Đả tiêu hiện nay", về sau mỗi khi đến trung tuần tháng bảy, lúc gió thu về, "Cả trong kỹ viện cũng đua nhau mở tiêu ba ngày. Toàn không nghĩ rằng ở đó đầy sự nhơ nhớp, đạo sĩ làm sao triệu được các thiên thần thiên tướng? Hòa thượng làm sao mời được bậc Đại từ đại bi? Nhưng lại đặc biệt thành kính, từ Bản gia tiên sinh tới Bà dì Chị lớn, mỗi khi đến ngày Đả tiêu thì ai cũng ăn chay, ai cũng muốn tiêu tai giải họa. Nhưng điều bất thống nhất là hôm ấy lại mời khách khứa tới đánh bạc, uống rượu, nhà bếp giết gà giết vịt, cũng không biết làm hại bao nhiêu sinh linh nhỏ, nói ra thật buồn cười" (22).
Tập tục Đả tiêu trong kỹ viện, trong tiểu thuyết ăn chơi thời Thanh Hoa liễu mộng (còn có tên là Hải thượng phồn hoa mộng) đã miêu tả cực kỳ sinh động như sau:
"Bản gia trong kỹ viện của Nhan Như Ngọc chọn ngày mười một, mười hai, mười ba tháng bảy làm lễ Đả tiêu, tất cả ba ngày. Thiếu Mục bày một Bàn đôi cho Như Ngọc, lại chơi một sòng bạc, đến hôm mười bốn, mấy người đạo sĩ làm ầm lên một đêm, Thiếu Mục thức suốt một đêm nhiệt náo. Nhân thấy họ cầm lệnh bài vung vẩy rối lên, hiệu triệu các thần, không nhịn được phì cười. Như Ngọc trách y không kính thần linh, rất là có tội, không cho y cười. Thiếu Mục hỏi thần linh nào, Như Ngọc nói "Là Ngọc hoàng đại đế, Thái thượng lão quân, Thái ất thiên tôn, Đại phạn đẩu mẫu, Cửu thiên lôi tổ, Tam giới phù quan, vị nào không phải thần linh? Ta có nói nhiều cũng không hết được, sao ngươi lại cười cợt?" Thiếu Mục càng cười lớn nói "Những thần thánh ấy có thật à? Cho dù có thật cũng e đám đạo sĩ nghiện thuốc phiện kia không mời được. Ở chỗ nhơ nhớp không sạch sẽ này thì nhất định không thần nào chịu xuống. Tại sao cô ngốc như thế?". Như Ngọc nói "Theo như ngươi nói thì đường tử bọn ta Đả tiêu chẳng lẽ là vô dụng à?". Thiếu Mục nói "Thì vốn có chỗ nào hữu dụng đâu? Chẳng bằng không làm còn hơn. Mà nếu quả muốn làm thì chẳng bằng giở tờ Thái phong báo đọc chuyện Hoa thiên diệm khẩu của Tiền Ngộ Huyện Tử một hồi còn thú vị hơn". Như Ngọc nói "Tại sao gọi là Hoa thiên diệm khẩu?". Thiếu Mục nói "Hoa thiên diệm khẩu là mô phỏng theo Du già diệm khẩu khoa, trong đó cũng có đủ các danh mục thắp hương, mời thần, gọi quỷ, bố thí. Có điều thần được mời thì chủ đàn là Quản Trọng, số còn lại là Tạ Thái phó, Bạch Hương Sơn, Đỗ Mục Chi, Trịnh Nguyên Hòa, đều là những người phong lưu tiêu sái thời cổ, những ma quỷ được triệu đều là loại dâm ma, sắc ma, cũng là do một người viết trong Hương phấn địa ngục đăng khoa
trong Tiếu lâm báo. Đúng là Đường tử các cô nên làm theo cách ấy, tại sao lại không làm, lại phải làm cái đạo trường lạc đề này?".
______________________
(22) Cảnh Mộng si tiên thời Thanh, Hoa liễu mộng, hồi 20.
9. Bình an hỷ lạc hội
Bình an hỷ lạc hội là một trong những phong tục phổ biến nhất trong kỹ viện, là một cách chủ chứa lấy cớ cầu đảo cho kỹ nữ khỏi bệnh, cầu phúc cho kỹ nữ tổ chức ra để lừa lấy tiền của khách. Hải thượng hoa mỵ ảnh hồi 15 có đoạn:
"Thời gian thấm thoát, đã đến ngày mười một tháng sáu. Sau giờ Ngọ có bốn năm đạo sĩ, một người hương hỏa, gánh một gánh đồ vật tới, gồm cả tranh thần, tới phường Nghênh Xuân, ở giữa lầu dưới, treo thần tượng Đông nhạc Tề thiên Nhân nguyên Thánh đế, Đô thiên Ngọc hoàng Đại đế, Thái sơn Nương nương, lại bày ra các bộ tranh vẽ thần tượng, bài vị, cắm phướn dài bảng văn, lại bảo Ngô lão má đưa ra rất nhiều gạo trắng và tiền bản mệnh buộc tua đỏ, kết thành một cái cân nhỏ, một mặt treo kín, định lập Đẩu án... Hôm sau lúc rạng sáng, có tám chín đạo sĩ tới sớm, khua chuông gõ khánh, mở đàn mời thần...
Đến đầu giờ ngọ, Giả Thư, Yển Vũ, Tống Trung, Tiêu Hóa nhất tề tới đó, mỗi người đưa một đồng Tây dương chúc mừng, Ngô lão má nhận lấy tạ ơn, rồi mời mọi người tới phòng Ngọc Châu. Cam Lương, Bảo Châu gọi vào ngồi, hút thuốc trò chuyên. Còn có khách khác, người nào cũng có phần tiền mừng, ngồi ở phòng Kim Châu, Tương Nga. Mặc Ngọc, Lan Phân, Như Ngọc, Tiểu Bảo đã sớm đưa phần lễ của mình, Ngô lão má lại sai người đi mời... Lễ hạ hỷ đã xong... đều mời xuống lầu dưới xem hội. Chỉ thấy một đạo sĩ đầu trùm khăn Nguyên điều, đội mũ giấy, mặc pháp y đạo sĩ miệng niệm không biết những gì, nói là đang dâng biểu văn lên thần thánh. Lại có một đạo sĩ búi tóc buộc dây đỏ có treo mấy đồng tiền đồng, vung vẩy bím tóc, cởi trần mặc quần xanh buộc túm ống, cầm một con dao nhà bếp, nói là Mở cửa tiền, rạch cánh tay chảy máu ra, dùng chén trà hứng lấy lại bưng chén máu ấy bôi lên then cửa các phòng, nhảy nhót rối lên ở các phòng... Đạo sĩ nhảy xong, buông roi xuống. Bảo Châu mời mọi người lên lầu ăn cơm trưa. Đám đạo sĩ khiêng một chiếc bàn vuông ra đặt chỗ thiên tĩnh, bày hương án, lại bày một bộ lòng heo lớn gõ trống đồng, xoay chiếc bàn, tụng niệm ran ran, gọi là Xoay bàn hoa (Chuyển hoa bàn)... Buổi tối bày tiệc rượu, Tương Nga mời mọi người vào tiệc, cười nói ăn uống. Sau khi tiệc tan, Giả Thư, Yển Vũ, Tống Trung, Tiêu Hóa thay Mặc Ngọc, Lan Phân, Như Ngọc, Tiểu Bảo phân phát tiền bạc, thù lao đạo sĩ, lại tặng đạo sĩ lễ vật rất hậu, mọi người cáo từ. Kim Châu, Tương Nga, Bảo Châu lưu họ lại xem hội ban đêm, mọi người không chịu, từ biệt ra về. Còn có khách ở phòng khác bày tiệc buổi tối, thù lao đạo sĩ, kế đó cũng tan. Chỉ có Cam Lương chưa tới phòng Bảo Châu. Đến đêm, đám đạo sĩ lại nhảy nhót năm mươi ba lần nữa, đóng thần đóng quỷ, lật cân đẩu, bày đài nến, diễn ảo thuật, các trò giải trí. Lại đóng giả hòa thượng thắp nhục hương, làm vui cho mọi người để lấy tiền, Cam Lương, Bảo Châu lại thưởng hai tờ sao phiếu, Kim Châu Tương Nga cũng thưởng tiền...Suốt đêm thanh la trống mõ ầm ĩ, đến mãi trời sáng, mới kết thúc đạo trường. Cam Lương lại thay Bảo Châu đưa tiền mừng, đám đạo sĩ kia gồng gánh trở về".
Đương nhiên, tất cả những phí tổn đều do khách chơi chi trả, số tiền không ít.
10. Rượu Đông chí
Theo tập tục của kỹ viện ở Thượng Hải thời cận đại, ngày Đông chí bất kể là buổi tối hay buổi sáng cũng phải có một mâm rượu. Qua ngày Đông chí là đã vào lúc cuối năm. Mâm rượu ngày Đông chí giống như mâm rượu cuối năm, rất là quan trọng. Ngoài mâm rượu đầu năm, chỉ có mâm rượu ngày Đông chí là phải mở Bàn đôi, đủ thấy mức độ trịnh trọng. Vì thế vào vài hôm trước ngày Đông chí, các kỹ nữ bắt đầu tích cực hoạt động, mời các khách chơi thân thiết vào ngày Đông chí tới kỹ viện bày rượu mời khách, mâm rượu càng nhiều, kỹ nữ càng có thể diện. Nếu trong tiết mục lớn ngày Đông chí ấy mà khách nào không tới kỹ viện đặt một mâm sẽ bị kỹ viện coi là một điều nhục nhã rất lớn, rất là mất mặt.
Không có nhận xét nào:
Đăng nhận xét