Thứ Năm, 1 tháng 12, 2016

Lịch sử kỹ nữ _ Chương 6

Chương 6. Sinh hoạt thường ngày của kỹ nữ


I. Sinh hoạt thường ngày của kỹ nữ

Kỹ nữ tuy sinh hoạt ở dưới đáy xã hội nhưng vì lý do nghề nghiệp lại thường trải qua cuộc sống trời hoa đất rượu, mặc đẹp ăn ngon. Điều đó so với những phụ nữ lao động vất vả quanh năm mà không được no ấm, thậm chí còn có thể bị đẩy tới ranh giới giữa cái sống và cái chết thì hạnh phúc hơn rất nhiều. Đương nhiên mục đích cuối cùng của việc kẻ thống trị hay chủ chứa ưu đãi kỹ nữ hoàn toàn không phải vì họ, mà là có mục đích không thể nói ra, đó chính là để thỏa mãn trọn vẹn yêu cầu thưởng thức của khách chơi, để cho kỹ nữ từ dáng vẻ dung mạo tới y phục nhà ở thảy thảy đều phù hợp với thị hiếu và yêu cầu thẩm mỹ của mọi người.

Từ ngày nảy sinh, kỹ nữ đã trải qua cuộc sống xa xỉ mà tất cả phụ nữ lao động không sao bén gót. Theo sử sách ghi chép ba vạn nữ nhạc của vua Kiệt nhà Hạ đều là "quần áo gấm thêu", mà đám nhạc kỹ của vua Trụ nhà Thương, thì đều đeo "vàng ngọc châu báu".

Thời Xuân thu Chiến quốc, kẻ thống trị để thỏa mãn yêu cầu thưởng thức của mình, dùng một số lượng lớn của cải mồ hôi nước mắt bóc lột được của nhân dân lao động nuôi nữ nhạc thành bầy. Hơn một ngàn cung nữ của Tề Tương công "ăn toàn thức ngon, mặc toàn gấm vóc", mấy trăm cung kỹ của Bình Nguyên quân nước Triệu "mặc lụa là, thừa thức ngon". Vì thế Cữu Phạm nước Tấn từng phê phán Bình Nguyên quân ưa thích ca kỹ, nói tình trạng đương thời là "Thù nho hữu dư tửu nhi tử sĩ khát... Dân hữu cơ sắc nhi mã hữu túc trật" (1), ý nói đám con hát có rượu uống không hết mà các chiến sĩ giữ nước bảo vệ dân thì khát khô cổ, thức ăn nuôi ngựa sung túc như thế mà thứ dân bách tính lại đang đói. Giữa hai bên hình thành một khoảng cách rất lớn.

Thời Tần cũng thế. Sử chép Tần Thủy Hoàng nuôi mấy vạn ca nữ, đều là "ăn ngon mặc đẹp, quây quần trước mặt, y phục nhẹ ấm, xe kiệu lộng lẫy".

Phục sức của kỹ nữ thời Hán đẹp hơn của phụ nữ bình thường rất nhiều. Giả Nghị nói "Nay nhà cửa của thứ dân trang trí như của hoàng đế, bọn con hát hèn hạ thì trang sức như hoàng hậu" (2). Theo đó chúng ta có thể biết phục sức của kỹ nữ thời Hán khá đẹp. Đương thời một số kỹ nữ được sủng ái thường mặc gấm vóc lụa là. Như trong cung thời Đông Hán "Thể nữ vài ngàn người, ăn ngon mặc đẹp, phấn son trang điểm, không sao kể xiết", kỹ nữ trong các nhà quý tộc cùng thế, như gia kỹ trong nhà Ngũ hầu thời Đông Hán "đều trang sức xa xỉ, bắt chước cung nhân" (3). Đúng như người đương thời Hoàn Khoan nói trong Diêm thiết luận, Thích quyền "Nhà các quý nhân, gái đẹp Trung Sơn la liệt trên thềm, nhã nhạc vang lừng, ở dưới thềm thì phụ nữ mặc lụa là, tỳ thiếp khoác gấm vóc".

Thời Ngụy Tấn Nam Bắc triều, vì quân phiệt đánh nhau liên miên, đời sống kinh tế của xã hội bị phá hoại nặng nề, phần đông nhân dân lao động bị giết chóc, đói không có cơm, rét không có áo. Nhưng sinh hoạt thường ngày của kỹ nữ lại không vì thế mà bị ảnh hưởng chút nào, vẫn ăn ngon mặc đẹp như ngày thường. Thạch Hổ nhà Hậu Triệu có mấy ngàn cung kỹ, "đều y phục trang sức vàng bạc lấp lánh", Thạch Sùng nhà Tây Tấn trong nhà có trên ngàn kỹ nữ, "đều xông lan xạ, mặc lụa là", "khoác gấm vóc, đeo trang sức. Nghe hết sáo ngọc phách vàng, ăn đủ sơn hào hải vị" (4). Nguyên Ung nhà Bắc Ngụy, “"có năm trăm kỹ nữ châu ngọc lấp lánh, gấm vóc lộng lẫy" (5). Nguyên Hy có mấy mươi cơ thiếp "y phục gấm thêu, xe kiệu lộng lẫy" (6). Nguyên Thám còn "Tạo quán Nghênh Phong ở hậu viên, cửa sổ treo tiền làm rèm, phượng ngọc ngậm nhạc, rồng vàng nhả ngọc, cành táo trắng mận đỏ chìa vào trước thềm, kỹ nữ trên lầu, ngồi hái mà ăn" (7). Nguyễn Điền Phu nhà Lưu Tống thời Nam triều, "Có vài mươi nữ kỹ tài sắc đứng đầu đương thời, vàng ngọc lụa là, cung kỹ cũng không bằng. Mỗi ngày may một kiểu quần áo, chế một kiểu đồ chơi, người ở kinh đô không ai không bắt chước" (8).

Thời Tùy Đường, nước mạnh dân giàu lại càng nuôi dưỡng phong khí xa xỉ từ trên tới dưới. Theo Triều dã thiêm tải chép, tiết Thượng nguyên năm Tiên Thiên thứ 2 đời Duệ tông (684), làm một bánh xe đèn cao hai mươi trượng ngoài cửa An Phúc kinh đô Trường An, trang trí bằng vàng ngọc lụa là, chung quanh thắp năm vạn đĩa đèn, "Dày đặc như cây hoa. Cung nữ hàng ngàn người, mặc lụa là, khoác gấm thêu, châu ngọc sáng ngời, xạ lan sực nức, một cái mũ, một tấm khăn cũng đáng giá hàng vạn đồng, búi tóc của kỹ nữ cũng tới ba trăm quan" (9). Mà sinh hoạt của một số danh kỹ thì còn sánh ngang với các mỹ thiếp của vương hầu quý tộc. Như danh kỹ Sử Phượng ở Tuyên Thành trong nhà có các phòng ốc bảo vật hào hoa xa xỉ như Mê hương động, Thần kê chẩm, có một nhà giàu bỏ ra ba mươi vạn đồng mới được đi xem khắp nơi trong nhà" (10). Vì thế người đương thời có câu

"Đương song khước mỹ thanh lâu xướng,
Thập chỉ bất động y doanh xương"

(Trước song gái đẹp thanh lâu hát,
Không động tay chân đủ áo cơm)(11)

Sở Nương cũng là "Nằm giường đồi mồi, treo rèm phỉ thúy" (12).

Sinh hoạt của kỹ nữ thời Tống cũng khá sung túc, một số danh kỹ còn có thể dùng từ hào hoa xa xỉ để hình dung. Chu Mật trong Vũ lâm cựu sự nói "Những người lớp trước như Trại Quan Âm, Mạnh Gia Thuyền, Ngô Linh Nhi rất đông, đều lấy tài sắc đứng đầu một thời, trong nhà rất hào hoa. Những nhà được chính mắt nhìn thấy gần đây, chỉ có nhà Đường An An nổi tiếng thịnh vượng nhất, phàm đồ dùng uống rượu, sa la, thùng nước đá, bếp lò, hộp nữ trang đều làm bằng vàng bạc. Màn trướng chăn nệm phần lớn dùng gấm. Những đồ cổ ngoạn đều phù hợp với khung cảnh trong nhà. Những kẻ dưới mức đó tuy không bằng được, nhưng cũng tranh nhau phô trương sự hào hoa, những vật dùng như đồ uống rượu, trang sức, chăn nệm, quần áo đều có người chuyên cho thuê. Cho nên phàm khách tới thì đồ dùng để cung đốn đều thay đổi, kẻ không quen chơi bời không sao hiểu được".

Thời Minh Thanh sinh hoạt của kỹ nữ ở Thượng Hải cũng mười phần sung túc. Như chủ chứa trong Hình thế ngôn, hồi 1 Liệt sĩ bất bội quân, Trinh nữ bất nhục phụ bài trí phòng khách cho Thiết tiểu thư "Trong phòng bày chăn gấm màn thêu, danh họa lò hương cổ, tỳ bà đàn sáo, trong thiên tỉnh bày chậu cá cây cảnh, kỳ hoa dị thảo". Trang phục trên người thì họ không kể gì tới lệnh cấm của triều đình, ngang nhiên học theo lối nhà quý nhân, "không phải áo màu đại hồng không mặc" (13). Về xe kiệu vốn kỹ nữ không được đi kiệu, nhưng có kẻ công nhiên ngồi kiệu tám người khiêng, nghênh ngang đi qua chợ. Ngoài ra những vật dùng trong nhà cũng vô cùng xa xỉ.

Kỹ nữ Thượng Hải đứng đầu toàn quốc thời cận đại lại càng chống báng quan niệm đẳng cấp truyền thông thời phong kiến. Đại Thanh hội điển quy định rõ kỹ nữ không được dùng tơ lựa, quyến đoạn, sa la và các loại vải mịn, quần áo không được thêu kim tuyến. Nhưng ở Thượng Hải kỹ nữ lại "không ai không mặc tơ lụa", "con hát kỹ nữ mặc gấm thêu đeo vàng ngọc là chuyện thường" (14). Về vật dùng thường nhật thì kỹ nữ ở Thượng Hải thời cận đại đã không coi việc ra cửa là lên kiệu là đặc quyền của các bậc đại quan quý nhân, cứ Ra cuộc là ngồi kiệu lớn, "sang trọng phi thường, không khác gì các quan phủ đạo, trước kiệu sau kiệu đều có đèn chiếu sáng, ghi rõ tên họ bằng chữ lớn, lấy việc nghênh ngang đi qua chợ làm điều vinh dự, có khi còn viết bốn chữ Chính đường công vụ, người trên đường nhìn thấy, đều không hiểu vì sao
_______________________

(1) Xem Thuyết uyển, Chính gián.
(2), (3) Hán thư, Giả Nghị truyện.
(4) Tấn thư, Thạch Sùng truyện.
(5) Lạc Dương già lam ký, quyển 2.
(6) Ngụy thư, Hàm Dương vương Hy truyện.
(7) Lạc Dương già lam ký, quyển 4.
(8) Nam sử, Nguyễn Điền Phu truyện.
(9) Triều dã thiêm tải, quyển 3.
(10) Vân Tiên tạp ký, quyển 1.
(11) Vương Kiến, Đương song chức.
(12) Long Phụ, Nữ hồng dư chí.
(13) Duyệt Thế biên, quyển 8
(14) Cát Nguyên Cù, Hộ du tạp ký, quyển 1, 1876


II. Phục sức và trang điểm của kỹ nữ

1. Phục sức của kỹ nữ

Tục ngữ có câu rất hay là "Sĩ vị tri kỷ giả tử, nữ vị duyệt kỷ giả dung" (Kẻ sĩ chết cho người biết mình, phụ nữ trang điểm cho người yêu mình), ở một mức độ nhất định mà nói, quần áo trang điểm của kỹ nữ đều là nhằm mục đích làm vừa mắt khách khứa. Suy nghĩ trên phương diện nghề nghiệp, thì y phục trang sức của kỹ nữ thể hiện rõ đặc điểm hào hoa, hợp thời.

Phục sức của kỹ nữ từ thời Tùy đến Thịnh Đường chủ yếu thịnh hành kiểu áo tay hẹp, quần dài. Kiểu áo ngắn tay hẹp là từ thời Lục triều lưu truyền lại, như bài thơ Mỹ nhân của Hàn Ác thời Đường viết

"Niễu ná yên chi đạm bạc trang
Lục triều cung dạng trách y thường"

(Tha thướt yên chi má phớt hồng,
Áo màu tay hẹp lối trong cung).

Từ tư liệu thư tịch và khảo cổ học mà nhìn, thì từ thời Tùy đến thời Sơ Đường chủ yếu lưu hành loại áo tay hẹp này, như hình tượng nghệ kỹ mặc áo tay hẹp trong bức bích họa Từ Thị lang phu nhân xuất du đồ trong ngôi mộ thời Tùy số 1 khai quật được ở núi Anh Sơn Gia Tường Sơn Đông. Hình thức áo tay hẹp của kỹ nữ thời Thịnh Đường khác kỹ nữ thời Tùy, chủ yếu không xẻ tà, theo kiểu che kín ngực, vả lại còn thêu thùa rất hoa mỹ. Vạt áo may kiểu hình hai quả đào ăn khớp với bộ ngực phụ nữ vun cao, ôm sát vào người làm hiện rõ vẻ đẹp hình thể của phụ nữ. Đây là lối trang phục hợp thời trang nhất thời Thịnh Đường, cũng là trang phục đặc biệt của cung kỹ.

Quần dài cũng là trang phục mà kỹ nữ thời Tùy Đường ưa thích, về màu sắc thì phổ biến các màu hồng, tía, vàng, lục. Như bài Ngũ nhật quan kỹ của Vạn Sở nói

"Mi đại đoạt tương huyên thảo sắc,
Hồng quần đố sát thạch lưu hoa"

(Quần hồng hoa lựu ghét,
Mày biếc cỏ huyên phai).

Bài Bồi chư quý công tử trượng bát câu huề kỹ nạp lương ngộ vũ của Đỗ Phủ viết

"Việt nữ hồng quần thấp,
Yên cơ thúy mặc sầu"

(Việt nữ quần hồng ướt,
Yên cơ má phấn sầu).

Bài Lư thị tiểu kỹ khất thi tọa thượng lưu tặng của Bạch Cư Dị viết "Sơn thạch lưu hoa tạp vũ quần" (Quần múa đỏ màu hoa thạch lựu). Từ đó có thể thấy kỹ nữ thời Đường mặc quần màu hồng khá phổ biến. Ngoài ra quần màu tía, màu vàng, màu hoa liễu, màu trân châu, màu phỉ thúy, màu úc kim, màu thạch lựu cũng chiếm một thị trường nhất định trong giới kỹ nữ. Như câu thơ Đường "Xướng gia nhật mộ tử la quần" (Thanh lâu sớm tối quần là tía).

Hồ phục cũng là một kiểu trang phục lưu hành trong kỹ nữ thời Đường. Như bài thơ Giá kỹ kỹ của Bạch Cư Dị viết

"Hồng lạp chúc di đào diệp khởi,
Tử man sam động thạc chi lai.
Đới thùy tế khóa hoa yêu trọng,
Mạo chuyển kim linh tuyết diện hồi"

(Nến đỏ vừa dời đào nảy lá,
Áo là thoáng động nhánh to lay.
Đai buông khóa nhỏ lưng hoa nặng,
Mũ động ngù vàng mặt tuyết phơi).

Tập tục kỹ nữ mặc Hồ phục này vẫn còn ảnh hưởng đến măi thời Ngũ đại, Lưỡng Tống.

Từ những bài thơ nói trên, chúng ta còn có thể biết thêm về những châu ngọc mà kỹ nữ thời Tùy Đường đeo ở lưng. Như kỹ nữ Nghi Xuân viện thời Đường có tập tục đeo ngọc bội hình con cá, như Giáo phường kỹ chép "Kỹ nữ vào Nghi Xuân viện, gọi là Nội nhân, cũng gọi là Tiền đầu nhân, thường đứng ở đầu hàng... Biểu diễn dưới lầu, thì đưa đội Nghi Xuân viện ra, nếu thiếu người thì đưa ban Vân Thiều bổ sung. Vân Thiều gọi là cung nhân, đại khái là đám nữ nhạc tầm thường. Họ không hề xinh đẹp, nên dễ nhận ra. Nội nhân thì mang ngọc bội hình con cá, cung nhân thì không".

Yếm (Bảo mạt) cũng là thời trang của kỹ nữ thời Tùy Đường. Thơ Tùy Dạng đế 

"Cẩm tụ Hoài Nam vũ,
Bảo mạt Sở cung yêu"

(Áo gấm Hoài Nam múa,
Yếm ngực Sở cung che).

Thơ Lư Chiếu Lân thời Đường "Xướng gia bảo mạt xà long bị" (Thanh lâu trên yếm thêu rồng rắn). Cổ kim chú gọi là Yêu thái. Vương Kỳ xét: Yếm là áo lót của cung nhân, người ta không thấy, nhưng có màu đỏ tươi như hoa chuối, ngoài khoác áo Cúc y, Cúc y đã mỏng, lại không che được màu yếm, nên thấp thoáng màu hồng.

Kỹ nữ thời Ngũ đại phục sức cũng thay đổi nhiều. Như quan kỹ nhà Tiền Thục phần lớn mặc đạo bào, đội mão Liên hoa, tô son đánh phấn, vẽ mặt, gọi là Trang điểm kiểu say rượu (Túy trang). Bài Túy trang từ của Vương Diễn viết "Giá biên tẩu, na biên tẩu, chỉ thị tầm hoa liễu. Na biên tẩu, giá biên tẩu, mạc yếm kim bôi tửu" (Đi bên này, đi bên kia, chỉ là tìm hoa liễu. Đi bên kia, đi bên này, chớ chán chén rượu vàng).

Ca kỹ thời Tống lưu hành loại Quần rộng tám mảnh loại quần này trước sau đều có bốn mảnh, bó sát đùi, lúc múa nhấc chân lên trông rất xinh đẹp phong tình. Cao Hưu trong Phục Lễ Tuyền bút ký quyển thượng dẫn lại lời Tư Mã Công Văn "Thời Bắc Tống, phụ nữ không mặc quần rộng và xiêm, quanh quần trước sau đều xẻ để tiện cưỡi lừa, phong thái ấy bắt đầu từ kỹ nữ ở kinh đô mà nhà các sĩ đại phu lại rất hâm mộ"

Kỹ nữ Yên Sơn thời Liêu, mùa hè mùa đông đều mặc quần bông, phong tục ấy đến thời Nguyên Minh vẫn không suy. Như Trang Xước thời Tống chép trong Kê cân biên "Kỹ nữ ở Yên Sơn..., bất kể mùa nóng mùa rét, cũng mặc quần bông".

Thời Nguyên Minh, kỹ nữ vẫn mặc áo đen, đội giác cân. Như Nguyên điển chương nói "Năm Chí Nguyên thứ 5 Trung thư sảnh ra lệnh kỹ nữ mặc áo đen, đội giác cân. Những người đàn ông thân thích trong nhà kỹ nữ thì đội khăn xanh". Tân Nguyên sử, Dư phục chí nói "Năm Diên Hựu thứ 1 đời Nhân tông hạ chiếu định về màu sắc quần áo: Kỹ nữ ra vào, chỉ được mặc áo đen, không được ngồi xe ngựa". Minh sử Dư phục chí "Quan phục của Ty giáo phường đã định rõ năm Hồng Vũ thứ 3. Nhạc công ở Ty giáo phường đội khăn chữ Vạn màu xanh, thắt dây lưng đỏ, nhạc kỹ thì đội khăn đen mặc áo đen, không cho vợ thường dân ăn mặc như vậy... Con hát trong Ty giáo phường thường đội khăn màu lục, để phân biệt với trang phục của sĩ dân". Lưu Thần thời Minh trong Quốc sơ sự tích viết "Thái tổ lập ra viện Phú Lạc ở cầu Càn Đạo, ra lệnh đàn ông đội khăn màu lục, thắt dây lưng đỏ, đi hài da heo màu đen, không cho đi giữa đường, chỉ được đi trên ven đường. Có khi sai mặc áo khoác như thợ thủ công, kỹ nữ đội mũ đen, mặc áo đen, ra vào không cho phép mặc y phục lộng lẫy". Từ đó có thể thấy thời Nguyên y phục của kỹ nữ vẫn là màu xanh và màu lục. Người sau gọi kẻ có vợ con bán dâm là Đội khăn xanh (Đới lục đầu cân) hoặc Đội mũ xanh (Đới lục mạo tử) chính xuất phát từ đó.

Quan sam phí tử (cũng gọi là Bối tử quan nhi) là lối trang phục đặc biệt của riêng quan kỹ thời Nguyên. Như Khốc hàn đình màn 1 "Từ nhỏ học trò chuyện ca múa... Ta nay nộp lại Quan sam phí tử, lấy chồng rời khỏi nơi này". Hoàn lao mạt màn 1 "Ta vốn là một Thượng sảnh hàng thủ ở đây, vì không Đương quan thân nổi, nên nộp lại quan sam phí tử, đưa lễ vật lên xin xóa tên". Lưu Hàng thủ màn 2 "Thì bắt ngươi mặc áo bối tử, đội quan sớ... ngõ liễu đường hoa chuốc lấy tội nghiệt". Dư đông tự lục trích sao nội ngoại thiên quyển 1 viết "Kỹ nữ đội bối tử, khác với thê thiếp thứ dân... Phụ nữ làm con hát không cho đội mũ, mà đội bốỉ tử". Phong quang hảo màn 4 "Ông ta hứa cho phu nhân của ta làm thứ thiếp, xóa tên khỏi chốn yên hoa, thì không phải đội bối tử mà tới hầu các quan nữa". Điệu Hỷ xuân lai của một tác giả vô danh viết

"Quan nhi bối tử đa phong vận,
Bao kế đoàn sam dã bất thôn"

(Quan nhi bối tử nhiều phong vận,
Búi tóc dù tròn cũng chẳng quê).

Đến cuối thời Minh, phục sức của kỹ nữ càng ưa chuộng lối Ngô Môn. Tẫn cung di lục nói "Chu hậu quê ở Tô Châu, Điền Quý phi quê ở Dương Châu (Chu, Điền đều là hậu phi của Sùng Trinh). Họ đều học lối phục sức ở Giang Nam, gọi là Tô dạng". Dư Hoài trong Bản Kiều tạp ký nói "Lối phục sức quần áo của Khúc viện phương nam, đều được các nơi lấy làm khuôn mẫu. Đại khái lấy sự đạm nhã đơn giản làm chủ".

Phục sức của kỹ nữ thời Thanh cũng lấy lối Ngô Môn làm điển hình. Tục Bản Kiều tạp ký nói "Phục sức trong Khúc viện theo lối Tô Châu mà vạt áo bằng vải màu ống tay áo rộng, cũng gọi là lối Dương Châu". Họa phảng dư đàm nói "ở ngõ Diêu Gia, cầu Lợi Thiệp, bến Đào Diệp phần lớn là người Tô Châu mở cửa hàng dày đặc, bán các món thủ quyến phượng đâu, dù che mưa, guốc gỗ, guốc cao gót, túi hương, khăn tay in hoa Tây dương, mẫu thêu họ Cố, khãn hoa, đăng ten, đảng ten thêu, tua nẹp trên cổ áo tay áo, tụi hoa, búi tóc giả, bộ dao (chuỗi hạt châu gắn vào vật trang sức trên đầu lúc bước đi thì đong đưa), lóng lánh rực rỡ, vật dùng của phụ nữ mười món thì có tới chín món. Nên y phục trang sức của các kỹ nữ đều mua ở đó. Vì màu sắc hình thức khác nhau nên những món lạ bán với giá rất cao".

Kỹ nữ ở Thượng Hải thời cận đại lúc đầu phục sức cũng học lối Tô Châu. Như Hải tưu dả du lục nói "Lấy xu hướng của lầu xanh làm nhã hay tục. Kỹ nữ trong thành Thượng Hải đều từ Ngô Môn tới nên quá nửa ăn mặc theo lối Ngô Môn. Lúc bấy giờ kỹ nữ hạng thấp phần lớn gọi là Người may vá (Phùng nhân). Tiếp nhận lối mới sửa lại qua loa, vô cùng khéo léo. Nếu ăn mặc giản dị, phong vận độc tuyệt, thi nên nhìn bằng con mắt khác". Tô Lợi Trạch Hành giả trong Trúc tây hoa sự tiểu lục viết "Trang phục trong Khúc viện đều theo lối Tô Châu. Quần Kim nê, áo Phù dung, bắt chước chưa hẳn đã đúng, nhưng về quy cách đại khái cũng đầy đủ".

Cuối thế kỷ XIX đầu thế kỷ XX, Thượng Hải trải qua một cuộc cách mạng tiêu dùng vượt thế kỷ. Lấy các thương nhân giàu phất lên và các kỹ nữ đứng đầu mà nói thì họ đã phát động cuộc tấn công có tính chất hủy diệt đối với quan niệm đẳng cấp phong kiến. Trước hết về phương diện trang phục, bọn con hát kỹ nữ mặc lụa là gấm thêu cũng trở thành chuyện bình thường". Mà Lâm Mặc Ngọc được gọi là một trong Tứ đại Kim cương ở Thượng Hải càng đặc biệt, vào đợt bình chọn người đẹp mùa thu năm 1896 đã mặc một chiếc áo bằng đoạn màu đại hồng thêu kim tuyến, gắn lục lạc vàng, lộng lẫy lóa mắt. Từ đó kỹ nữ đất Hộ tranh nhau bắt chước, lại càng ưa chuộng quần áo lộng lẫy mới mẻ, tranh nhau khoe đẹp trong Mười dặm ruột dê.

Trang phục của kỹ nữ cũng thay đổi liên tục, có sự biến động rất lớn. Gái thanh lâu ở Thượng Hải là người lãnh đạo trào lưu trang phục mới trong toàn quốc, họ ăn mặc theo lối Bát kỳ, lối nam trang, cũng có theo lối Quảng Đông, lối Nhật Bản. Thân báo nói "Hai mươi năm trước giữa phụ nữ bình thường với kỹ nữ còn có sự phân biệt, nay thì một kiểu áo cũng do kỹ nữ tùy ý đề xướng, vẽ vời thay đổi. Phụ nữ bình thường cố gắng học theo, chỉ sợ hơi có chỗ nào không hợp thời, nhất định phải làm cho làn da nét mặt cực kỳ xinh đẹp cho người ta nhìn thấy không phân biệt được ai là phụ nữ nhà lành ai là kỹ nữ mới thôi" (17). Nói chung kỹ nữ hạng sang ở đất Hộ đều thích mô phỏng lối ăn mặc của nữ sinh, chân đi giày da, mắt đeo kính gọng vàng, búi tóc kiểu phương tây, buộc thêm băng vải màu. Mà kỹ nữ Giang Chiết cũng không chịu thua kém, cũng ra sức làm theo. Vì thế trang phục của nữ sinh đương thời xuất hiện trong chốn Bắc lý. Tần Hoài cảm cựu tập viết "Năm ba năm trở lại đây... thường thấy các danh kỹ ở Tần Hoài rất thích không dùng son phấn, lông mày vẽ nhạt, có người học lối trang phục của nữ sinh, giống hệt con nhà đại gia nên tân khách giang hồ, con em quý tộc không ai không hoa mắt xiêu lòng, chỉ sợ không lấy lòng kịp, tình dài khí ngắn, ngày càng mê đắm vào họ".

Đến đầu thế kỷ này, phục sức của kỹ nữ lại càng khiến người ta hoa mắt, đã xuất hiện lối ăn mặc kiểu nam trang, như Tục hải thượng phồn hoa mộng tập đầu quyển 5 miêu tả:

"Một kỹ nữ ăn mặc lối nam trang, mái tóc đen bóng buông xõa xuống, đầu đội nón rơm, chân đi giày da, mặc một chiếc quần dài màu bảo lam bằng sa ngoại quốc, áo khoác màu đen bằng sa ngoại quốc, đeo một đôi kính gọng vàng, miệng ngậm một điếu thuốc thơm, tay cầm một chiếc quạt Nhật Bản dài không tới năm tấc, vừa đi vừa phe phẩy, phảng phất như một gã lưu manh. Phía sau có một Chị lớn cầm một cái ô ngoại quốc, cun cút đi theo".

Lối trang phục ấy phản ảnh thị hiếu và xu thế thẩm mỹ mới và tâm lý sùng ngoại của kỹ nữ sau khi mở cửa. Đúng là

"Xuân thời phụ nữ cạnh tân trang,
Hà diệp biên hề cổn mãn thường,
Sơ đắc thời tân nguyên bảo kế,
Dạ gian quyền tác chẩm hà phường"

(Phụ nữ vào xuân đua điểm trang,
Tà áo sen xanh lụa biếc viền,
Học lối thời trang cùng búi tóc
Đêm khuya thay gối cũng an nhàn) (18).

______________________

(17) Thân báo, ngày 22. 4. 1898
(18) Thân báo, ngày 4. 8. 1912, Tự do đàm, tranh đề thơ.

2. Trang điểm của kỹ nữ

Cũng như phục sức của kỹ nữ, mục đích duy nhất trong việc trang điểm của kỹ nữ cũng là để tăng cường sức hấp dẫn của mình, thu hút khách chơi chú ý.

Để đạt tới mục đích đó, các kỹ nữ không tiếc nhất thiết đại giới truy cầu thời hoàn dữ đặc biệt tân kỳ đích kết quả, hóa trang chính là một bộ phận cấu thành quan trọng trong sinh hoạt thường nhật của họ. Từ tư liệu sử sách mà nhìn, việc trang điểm của kỹ nữ chủ yếu có thể chia làm hai bộ phận là trang điểm mặt mũi và trang điểm đầu tóc.

Diện trang (trang điểm trên mặt) rất quan trọng trong việc trang điểm của kỹ nữ, vì mặt là nơi thể hiện tình cảm tập trung, rất dễ thu hút sự chú ý của ngưởỉ khác. Để được hảo cảm của khách, các kỹ nữ đều suy nghĩ rất nhiều về việc trang điểm má, lông mày, môi, tai.

Đến thời Ngụy Tấn Nam Bắc triều, kỹ thuật trang điểm của kỹ nữ đã đạt tới trình độ cao, dần dần thành thục, trên cơ sở đánh phấn tô son vẽ mày vốn có, lại xuất hiện rất nhiều cách thức trang điểm mới, về điều này có thể tìm được bằng chứng trong câu "Bạc mấn văn vi hoàng, Khinh hồng đạm diên kiểm" (Bím nhỏ nét hơi vàng, Phớt hồng nhạt má xám) trong bài Vịnh ca cơ của Giang Hồng. Việc điểm trang của kỹ nữ thời Tùy trên cơ sở quá khứ lại tiến thêm một bước. Từ búi tóc mà nhìn, thì búi tóc của kỹ nữ thời Tùy khá thấp, có rất nhiều kiểu. Mã Cảo trong Trung Hoa cổ kim chủ nói "Trong niên hiệu Đại Nghiệp thời Tùy ra lệnh cho cung nhân búi tóc kiểu Cận hương, Quy Tần, Phụng tiên, Tiết vựng". Trong cung kỹ rất thịnh hành vẽ lông mày dài, Đồ Bảo trong Đại Nghiệp thập di ký nói "Dạng đế xuống Giang Nam, các Điện cước nữ học lối kẻ lông mày dài. Quan Tư cung mỗi ngày cấp cho năm đấu mực Loa tử, gọi là Nga lục. Mực Loa tử xuất từ nước Ba Tư, mỗi giọt giá mười lượng vàng. Về sau thu thuế không đủ, nên trộn Đồng mặc vào cấp cho". Ngoài ra các kỹ nữ ca múa trong cung thời Tùy còn thường đeo châu ngọc ngoài quần. Trung Hoa cổ kim chú nói "Trong niên hiệu Đại Nghiệp thời Tùy, Dạng đế chế ra quần là ngũ sắc ống hẹp, ban cho cung nhân cùng mẹ và vợ của các quan, lại chế quần Hoa lung bằng là Đơn ty làm trang phục mới cho cung nhân hầu yến. Về sau lại cắt vải may hình chim phụng đính trên nẹp quần, giống như áo cánh thời cổ, đến năm Khai Nguyên vẫn còn dùng".

Trang điểm của kỹ nữ thời Đường lại càng ngày thêm phát triển, đủ màu đủ vẻ. Như Triều dã thiêm tải thuật lại trang điểm của cung kỹ thời Đường nói:

"Đêm 15, 16 tháng giêng năm Tiên Thiên thứ 2 đời Duệ tông, làm một bánh xe đèn cao hai mươi trượng ngoài cửa An Phúc kinh đô Trường An, trang trí bằng vàng ngọc lụa là. Chung quanh thắp năm vạn đĩa đèn, dày đặc như cây hoa. Cung nữ hàng ngàn người, mặc lụa là, khoác gấm thêu, châu ngọc sáng ngời, xạ lan sực nức, một cái mũ, một tấm khăn cũng đáng giá hàng vạn đồng, búi tóc của kỹ nữ cũng tới ba trăm quan. Đàn bà con gái ở Trường An, Vạn Niên hơn ngàn người, áo quần, trang sức rất phù hợp với dáng vẻ yêu kiều, giẫm chân ca hát dưới bánh xe đèn ba ngày ba đêm, vô cùng vui vẻ, trước nay chưa bao giờ có".

Chân mày là chỗ kỹ nữ thời Đường rất quan tâm trang điểm. Bạch Cư Dị trong bài Thượng Dương bạch phát nhân viết "Thanh đại điểm mi mi tế trường" (Mày vẽ mực xanh nhỏ lại dài), Nguyên Chẩn trong bài Hận trang thành viết "Ngưng thúy vựng nga mi" (Sắc biếc đọng mày ngài), Ôn Đình Quân trong bài Nam ca tử viết "Liên quyên tế tảo mi" (Tỉa mày theo nét nhỏ), Pháp Huyên trong bài Họa Triệu vương quan kỹ thi viết "Thành trung họa quảng đại" (Trong thành mày vẽ lớn). Từ những câu thơ này, chúng ta có thể thấy tình hình trang điểm chân mày của kỹ nữ thời Đường chia làm hai loại: một loại vẽ nhỏ mà dài, như Thôi Trọng Dung trong bài Tặng ca kỹ viết "Đại mi khinh súc viễn sơn vi" (Mày to nhẹ phớt nét non xa) là thuộc loại này, còn một loại khác thì vẽ rộng, như Thẩm Thuyên Kỳ trong bài Lý Viên ngoại Tần Viên trạch quan kỹ thi viết "Phất đại tùy thời sản" (Nét mực tùy thời vẽ), Pháp Huyên trong bài Họa Triệu vương quan kỹ thi viết "Thành trung họa quảng đại" (Trong thành mày vẽ lớn), Trương Tịch trong bài Xướng nữ từ viết "Khinh mấn tùng sơ hoạt tảo mi" (Bím nhẹ trâm cài vẽ rộng mày) vân vân, đều miêu tả loại mày này.

Đến cuối thời Đường, việc trang điểm lông mày của kỹ nữ biến hóa nhiều lối, đủ màu đủ vẻ. Đào Cốc trong Thanh dị lục chép:

"Oanh Thư là kỹ nữ chốn Bình Khang, ngọc đẹp hoa tươi, giỏi trang điểm chân mày, mỗi ngày vẽ một kiểu. Đường Tư Lập đùa nói "Ở Tây Thục có bức Thập mi đồ, nàng lại nghiện trang điểm chân mày như thế, có thể nói là Bách mi đồ. Vào ngày cuối năm, nên dắt những người cùng chí hướng làm Tu mi sứ". Có Tế Trạch Xuân không thích Oanh Thư, cho đó là Keo than biến tướng. Từ đời Chiêu tông Ai tông trở đi không dùng mực xanh vẽ mày mà hay dùng mực đen nấu từ than đá, gọi là Mực hun biến tướng".

Về sau, một số văn nhân sĩ đại phu xưng tụng kỹ nữ là Mi sứ, chính là bắt đầu từ câu chuyện này.

Việc trang điểm môi của kỹ nữ thời Đường cũng vì các kỹ viện tranh đua khoe đẹp khoe xinh nên ngày càng khéo léo, bắt đầu được ghi chép vào sách vở. Thanh dị lục nói "Đời Hy tông Chiêu tông các nhà kỹ viện ở kinh đô rất ưa chuộng việc trang điểm môi, phụ nữ lấy đó để phân chia sắc đẹp. Về việc tô điểm có nhiều tên gọi, đại khái có các lối Yên chi vựng phẩm, Thạch lưu kiều, Đại hồng xuân, Tiểu hồng xuân, Nộn ngô hương, Bán biên kiều, Vạn toàn hồng, Thánh đàn tâm, Lộ châu nhi, Nội gia viên, Thiên công xảo, Lạc nhi ân, Đạm công tâm, Chu long cách, Song đường mỵ, Hoa nô dạng". Đúng là có thể nói đủ màu đủ vẻ, khoe khéo khoe đẹp!

Đương thời kỹ nữ thịnh hành việc dùng Cao đen tô môi (Ô cao chú thần). Tân Đường thư, Ngũ hành chí viết "Cuối niên hiệu Nguyên Hòa, những lối trang điểm kỳ dị lưu hành, không dùng son đỏ, chỉ dùng Cao đen tô môi, trông như bi thảm kêu khóc". Lại như Bạch Cư Dị trong bài Thời thế trang nói

"Thời thế trang, Thời thế trang,
Xuất tự thành trung chuyển tứ phương.
Thời thế lưu hành vô viễn cận,
Tai bất thi chu diện vô phấn,
Ô cao chú thần thần tự nê,
Song mi họa tác bát tự đê.
Nghiên sùy hắc bạch thất bản thái,
Trang thành tận tự hàm bi đề.
Viên hoàn vô mấn chùy kế dạng,
Tà hồng bất vựng đổ diện trạng.
Tích văn bị phát Y Xuyên trung,
Hạnh hữu kiến chi tri Hữu Nhung.
Nguyên Hòa trang sơ nhược ký thủ,
Kế đôi diện đổ phi Hoa phong"

(Lối thời trang, Lối thời trang,
Dấy tự kinh thành ra bốn phương
Khắp chốn xa gần theo đó học,
Cằm chẳng thoa son mặt không phấn,
Cao đen tô môi môi tựa bùn,
Chân mày vẽ thành chữ bát nghiêng.
Đẹp xấu trắng đen mất vẻ gốc,
Điểm trang xong rồi trông như khóc.
Búi tròn không bím dáng cao cao,
Má không phớt hồng lại đỏ quạch.
Trước kia bị đày vào Y Xuyên,
Nhìn thấy biết ngay người Hữu Nhung.
Nguyên Hòa trang điểm nếu theo đó,
Tóc cao mặt đỏ khác Hoa phong).

Trang điểm màu hồng rất lưu hành trong kỹ nữ thời Đường. Hồng trang còn gọi là Đào hoa diện, tức dùng phấn đỏ xoa lên mặt, khiến mặt đẹp như hoa đào. Loại trang điểm bằng phấn hồng này, theo truyền thuyết đã bắt đầu xuất hiện trong cung thời Tần Thủy Hoàng. Đến thời Hán, kỹ nữ không những thoa phấn đỏ hai má mà còn thoa lên lưng và lên ngực. Tục lệ này đến thời Đường vẫn còn lưu hành, như Hàn Ốc trong bài Tịch thượng tặng kỹ viết

"Mấn thùy hương kính vân già ngẫu,
Phấn trứ lan hung tuyết áp đôi"

(Bím rủ gáy thơm sen lấp ngó,
Phấn thoa ngực mịn tuyết vun đồi)

Nguyên Chẩn trong bài Hận trang thành viết

"Ngưng thúy vựng nga mi,
Khinh hồng phất hoa kiểm"

(Mày in màu mực biếc,
Má phớt nét son tươi)

là nói về lối trang điếm ấy.

Kỹ nữ thời Đường trong việc trang điểm đầu tóc cũng không thua kém người xưa. Trừ Quang Hy trong bài Dạ quan kỹ thi viết "Hoa ánh thùy hoàn chuyển" (Bóng hoa theo tóc chuyển), Bạch Cư Dị trong bài Đại thư thi bách vận ký Vi Chi viết "Phong lưu khoa trụy kế" (Phong lưu khoe búi thấp), Ôn Đình Quân trong bài Nam ca tử viết "Ủy trụy đê sơ kế" (Búi thấp nghiêng nghiêng lược), Lưu Vũ Tích trong bài Tặng Lý Tư không kỹ thi viết "Cao kế vân hoàn cung dạng trang" (Tóc mây cao búi lối cung trang), Nguyên Chẩn trong bài Lý Oa hành viết "Kế mấn nga nga cao nhất xích" (Bím tóc nhô nhô cao một thước). Từ những thơ văn miêu tả đầu tóc kỹ nữ của thi nhân thời Đường, có thể thấy rất nhiều kiểu loại.

Từ tư liệu sử sách mà nhìn, kỹ nữ thời Đường còn thích giắt trâm, thoa, lược, bộ dao, khăn lên tóc. Trâm trong thơ Đường có câu "Thuyền quyên nhân trụy ngọc tao đầu" (Thuyền quyên người ngã ngọc rung đầu), kiểu thức rất nhiều, lóng lánh rực rỡ. Như Đường ngữ lâm quyển 6 chép "Trong niên hiệu Trường Khánh, phụ nữ ở kinh thành trang điểm búi tóc, có người dùng vàng ngọc châu thúy, trâm tiết bộ dao, không món nào không đẹp, gọi là Bách bất như". Thoa trong thơ Đường được miêu tả rất nhiều, như Dương Dung Hoa trong bài Tân trang có câu

"Phượng thoa kim tác lũ,
Oanh kính ngọc vi đài"

(Thoa phượng cành vàng ánh,
Gương oanh đế ngọc trong)

Ngô Dung trong bài Dục hiểu khán trang diện viết

"Hữu thuyền trụy kế dạng,
Vô yến trứ song hành"

(Có ve rơi búi tóc,
Không én để bay đôi)

Lý Hạ trong bài Hồ trung khúc viết

"Yến thoa ngọc cổ chiếu thanh cừ,
Triệu nữ kiều nương tiểu tự thư"

(Thoa loan vế ngọc rọi dòng trong,
Gái đẹp tay xinh viết mấy dòng).

Lược qua thơ Đường cũng có những câu như

"Mãn đầu hành tiểu sơ,
Đương diện thí viên diệp"

(Khắp đầu đầy lược nhỏ,
Trên má lúm đồng tiền)

trong bài Hận trang thành của Nguyên Chẩn, "Mãn đầu vân lv kích tiết toái" (Lược bạc đánh nhịp gãy tan tành), "Ngàn bí ổn thảm ô la mạo" (Lược bạc vững trong khăn là đen) trong các bài Tỳ bà hành, Trào tuyết trung chư kỹ của Bạch Cư Dị đều miêu tả về việc kỹ nữ đương thời thịnh hành việc giắt lược trên đầu. Vật liệu chế tác lược đều là loại hàng giá cao chế tác tinh xảo. Theo Thanh dị lục chép thì Thôi Du ở Lạc Dương cuối thời Đường trong nhà giàu có, thích chơi bời, từng đặt làm Hồng nha ngũ sắcc sơ (Lược ngà màu hồng ngũ sắc) cho kỹ nữ Vương Nhuận Tử, phí tổn tới hai mươi vạn

Kỹ nữ thời Tống học lôi trang điểm của kỹ nữ thờ Đường, nhưng lại theo khuynh hướng đạm nhã, thi nhân thờ Tống chế nhạo kỹ nữ nhan sắc không đẹp là Cổ tử hoa, tứ Mề nang hoa (một lối Anh túc hoa trang điểm lộng lẫy nổi tiếng). Vương Nguyên Chi được điều tới quận Tề An, lúc bấy giờ dân cư thưa thớt, doanh kỹ có kẻ dung mạo không xinh đẹp, bèn làm thơ rằng

Ức tích Tây đô khán mẫu đơn,
Sảo vô nhan sắc tiện tâm lan.
Nhi kim tịch mịch sơn thành lý
Cổ tử hoa khai diệc hỷ hoan"

(Trước ở Tây đô ngắm mẫu đơn
Chỉ hơi không đẹp đã coi thường.
Đến nay quạnh quẽ trong thành núi,
Cổ tử hoa ra cũng thấy mừng).

Lại như từ nhân Trương Tiên Lão ở Hàng Thành, nhiều lần làm từ khúc giúp quan kỹ, mà không được hay lắm, nên làm bài Hiến thi rằng

"Thiên dữ quần tài thập dạng hoa,
Độc phân nhan sắc bất kham khoa.
Mẫu đơn ước chước nhân đề biến,
Tự phận thân như Cổ tử hoa"

(Trời thưởng tài năng lắm dạng hoa,
Riêng mình nhan sắc khó lòng khoe.
Mẫu đơn rực rỡ người đua vịnh,
Tự thấy mình như Cô tử hoa).

Từ đó có thể thấy thời Tống thích trang điểm nhã đạm, chứ không chuộng sự lộng lẫy.

Nghệ thuật trang điểm của kỹ nữ đến thời Tống đã trở nên thành thục. Lấy việc trang điểm chân mày làm ví dụ, thì kiểu dạng phong phú, vật liệu đủ loại. Chu Lạp trong Ý giác liêu tạp ký nói "Phụ nữ thời Tống phần nhiều nhổ hết lông mày, lấy mực vẽ lên". Danh kỹ Oanh Thư không những phát minh ra kỹ thuật vẽ nét mày mảnh mà còn trên cơ sở Thập mi đồ thời Ngũ đại sáng tạo ra Bách mi đồ nhiều kiểu mới, khéo léo biến hóa, Đào Cốc trong Thanh dị lục nói "Oanh Thư là kỹ nữ Bình Khang, ngọc trong hoa sáng, rất giỏi trang điểm, vẽ mày mỗi ngày một kiểu, Đường Tự Lập đùa nói: Ở Tây Thục có bức Thập mi đồ, nàng lại nghiện trang điểm chân mày như thế, có thể nói là Bách mi đồ. Vào ngày cuối năm, nên dắt những người cùng chí hướng làm Tu mi sứ". Từ đó trở đi, Mi sứ trở thành một danh từ chuyên dùng chỉ kỹ nữ.

Kiểu thức tô môi của kỹ nữ thời Tống rất nhiều, lưu hành nhất có các lối Thạch lựu kiều, Đại hồng xuân, Tiểu hồng xuân, Vạn kim hồng. Phát minh ra nhiều kiểu độn tóc giả, lại lấy sự cao to làm đẹp. Văn xương tạp lục dẫn lại bài Tịnh hành từ của Từ Độ Long "Chu lâu phùng tịnh nữ, Giả kế hoàn..., Hồng nhan đại mi, Cao kế tiếp cách trang lâu ngoại" (Lầu son gặp gái đẹp, Búi tóc giả..., Mày đậm má hồng, Tóc cao theo lối ngoài trang điểm).

Kỹ nữ thời Minh thích xoa phấn trắng lên mặt. Như Trương Đại trong Đào Am mộng ức, quyển 4 từng miêu tả tình hình kỹ nữ Duơng Châu dùng phấn trắng trang điếm như sau "Cái gọi là một màu trắng có thể che được trăm vẻ xấu, là nhờ phấn vậy". Loại phấn trắng kỹ nữ thường dùng này được Lý Thời Trân ghi trong Bản thảo cương mục "Kim Lăng (nay là Nam Kinh), Hàng Châu, Thiều Châu, Thần Châu đều chế tạo, mà phấn Thần Châu tốt nhất". Cách chế tác là sau khi nung chì cho ôxy hóa, thì theo công thức "một cân Mỗi phấn, hai lượng Bát đậu phấn, bốn lượng Cáp phấn, cho vào nước hòa đều, lọc bỏ nước trong, dùng than nhỏ lửa cô lại, lấy mấy lớp giấy bản chồng lên, đổ nước phấn ra đó cho ráo, cắt thành từng miếng như mảnh ngói, đợi khô hẳn thì cất đi". Các kỹ nữ dùng phấn trắng xoa lên mặt, mục đích đương nhiên là để da mặt trắng trẻo tươi nhuận, giữ được vẻ mịn màng, thể hiện được dáng vẻ xinh đẹp trẻ trung của phụ nữ, từ đó chiếm được lòng thương yêu của khách chơi.

Việc diện trang của kỹ nữ thời Thanh phần lớn học theo thời Minh, lại bắt chước không ít cách thức trang điểm của Lê viên. Như Thái Hành Tử thời Thanh trong Trùng minh mạn lục chép "Bọn con hát nhỏ ở kinh sư, mỗi khúc bộ đều có hơn mười người, tập tành chẳng qua hai ba vở, cốt là phải tinh thông, lại pha thêm những màn khôi hài, nên rất dễ nổi tiếng, còn như việc mặt mũi sáng láng, da dẻ trắng trẻo, thì có thuật riêng. Sáng sớm, lấy nước thịt ép rửa mặ, ăn canh trứng gà, thức ăn cực kỳ ngon lành béo bổ, ban đêm thì thoa thuốc đều khắp thân thể, chỉ chừa chân tay, để tiết hỏa độc. Qua ba bốn tháng, thì thay đổi như phụ nữ, ánh mắt long lanh, dáng vẻ xinh đẹp, dù là Liễu Hạ Huệ, Lỗ Trọng Liên cũng không khỏi tiêu hồn"

Sau khi bước vào thời cận đại, phẩm vật trang điểm cua kỹ nữ dần dần phong phú, các loại nước hoa sương, nước hoa, Nha phấn đều là những vật họ thường dùng. Vòng tay hoa tai, trâm cài tóc, như ý, nhẫn trên người kỹ nữ cũng cực kỳ phổ biến. Về hình dáng búi tóc thì thường thấy có các loại Nguyên Bảo thốc, Tô tháp tử thốc vân vân.


III. Bài trí trong phòng kỹ nữ

Trong con mắt người xưa, nơi ở của bậc giai nhân tuyệt sắc cũng như chậu trồng hoa cỏ, phải tìm được loại đồ gốm đẹp đẽ, phải mười phần tinh tế, như thế mới làm tăng thêm dáng vẻ xinh đẹp của cô gái. Nếu quả không có được phòng ốc đẹp đẽ để người đẹp ở, thì nhất định cũng phải trang hoàng bài trí một chỗ ở cho họ. Hoặc là lầu gác thoáng mát tinh khiết, hoặc là mật thất thanh u, trong phòng phải bày những đồ dùng đẹp đẽ, cho tới những thư họa tương ứng phù hợp trong khuê phòng. Phía ngoài phòng ở, nhất định phải có hồ nước, có lan can quanh co khuất khúc, có đường trồng hoa cỏ chạy vòng quanh phòng ốc. Trong đình viện phải trồng nhiều hoa tươi, để soi rọi với hoa dung của mỹ nhân, tươi đẹp chiếu nhau. Nếu trong viện không có đất trống, không trồng được hoa cỏ, thì những thứ như chậu kiểng tuyệt đối không được thiếu. Đó là vì người đẹp là chân thân của hoa, hoa là cái bóng của người đẹp, người đẹp và hoa gắn liền làm một.

Từ tư liệu sử sách mà nhìn, việc bài trí phòng ốc của kỹ nữ các đời (đặc biệt là phòng của kỹ nữ hạng sang) phần lớn đều theo sở thích của văn nhân. Ví dụ việc bài trí trong phòng của kỹ nữ thời Đường phải rất trang nhã tinh tế, đủ sánh với tất cả các nhà quý tộc. Bắc Lý chí, thiên đầu nói "Xóm Bình Khang vào cửa Bắc Môn, đi qua phía đông ba chặng đường, là nơi kỹ nữ tụ họp cư trú. Trong các kỹ nữ có người nổi tiếng, phần lớn trong Nam khúc, Trung khúc. Đi vòng theo tường một đoạn là nơi ở của các kỹ nữ hạng thấp, rất bị hai hạng trên khinh rẻ. Phía trước chỗ ở của các kỹ nữ Nam khúc thông với ngã tư, những người vừa vào Quán Các phần lớn lén lút tới đó chơi bời. Những nhà hai hạng trên đều là đường tử rộng rãi sạch sẽ, đều có ba tầng lầu sảnh. Trước sau trồng hoa cỏ, có khi có đá lạ ao hồ, hai bên đối xứng, sảnh đường nhỏ treo rèm, giường chiếu màn trướng đều sang trọng".

Phòng ở của kỹ nữ thời Minh bài trí theo phong cách truyền thống, cốt đạt tới mức thanh khiết u nhã. Dư Hoài trong Bản Kiều tạp ký nói "Cựu viện người ta gọi là Khúc trung, cổng trước đối diện cầu Vũ Định, cổng sau ở đường Sao Khố. Kỹ viện san sát, xây dựng liền nhau. Nhà cửa sạch sẽ, hoa cỏ tiêu sơ, khác xa trần thế". Như nhà Cố Mi có Mi lâu, cửa sổ hồng buông rèm thêu, đồ vật ngọc ngà chất đầy mấy bàn, các loại đàn sáo chia bày hai bên, mùi thơm thoang thoảng, rèm ngọc leng keng. Biện Trại mười tám tuổi, tới Ngô Môn ở lại Hổ Khâu, rèm Tương ghế Phỉ không vương hạt bụi. Đổng Bạch hâm mộ cảnh sơn thủy ở Ngô Môn, dời tới ở Bán Đường, xây một bến sông nhỏ, nhà tranh giậu trúc, người đi qua đó thường nghe thấy tiếng ngâm thơ. Lý Thập Nương ở trong mật thất tại Khúc Phòng, màn trướng lớp lớp đều xinh đẹp, giữa xây lan can dài, bên trái trồng một cây Lão mai. Lúc nở hoa thi mùi hương và tuyết trắng bay phơ phất. Bên phải có hai cây ngô đồng, mười mấy gốc tre lớn. Sớm hôm tưới đồng rửa trúc, màu xanh ngát rờ rỡ, người bước vào đó đều ngờ rằng không phải cõi trần (19). Phùng Tương Lan cư trú ở thắng cảnh tại Tần Hoài, ao vườn sach sẽ tiêu sơ, non bộ cây cỏ u nhã, hành lang phòng ốc khuất khúc, vào đó rất dễ bị lạc" (20). Tiểu thuyết truyền kỳ thời Minh cũng có miêu tả chuyện này, như truyện Mại du lang độc chiếm hoa khôi trong Tỉnh thế hằng ngôn từng miêu tả chi tiết về phòng ngủ của danh kỹ Mỹ Nương "Má Chín Vương đưa Tần Trọng vào, quanh co khuất khúc, đi qua rất nhiều phòng, tới một nơi ở, không phải là lầu, mà là ba gian nhà dưới đất, phòng ốc rất cao rộng. Bên trái là một gian phòng trống của a hoàn, tất cả đều có giường tủ bàn ghế, Lại rất giống như trong phủ đệ nhà quan, gian bên trái là phòng ở của hoa khôi Mỹ Nương, cửa đang khóa chặt. Hai phòng lại có phòng ngách. Giữa phòng đối diện với bàn có treo một bức tranh sơn thủy của danh nhân, trên bàn bày lò đồng cổ Bác Sơn, bình Long diên hương, hai bên án thư bày rất nhiều cổ ngoạn, trên vách dán rất nhiều thi cảo. Tần Trọng thẹn không phải là văn nhân, không dám nhìn kỹ. Trong lòng nghĩ thầm: Phòng ngoài còn tề chỉnh thế này, thì trong nội thất ắt rất hoa lệ. Đêm nay đều là mình hưởng dụng. Mười lạng một đêm cũng không phải là nhiều

Việc bài trí trong phòng ở của kỹ nữ thời Thanh theo lối thời Minh mà càng tiến thêm một bước. Tục Kim Bình Mai hồi 20 tả là "Ngọc Khanh ngồi ở tiền sảnh, chỉ thấy hai bên bày bàn ghế bằng gỗ nam mộc, phía trước là một chiếc kỹ Thiên nhiên bằng gỗ lê, rộng hơn hai trượng vuông, trên bày một cái bầu bằng đồng lớn thời Hán, cắm một cành lão mai đang nở, miệng bình lại cài một cành hoa trà bảo châu đại hồng, bên cạnh bày một chiếc đỉnh cổ có hoa văn đời Thương, chân cao hơn sáu tấc, khói hương nghi ngút. Ngọc Khanh ngồi một lúc. Lại phủi quần áo, bước vào mấy tầng cửa, qua hành lang quanh co, thì là một đám tùng trúc, bên cạnh non bộ hoa lạp mai đang nở rộ, lại có hai cây hồng mai. Bước vào thư phòng năm gian, Sư Sư còn trong gác chưa ra, nào có thấy đâu! Ngọc Khanh ngồi trên một chiếc ghế đá Đại Lý chân thấp, chưa thấy giai nhân, trước tiên hãy nhìn lối bài trí, chỉ thấy phía chính nam bày hai tấm bình phong bằng đá Đại Lý, cảnh mây nước thiên nhiên rờ rỡ, giữa treo một bức tranh vẽ chim ưng trắng của nhà vua, trên đóng ngọc chương bảo tỷ, vách trái treo một bức đại tự của Đông Pha, lời văn cùng nét bút lâm ly, vách phải treo một bức tranh đạm xuân của Mễ Điên, mô phỏng bức Viễn sơn thương lão của Triệu Đại Niên. Chỉ thấy trên giường ngà chạm rồng khắc phượng, màn gấm treo cao, giống hệt cách bài trí trong cung, trên hương tháp treo màn là, tấm nệm phẳng thấp thoáng chiếc gối Tương phi trúc, không vật gì là không phong lưu như cung vua. Thẻ ngà trục ngọc chất chứa trong hòm đạo rương tiên, nghiên đẹp đàn xinh la liệt trên ghế son án trắng. Lại có mấy chậu tùng trên giường cành cao ba tấc có thể vẽ vào tranh, anh vũ trong lồng, chợt kêu một tiếng khách tới pha trà. Sáo đen treo chếch bình phong ngọc, Trầm ngút hương thơm đỉnh vịt vàng. Tuy Đinh Diệu Khanh nói về chuyện thời Tống, nhưng ở đây rõ ràng miêu tả rất chân thực về lối bài trí trong phòng ốc của kỹ nữ thời Thanh

Phòng ốc của kỹ nữ thời cận đại thì càng hào hoa xa xỉ có thể nói vắn tắt là giàu có sang trọng. Như sảnh đường của kỹ viện hạng sang ở Quảng Đông thời cận đại, "Riêng có sự phong lưu, vẽ vời kiểu mới khác hẳn những Bả thế khác. Bình phong khung cửa nếu không chạm khắc thì khảm xà cừ, gồm những bình hoa lê, ngân hạnh, hoàng trường, tử đàn tầng tầng lớp lớp tinh xảo. Màn trướng nếu không phải gấm vóc thì là hàng thêu, gồm cả the Hồ Châu, gấm Ninh Ba, lụa Hàng Châu màu sắc rực rỡ. Những vật lớn như rường cột, đá kê cột, tường vách, cổng ngõ đều sơn vẽ chạm trổ, xanh đỏ nối nhau, những vật nhỏ như bàn ghế, giường tủ đều bóng loáng như gương, đầy vẻ quý báu. Tới như hoa thơm cỏ lạ danh họa thư thiếp, đồ cổ ngoạn vật, trà ngon quả tươi thì không cần phải nói. Lại như phòng ở "Hộ phương lâu" của kỹ nữ Chu Nguyệt Tố trong Hương tai xuân tỏa kính hồi 5:

"Trong phòng bài trí u nhã, cột chạm rường vẽ màn trướng thêu thùa, dưới đất trải thảm ngũ sắc vách treo thư thiếp cổ nhân, ở giữa treo đèn tương phi trúc, trên vẽ hình ảnh trong sáu bộ sách Lục tài tử giữa bày một cái kỷ thiên nhiên bằng gỗ nam mộc, đá san hô, bàn tứ tiên, trong bình đồng cổ cắm môt nhánh bích đào, bên vách đặt một chiếc giường chạm lá trúc khảm mã não, bục tròn bằng gồ hồng mộc cũng rất tinh xảo, bên cạnh có một tấm màn sa, bên trong lại có trời đất riêng, là phòng ngủ của Nguyệt Tố trong đó những vật dùng đều theo hình rẽ quạt, cạnh cửa sổ đặt một cái tủ gỗ tử đàn, trên bàn phấn dùng lồng thêu hoa đỏ chụp lại, lại có một chiếc giường gỗ đầu giường treo một bức tranh đứng, vẽ cảnh Vân Quán lén theo trai, liễn đối hai bên nét chữ rất đẹp, viết rằng

"Nguyệt lý Thường Nga nguyệt lý quế,
Tố tâm lan đối tố tâm nhân"

(Hằng Nga trong nguyệt quế trong nguyệt,
Lan thơm trước mặt kẻ lòng thơm).

Rèm châu thấp thoáng, hơi thơm thoang thoảng, trang nhã nhất là một chiếc giường hướng ra ngoài, bằng gỗ hồng mộc chạm trổ toàn bộ truyện Hồng lâu mộng, bốn phía đều là thư họa. Phía trong cửa sổ treo đèn dáng kiểu lạ, phía ngoài treo rèm màu thanh thiên, hai bên buông móc câu bạc, phía trong bức màn bằng tơ treo một biển ngạch nhỏ, viết "Ôn nhu hương" Trướng Lưu tô, chăn Uyên ương, gối Hợp hoan, đều khả ái vô cùng"

Ôn nhu hương là ý nói vô cùng hương thơm ngọc ấm, còn gọi là Nhiếp hồn đài! Cho dù anh là anh hùng mà lên đài ấy rồi, thì hồn phách cũng sẽ bị kỹ nữ bắt mất.

Đến đầu thế kỷ này, bài trí trong phòng ở của kỹ nữ lại theo lối Trung Tây hợp bích. Tục hải thượng phồn hoa mộng tập 3, hồi 33 miêu tả:
"Nhìn thấy trang trí trong phòng đều theo lối nửa Trung Hoa nửa phương tây, vô cùng tinh tế. Cạnh vách có bốn chiếc ghế gỗ hồng mộc, hai bàn trà gỗ hồng mộc, ở giữa có một chiếc bàn vuông gỗ hồng mộc, cạnh cửa sổ là một chiếc bàn viết kiểu phương Tây màu đỏ, một chiếc ghế xoay gỗ hồng mộc bọc tơ. Trên bàn viết có hai cái bình hoa ngoại quốc, trong bình cắm hai nhánh thủy tiên ngoại quốc, vẫn còn hoa nở, lá xanh biếc trông rất khả ái. Hai bên bàn viết có bốn cái ghế gỗ dầu kiểu phương Tây, đối diện với một cái giường đôi bằng đồng kiểu ngoại quốc, ống nhổ bằng đồng cạnh giường bóng loáng. Trước giường có một bàn phấn kiểu ngoại quốc, trên có một cái chuông đá, lại có hai bình hoa ngoại quốc, trong bình cắm hai cành lạp mai, tiếc là đã nở hết, không còn tươi đẹp. Bức vách cạnh bàn phấn treo một bức ảnh thời trang của Giả Đệ, y phục nền ẩn đều dùng lụa là chế thành, là phát minh mới của Xuân Sinh Hiên, trên vách cạnh bộ giao kỹ treo bốn bức tranh mỹ nhân khỏa thân, đặt trong khung kính màu hồng".

Nhân gian địa ngục hồi 15 miêu tả:

"Giá đại nhân bước vào ngước mắt nhìn, thấy gian phòng này tuy không lớn lắm, nhưng bài trí theo kiểu Tây dương, bốn vách tô vôi màu xanh nhạt, rất là sạch sẽ. Ở giữa treo một chùm đèn pha lê ba ngọn bằng đồng, tất cả đều bọc bằng lồng sa, nhất tề bật lên, soi sáng như ban ngày. Trên kệ bếp còn có hai ngọn đèn chưa bật, phía đầu đặt một chiếc giường đồng nhỏ không có rèm, sáng loáng như vàng. Trên giường chăn nệm tề chỉnh, hai cái gối dài kiểu Tây dương chồng lên nhau hờ hững. Trên đầu giường có hai cái dạ hồ sương nhỏ nhỏ, trên đặt một ngọn đèn. Giữa phòng có một chiếc bàn sáu cạnh có thể gấp lại, trên bàn trải một tấm thảm bằng tơ màu lam... Trên tấm thảm có hộp thuốc lá thơm bằng bạc và bật lửa. Dọc theo bàn có bốn chiếc ghế kiểu Tây dương, cạnh cửa sổ có một chiếc đàn piano, một mặt đặt một kệ sách tam giác nhỏ, trong kệ chất không ít sách vở tranh ảnh. Ngoài ra cạnh tường còn bày một bàn trà và hai chiếc ghế, trên tường ngoài mấy bức tranh sơn dầu còn có không ít tranh ảnh dán la liệt".

Đương nhiên phòng ốc của kỹ nữ hạng thấp không có phong khí như vậy. Như phòng ốc của kỹ nữ hạng ba hạng tư ở Bắc Kinh thời cận đại, đều là Lão má đường, Bạch phòng tử, thấp hơn thì là loại phòng bằng đất dưới chân tường ngoài thành, bên trong có một hầm đất, hàng ngày lãnh gia hoặc chủ chứa đưa vài đĩa thức ăn, một bình nước qua cửa sổ vào, bức bách họ phải tiếp khách suốt đêm.
_______________________

(19) Trở lên đều theo Dư Hoài, Bản Kiều tạp ký.
(20) Xem thêm Tiền Khiêm Ích, Liệt triều thi tập tiểu truyện



Không có nhận xét nào:

Đăng nhận xét