TỪ QUÂN VÀ DƯƠNG HẢI
LỊCH SỬ KỸ NỮ
CAO TỰ THANH dịch
=============
MỤC LỤC
* Lời người dịch
* Lời nói đầu
* Chương 1. Lịch sử kỹ nữ
* Chương 2. Nguồn gốc của kỹ nữ
* Chương 3. Kỹ viện
* Chương 4. Phương thức tiếp khách của kỹ
nữ
* Chương 5. Gió trăng kỹ viện
* Chương 6. Sinh hoạt thường ngày của kỹ
nữ
* Chương 7. Tôn giáo, tín ngưỡng và tập
tục của kỹ nữ
* Chương 8. Tài hoa và công lao của kỹ nữ
* Chương 9. Số phận bi thảm của kỹ nữ
* Chương 10. Kỹ nghệ sex hiện nay ở Trung
Quốc
============
Lời người dịch
Nghề kỹ nữ, gái thanh lâu là một hiện thực
mặt trái, một chỉ báo não lòng về hiện trạng cơ hàn và khuynh hướng suy thoái
của xã hội. Trong sự phân hóa xã hội không thể tránh khỏi bắt nguồn từ việc
chuyển qua kinh tế thị trường và mở cửa hiện nay, Việt Nam cũng đang đứng trước
thực trạng nhức nhối này. Nhưng khác với nhiều quốc gia, pháp luật Việt Nam
không thừa nhận hoạt động mại dâm mua bán thân xác và chà đạp nhân phẩm của con
người bất kể dưới hình thức nào, nên hiện tượng mại dâm ở Việt Nam hiện nay
mang trong nó những vấn đề về kinh tế, văn hóa - lối sống cũng như quản lý xã
hội cần được quan tâm tìm hiểu.
Nhìn từ phương diện kinh tế, mại dâm là
một hoạt động dịch vụ nhằm đáp ứng nhu cầu tình dục của con người. Xã hội luôn
luôn có một bộ phận nhu cầu tình dục không được đáp ứng trong gia đình và bằng
gia đình, và bất kể nhu cầu ấy có chính đáng tức phù hợp với luân lý và pháp
luật hay không thì nó vẫn là một nhu cầu có thật, nên để giải quyết nhu cầu này
một cách "lương thiện", nhiều người cả đàn ông lẫn đàn bà phải bỏ
tiền ra để mua sự đáp ứng từ các dịch vụ mại dâm. Chính nhu cầu tự nhiên này đã
khiến nghề mại dâm có một sức sống bệnh hoạn nhưng dai dẳng, bằng chứng là nó
đã tồn tại nhiều ngàn năm nay và thâm nhập vào nhiều hoạt động dịch vụ khác như
bán bia, bán café, cắt tóc, massage. Bên cạnh đó, cần nhấn mạnh rằng khác với
mọi động vật mà hoạt động tình dục chỉ nhằm chức năng duy trì giống nòi, hoạt
động tình dục của con nguời mang tính giải trí nhiều hơn tính thiết yếu, nên nhu
cầu tình dục của con người cũng phát triển theo với sự tăng trưởng về kinh tế
và mức sống cũng như không lạ gì mà trong thực tế chuyện mua dâm thường chỉ là
khâu Z trong quy trình truy hoan của một số kẻ có tiền. Mặt khác nhìn chung sự
thỏa mãn yêu cầu tự nhiên này thường được thực hiện một cách tự phát, nhưng
chính vì vậy mà mại dâm luôn có quan hệ với văn hóa và lối sống. Chẳng hạn có
thể coi việc các thiếu nữ nhà nghèo ở đồng bằng sông Cửu Long đang chạy theo
(hoặc bị ép tham gia) phong trào lấy chồng người Đài Loan để "đổi
đời" và giúp đỡ gia đình về thực chất là một hành vi mại dâm. Một số nữ
sinh con nhà giàu không may nghiện ma túy có lúc vã độ phải hiến thân để đổi
lấy vài bi, đó cũng là hành vi mại dâm. Hoặc giả (xin lỗi giới sư phạm) nếu
chẳng may một ông thầy nào đó dùng điểm số để ép sinh viên nữ phải hiến thân,
thì từ phía nữ sinh ấy đó cũng là một hành vi mại dâm dù rằng không tự nguyện.
Đồng thời, tính chất giải trí trong hoạt động tình dục của con người đã cung
cấp nhiều chủ đề cho hoạt động mại dâm từ các thanh lâu cổ điển tới "công
nghiệp tình dục" hiện đại với đủ thứ sản phẩm nghe nhìn, đủ kiểu chiều
lòng Thượng đế. Còn từ phía những người thực hiện dịch vụ ấy mà nhìn, thì mại
dâm là một loại doanh nghiệp gần như không cần vốn đầu tư cơ bản hay chi phí
đào tạo. Ai có khả năng sinh hoạt tình dục đều có thể bán dâm. Nhưng đây là một
công việc khổ sai, một nghề nghiệp hạ cấp, nên trong thực tế thì kỹ nữ thường
chỉ được coi là loại tiện dân hay công dân loại hai - hầu như không có gái mại
dâm nào nhờ tới pháp luật và công lý bảo vệ họ thoát khỏi sự bóc lột ngược đãi
của đám lưu manh chủ chứa. Ngăn chặn tệ nạn mại dâm do đó phải bắt đầu từ việc
cô lập việc mại dâm, hạn chế mối liên hệ giữa nó với xã hội và cắt đứt sự liên
hệ của nó với xã hội đen... Có lẽ chính vì chưa chú ý tới điều này nên trong
mười năm nay, mặc dù dư luận đã nhiều lần lên tiếng cũng như chính quyền đã có
nhiều nỗ lực ngăn chặn, nạn mại dâm với các biến tướng của nó vẫn ngày càng lan
rộng và đến hiện nay thì đã đạt tới mức báo động với tình hình "trẻ
hóa" hay sự gia tăng một cách đột biến tỷ lệ số người nghiện ma túy và
nhiễm HIV trong đội ngũ gái mại dâm. Ngoài ra, là một trong năm tệ nạn xã hội
(Ngũ độc) lâu đời và phổ biến nhất trong lịch sử loài người, cũng như bốn tệ
nạn ăn mày, cờ bạc, luu manh và thuốc phiện - ma túy, nghề mại dâm có một khả
năng thích ứng rất cao với hoàn cảnh, nên nạn mại dâm hiện nay còn phát triển
theo hướng có quan hệ ngày càng mật thiết với những yếu kém về năng lực và sự
tha hóa vể phẩm chất của nhiều cá nhân trong bộ máy nhà nước, trở thành một
thách đố đối với hệ thống quản lý xã hội. Cho nên để ngăn chặn tệ nạn mại dâm
một cách hữu hiệu thì một trong các công việc phải làm là nghiên cứu những
nguồn gốc phát sinh, điều kiện tồn tại và quy luật phát triển của nghề mại dâm
nói chung và của tệ nạn mại dâm nói riêng.
Kỹ nữ sử (Lịch sử kỹ nữ) của Từ Quân và
Dương Hải, Thượng Hải Văn nghệ xuất bản xã, 1995 là một công trình nghiên cứu
về nghề kỹ nữ ở Trung Quốc theo định hướng khoa học ấy. Ngoài Lời nói đầu có
thể coi như Chương mở đầu, sách gồm chín chương Lịch sử nghề kỹ nữ, Nguồn gốc
của kỹ nữ, Kỹ viện, Phương thức tiếp khách của kỹ nữ, Gió trăng kỹ viện, Sinh
hoạt thường ngày của kỹ nữ, Tôn giáo, tín ngưỡng và tập tục của kỹ nữ, Tài hoa
và công nghiệp của kỹ nữ, Số phận bi thảm của kỹ nữ. Trên phương diện nhìn nhận
nghề kỹ nữ từ góc độ cấu trúc xã hội, mặc dù các cứ liệu được khảo sát và dẫn
chứng trong quyển sách chủ yếu lấy từ lịch sử Trung Quốc, công trình này vẫn có
những giá trị tổng kết chung nhất định, và vì vậy cũng là một tác phẩm bổ ích
không những với người đọc Trung Quốc mà còn cả với người đọc Việt Nam. Dĩ nhiên
trong con mắt của những người đọc cầu toàn thì quyển sách vẫn còn một số khiếm
khuyết, chẳng hạn dường như các tác giả cố né tránh thực trạng mại dâm và chính
sách đối với nghề mại dâm của nhà nước Trung Quốc hiện nay, nhưng đây cũng là
một nạn đề chung của các nước đang phát triển, khi vũng xoáy kinh tế hàng hóa
đã hút một bộ phận cư dân xuống đáy vực của cơ chế thị trường...
Nhiều năm nay, khoa học xã hội Trung Quốc
phát triển mạnh theo hướng hệ thống hóa và tổng kết truyền thống văn hóa và
tiến trình lịch sử của đất nước như một sự chuẩn bị về tri thức và tinh thần
cho việc cất cánh của quốc gia này trong thời gian tới. Quyển Kỹ nữ sử cùng các
quyển Lưu manh sử, Khất cái sử, Đổ bác sử trong Tủ sách Trung Quốc xã hội dân
tục sử tùng thư của Thượng Hải Văn nghệ xuất bản xã viết về các tệ nạn xã hội
như lưu manh, ăn mày, cờ bạc vừa là sự thể hiện sinh động vừa là sự phản ảnh
trung thành đường hướng ấy. Cho nên là một người đọc sách, chúng tôi cũng dịch
quyển sách này với chút ít ngậm ngùi "Trông người mà ngẫm đến ta"...
Lời nói đầu
I. Định nghĩa và diễn biến về tên gọi của
kỹ nữ
1. Định nghĩa kỹ nữ
"Kỹ nữ" là một danh từ, trong con
mắt của người hiện nay thì thường kết hợp làm một với việc bán dâm, như Từ hải
giải thích "Kỹ nữ là phụ nữ bị ép bức bán dâm trong xã hội cũ". Nhưng
nhìn từ lịch sử phát triển của nghề kỹ nữ ở Trung Quốc thì đó là một cách giải
thích rất sai lầm.
Nhìn từ từ nguyên, kỹ nữ hoàn toàn không
phải là phụ nữ lấy việc bán dâm làm nghề nghiệp, mà vốn làm việc ca múa. Như
Thuyết văn giải tự nói "Kỹ là vật dùng nhỏ của phụ nữ”. Đoàn Ngọc Tài chú
"Nay tục thường dùng chữ nữ kỹ", Trương Tập thời Ngụy giải thích Kỹ
là "gái đẹp". Thiết vận của Lục Pháp Ngôn thời Tùy nói "Kỹ là nữ
nhạc". Các sách Chính tự thông, Khang Hy tự điển về sau cũng giải thích Kỹ
là "nữ nhạc".
Nữ nhạc thời cổ thường dùng chỉ phụ nữ
dung mạo xinh đẹp, giỏi ca múa âm nhạc. Như Quản tử, Khinh trọng giáp nói
"Vua Kiệt ngày xưa có ba vạn nữ nhạc, sáng ra tấu nhạc vang tới đường
cái". Diêm thiết luận, Lực canh nói "Thời vua Kiệt nữ nhạc đầy cung,
áo xiêm thêu thùa lộng lẫy. Cho nên Y Doãn qua đời lâu năm, thì sau cùng nữ
nhạc làm mất nước".
Lại chữ Kỹ (nữ + chi) thời cổ dùng thông
với các chữ Kỹ (nhân + chi), Kỹ (thủ + chi)(1). Như Tân Đường thư, Nguyên Tải
truyện "Danh xu dị kỹ (kỹ = nhân + chi), tuy cấm trung bất đệ" (Kỳ nữ
danh kỹ, tuy trong cung cấm cũng không xa). Thư, Thái thệ viết "Vô tha kỹ
(kỹ = thủ + chi)” (Không có tài gì khác). Thích văn "Vốn cũng dùng làm chữ
kỹ (nhân + chi)". Chữ Kỹ ở đây chính là chỉ tài nghệ của kỹ nữ trong âm
nhạc vũ đạo và các môn nghệ thuật giải trí, Kỹ (nhân + chi) là kỹ năng ca múa
và người luyện tập những kỹ năng ấy.
Chữ Kỹ (nữ + chi) và Kỹ (nhân + chi) thời
cổ còn dùng thông với các chữ Xướng (nữ + xương), Xướng (nhân + xương) cũng chỉ
phụ nữ theo làm việc ca múa nghệ thuật. Như Hậu Hán thư, Lương Ký truyện
"Trong phủ đệ có nhiều xướng kỹ, đánh chuông thổi sáo, ca hát rộn
rã". Cựu Đường thư, Thiên Trúc quốc truyện nói "Trăm họ thích nhạc,
nhà có xướng kỹ".
Ngoài ra, từ tình hình sử dụng từ Kỹ nữ
sớm nhất mà nhìn thì cũng dùng chỉ phụ nữ làm nghề ca múa nghệ thuật. Như Hậu
Hán thư, quyển 64 Lương Thống truyện phụ Lương Ký viết "Nhân đi trên
đường, bắt kỹ nữ về hầu”. Hậu Hán thư, quyển 72, Tế Nam An vương Khang truyện
chép "Lúc (Lưu) Thố làm Thái tử, thích kỹ nữ đánh trống thổi sáo Tống
Nhuận, sai thầy thuốc Trương Tôn gọi tới".
Từ đó có thể thấy, ý nghĩa đầu tiên và ý
nghĩa hiện đại của từ "kỹ nữ" khác nhau rất xa, là chỉ một loại phụ
nữ chủ yếu theo làm việc nghệ thuật âm nhạc ca múa để mua vui cho người khác,
bán dâm hoàn toàn không phải là nghề chính của họ.
Ý nghĩa hiện đại của từ "kỹ nữ"
chủ yếu là chỉ loại thị kỹ (kỹ nữ ở thành thị) đem bán thân xác của mình đánh
đổi lấy tiền của khách chơi. Nó manh nha từ thời Đường Tống, định hình trong
thời Minh Thanh. Tạ Triệu Chiết thời Minh trong Ngũ tạp trở nói "Hiện nay
kỹ nữ đầy rẫy thiên hạ, ở các đô hội lớn có tới hàng ngàn hàng vạn, còn ở các
châu nhỏ huyện xa thường thường cũng có. Suốt ngày dựa cửa đón khách, bán dâm
để sống, sinh kế tới mức ấy, kể cũng đáng thương!". Đúng là hiện tượng ấy
từ giữa thời Minh trở đi rất thịnh hành, mới khiến "bán dâm" đồng
nghĩa với ”kỹ nữ".
Tóm tắt những điều nói trên, chúng ta có
thể thấy sự phát triển của nghề kỹ nữ đại khái trải qua ba giai đoạn:
1. Giai đoạn bán nghề là chủ yếu (từ Hạ
Thương đến Ngụy Tấn Nam Bắc triều)
2. Giai đoạn coi trọng cả nhan sắc lẫn tài
nghệ (thời Tùy Đường Tống Nguyên)
3. Giai đoạn bán dâm là chủ yếu (từ thời
Minh Thanh đến trước khi thành lập nước Cộng hòa Nhân dân Trung Hoa)
Vì thế, chúng ta có thể định nghĩa về khái
niệm kỹ nữ như sau: kỹ nữ là loại phụ nữ đưa nhan sắc và tài nghệ của mình ra
bán để lấy tiền
___________________
(1) Khang Hy tự điển giải thích chữ Kỹ như
sau "Lại như Chinh vận giải thích là ỷ kỹ thiết, âm kỹ, nghĩa cũng như
thế".
2. Phạm vi của kỹ nữ
Phạm vi kỹ nữ, có thể phân chia theo nghĩa
hẹp và nghĩa rộng.
Trước hết, từ mức độ bán dâm của kỹ nữ mà
nhìn thì có thể chia làm hai loại nghĩa hẹp và nghĩa rộng. Kỹ nữ về nghĩa hẹp
là lấy tiền bạc làm mục đích, công khai bán nhan sắc và tài nghệ của mình để
làm thỏa mãn xác thịt cho người khác. Nhưng kỹ nữ theo nghĩa rộng còn bao gồm
rất nhiều biến tướng của kỹ nữ, như kỹ nữ phục vụ các quán cà phê ở Thượng Hải
thời cận đại, chiêu đãi viên nữ ở những nơi giải trí phục vụ massage, tuy không
công khai bán thân, nhưng phần lớn ngầm lấy việc bán dâm làm nghề phụ.
Thứ hai, từ việc bán dâm của kỹ nữ mà nhìn
cũng có thể chia làm hai loại nghĩa hẹp và nghĩa rộng. Kỹ nữ theo nghĩa hẹp chỉ
sự trao đổi tình tiền trong khái niệm truyền thống lấy tính giao làm nội dung.
Còn kỹ nữ theo nghĩa rộng bao quát những hành vi cung cấp các dịch vụ tình dục
cho khách chơi, như Gái bia ôm (Tam bồi nữ lang) ngày nay.
3. Tên gọi của kỹ nữ
Tên gọi của kỹ nữ rất nhiều, không thể kể
hết. Sau đây chỉ kể qua một số loại thường gặp.
Thần nữ. Vốn xuất từ bài Thần nữ phú và
Cao Đường phú của văn gia Tống Ngọc nước Sở thời Chiến quốc. Thần nữ phú có câu
"Phù hà thần nữ chi giao lệ hề, hàm âm dương chi ác sức" (Thần nữ sao
mà xinh đẹp chừ, gom âm dương mà điểm trang). Bài tựa Cao Đường phú nói
"(Hoài vương) mộng thấy một cô gái nói: Thiếp là gái Vu Sơn, làm khách Cao
Đường, nghe vua tới chơi Cao Đường, xin hầu chăn gối. Vua bèn ân ái với
nàng". Người sau dựa theo đó gọi kỹ nữ là Thần nữ, như Lý Thương Ẩn thời
Đường có câu thơ:
"Thần nữ sinh nhai nguyên thị mộng,
Tiểu cô cư xử bản vô lang"
(Thần nữ sinh nhai là mộng ảo,
Tiểu nương ăn ở chẳng chồng con)(2).
Dạ độ nương. Nhạc phủ thi tập, quyển 49,
Dạ độ nương:
"Dạ lai mạo sương tuyết,
Thần khứ lý phong ba.
Tuy đắc tư vi tình,
Nại nùng thân khổ hà"
(Tuyết sương đêm gấp bước,
Sóng gió sáng rời chân.
Tuy được chút tình nghĩa,
Mà chuốc khổ vào thân).
Phong thanh phụ nhân. Lưu Sùng Viễn nhà
Nam Đường thời Ngũ đại trong Kim hoa tử quyển thượng viết "Cao Yến công
(Biền) lúc ở Hoài Nam, làm Tri huyện Giang Dương, có em trai lấy một Phong
thanh phụ nhân làm ca cơ trong nhà". Lại như Vương Đảng thời Tống trong
Đường ngữ lâm quyển 7 viết "(Ngưu Tăng Nhụ nói với Đỗ Mục): Nếu có Phong
thanh phụ nhân liếc nhìn, có thể đưa về nhà, đừng để họ đi trong đêm một
mình".
Đỉnh lão. Một cách xưng hô khinh bạc đối
với kỹ nữ, là tiếng lóng trên giang hồ từ thời Tống Nguyên trở đi. Nam từ tự
lục của Từ Vị thời Minh "Đỉnh lão là hỗn danh của kỹ nữ". Kim Lăng
lục viện thị ngữ "Các cô nương nhỏ gọi là Đỉnh lão". Tỉnh thế hằng
ngôn quyển 31 "Nàng là người đứng đầu trong giới phong lưu ở hai kinh, tên
Vương Thiến, chính là Đỉnh lão mà Trương Viên ngoại nhắc tới".
Khổ hải nhân. Liêu Trai chí dị. Bành Hải
Thu "Ông đừng vì kẻ phong trần mà vứt bỏ, nên tha thứ bao dung cho Người
trong biển khổ (Khổ hải nhân) này".
Tiểu thư. Đào Chu tân lục "Thị lang
bộ Lại Trần Ngạn Tu có thị cơ gọi là Tiểu thư, ốm yếu nhiều bệnh". Di kiên
tam chí kỹ, quyển 4, Phó Cửu Lâm tiểu thư "Phó Thất lang là người Kỳ Xuân.
Con thứ hai của y gọi là Phó Cửu, hai mươi chín tuổi, thích chơi bời, thường
làm ăn chung với kỹ viện, lại dan díu với nhạc kỹ là Lâm tiểu thư".
Tiểu nương. Lý Hạ thời Đường trong Ca thi
biên. Lạc khu Chân Châu viết
"Chân Châu tiểu nương hạ Thanh quách,
Lạc uyển hương phong khí chước chước"
(Chân Châu tiểu nương xuống Thanh Quách,
lạc uyển gió thơm hơi rực rực)
Bài Tranh của Nguyên Chẩn trong Tài điệu
tập quyển 5 viết
"Cấp huy vũ phá thôi Phi Yến,
Mạn trục ca từ lộng Tiểu nương"
(Khua mau điệu múa xô Phi Yến,
Đàn chậm lời ca ghẹo Tiểu nương)
Bài từ Nam ca tử, Quách Tiểu nương đạo
trang của Hướng Tử Yên thời Tống viết "Dao lâm ngọc thụ xuất phong trần,
Bất thị dã thảo nhàn hoa, Đẳng nhàn xuân" (Rừng dao cây ngọc ruổi phong
trần, Không phải hoa đồng cỏ nội, đợi tình xuân). Kim tiền ký màn 1 "Chính
là người tiểu nương xinh đẹp yêu, là tiền chủ chứa yêu". La Lý lang màn 1
"Tiền ca hát là mỗi khi uống rượu đùa giỡn cùng Tiểu nương, có đàn xướng
theo hầu". Tục Tiểu nương ca của Nguyên Hiếu Vấn có câu
"Xướng đắc tiểu nương tương kiến
khúc,
Bất giải ly hương khứ quốc tình"
(Tiếu nương hát khúc ca ra mắt,
Quên hết niềm riêng nhớ cố hương).
Tiểu bát đầu. Thời Tống Nguyên, dân gian
gọi kỹ nữ hát rong là "Tiểu bát đầu". Như Khốc hàn đình màn 3
"Vừa không có nàng xinh đẹp nào đưa người rước khách, vừa không có Tiểu
bát đẩu nào son nồng phấn nhạt, vừa không có đại hàng thủ nào múa giỏi hát
hay".
Vương mẫu. Một tên gọi của quan kỹ thời
Tống Nguyên. Khốc hàn đình của Tiết Tử "Ta từng làm Vương mẫu ba năm, bây
giờ đã nạp đủ tiền cho quan, đi lấy chồng".
Phong trần. Phong trần ở thời Tống Nguyên
dùng chỉ kỹ viện, cũng dùng chỉ kỹ nữ. Liễu Vĩnh trong bài Thiếu niên du nói
"Tâm tính ôn nhu, Phẩm lưu cao nhã, Bát xứng tại phong trần" (Tâm
tính dịu dàng, phẩm hạnh cao nhã, không đáng ở chốn phong trần). Hậu thôn thi
thoại của Lưu Khắc Trang viết ”Kỹ nữ Biện Châu là Thái Nô... Phan Tử Tiện đề
bức tranh truyền thần của nàng rằng: Kẻ phong trần trong niên hiệu Gia Hựu cũng
thế, mới nhiều làm sao!". Cứu phong trần màn 3 "Muội tử, cô thử xem
ta trăng gió cứu phong trần".
Thủy biểu. Sự lâm quảng ký tục tập, quyển
8, Ỷ đàm thị ngữ nói ''Biểu là phụ nữ, Dụng biểu là sai khiến phụ nữ. Thủy biểu
là ca kỹ, thiếu nữ gọi là Ngũ giác biểu".
Sinh. Thời Tống gọi kỹ nữ là Sinh (3), như
Mặc trang mạn lục, quyển 8 "Trong niên hiệu Chính Hòa, kỹ viện ở Biện Kinh
rất thịnh, mà hai danh kỹ Lý Sư Sư, Thôi Niệm Nguyệt nổi tiếng một thời... danh
tiếng lừng lẫy trong nước. Lý sinh là môn đệ lại càng xinh đẹp... Trong niên
hiệu Tĩnh Khang, Lý sinh và đồng bối là Triệu Nguyên Nô và bọn Viên Đào, Vũ
Chấn đá cầu thổi sáo đăng ký vào nhà ấy. Lý sinh lưu lạc tới Chiết Trung”.
Hàng viện. Lương Châu đệ thất, Kỹ môn đình
của Chu Đình Ngọc "Quả thật chưa từng thấy Hàng viện thứ thiệt, tuy là kẻ
nữ lưu ngụ ở đường hoa ngõ liễu, còn ai nhỏ nhoi hèn hạ hơn".
Hoa đán. Tống Nguyên hý văn tập dật. Lý
Uyển phục lạc xướng "Môn đình này khó tự chọn, rơi vào đó thì lại làm Hoa
đán". Thanh lâu tập, quyển 2, Lý Định Nô viết "Phàm kỹ nữ lấy mực
chấm nốt ruồi trên mặt gọi là Hoa đán".
Hoa nương. Mai Nghiêu Thần trong Hoa nương
ca viết
"Hoa nương thập nhị năng ca vũ,
Tịch thậm thanh danh cư Nhạc phủ"
(Hoa nương mười hai biết ca múa,
Tiếng tăm lẫy lừng nơi Nhạc phủ).
Nam thôn chuyết canh lục, quyển 14, Phụ nữ
viết nương "Phụ nữ ca xướng gọi là Hoa nương".
Hoa cô. Dạ hành thuyền, Hối ngộ của Chu
Đình Ngọc "Nhược thị tự gia không tàng bình, Mộng táp liêu đinh, Hoa cô
bất trọng Nữ nao khinh, Nhiệm thùy kiến canh" (Nếu như riêng mình cứ nín
hơi, Mộng rắc tơi bời, Hoa cô không trọng Nữ nao khinh, Mặc ai sụt sùi).
Đệ tử. Khốc hàn đình màn 1 "Hàng ngày
ở trong kỹ viện say mê một đệ tử đưa người cửa trước rước người cửa sau".
Tạ Thiên Hương màn 1 "Nếu mua được người xinh đẹp thì cho vào chỗ Lâm Lão
Lai mà gọi là Đệ tử". La Lý lang màn 3 "Đem gia tài tiêu pha bừa bãi,
chiếm ca cơ nuôi đệ tử, ta lời ngay ắt trái tai".
Kỹ đệ. Thời Tống Nguyên dùng từ Đệ tử gọi
kỹ nữ với ý khinh rẻ, còn có cách nói dùng liền hai từ Biểu tử, Kỹ đệ với khẩu
khí khinh bạc. Đô thành kỹ thắng, Tửu tứ chép "Các hàng rượu ở Thiên phủ
đến trước tiết Hàn thực thì bán rượu nóng, trước sau tiết Trung thu thì bán
rượu mới. Tất cả đều dùng Kỹ đệ cưỡi ngựa trang sức theo loại hạng ba... kèn
trống ầm ĩ kéo tới phủ lỵ". Kinh bản thông tục tiểu thuyết, Tây sơn nhất
quật quỷ "Uống thêm một chén, ta sẽ đi với ngươi. Chúng ta qua nhà Kỹ đệ ở
đường Cửu Lý Tùng núi Đà Hiến ngủ lại một đêm".
Biếu tử. Cũng gọi là Biểu (biểu = nữ +
biểu) tử, chỉ kỹ nữ. Thế sự thông khảo, quyển 1, Nhân vật của Lục Khư Vân thời
Minh "Biểu tử. Biểu là áo ngoài, ý nói kỹ nữ không phải vợ trong nhà, chỉ
là dan díu tạm bợ bên ngoài". Khúc Giang trì màn 2 "Cũng vì ta nhất
thời bị ma làm mờ mắt mới rơi vào tay con Biểu tử ấy".
Thư thư. Phong quang hảo, màn 4 "Thư
thư từ khi chia tay tới giờ vẫn khỏe, ta nhớ nàng muốn chết".
Khoa tử. Cứu phong trần màn 3 "Không
cần hỏi là Khoa tử tư hay quan kỹ, khi nào có khách tốt tới quán trọ của ông
thì ông cứ tới gọi tôi". Bách hoa đình màn 2 "Ta vớ được một ả Khoa
tử, tên là Ma bắt suông".
Phấn đầu. Thế sự thông khảo của Lục Khư
Vân thời Minh "Phấn đầu là gọi kỹ nữ, ý nói lấy phấn thoa lên mặt".
Kim tuyển trì màn 2 "Nay lại vớ được một ả Phấn đầu, còn lắm lời hơn cả
ta". Trần Châu điều mễ màn 1 "Hai người chúng ta chẳng có việc gì
quan trọng, cứ lê cái chân chó tới nhà Phấn đầu Loan Vương uống rượu". Kim
Bình Mai hồi 15 "Lời tục có câu "Con em tốt không chơi một ả Phấn
đầu, Phấn đầu cũng không tiếp một lão già".
Phấn đoàn nhi. Hồng tú hài, Hổ thượng của
Trương Khả Cửu "Cưỡi ngựa Thanh ty ngọc diện, ca Kim lũ Phấn đoàn nhi,
Biết đời người phải hành lạc vậy". Lại như Tiểu đào hồng, Hồ thượng hòa
Lưu Thời Trung viết "Tam huyền ngọc chỉ, Song câu thảo tự, Đề tặng Phấn
đoàn nhi" (Ba dây ngón ngọc, Đôi hài chữ thảo, Đề tặng Phấn đoàn nhi).
Yên nguyệt. Tạ Thiên Hương màn 4
"Ngươi không chịu Yên nguyệt rời lâu kim điện các, Ta thì sợ bọn trộm hoa
và đám nhà giàu". Lưu Hàng thủ màn 3 "Ba trăm năm giữ gìn mộ cổ, hai
mươi năm Yên nguyệt hãy còn".
Yên hoa. Thủy hử truyện hồi 32 viết
"Chỉ vì giết một con đàn bà trong đám Yên hoa, mà lại gây ra sự khổ cực
thế này".
Phù hoa lãng nhị. Nhất chi hoa, Tặng Ngọc
Di Xuân của Thang Thức "Ngươi nói là hoa trôi nhụy nổi (Phù hoa lãng nhị),
chứ nàng phải là cỏ lạ hoa thơm". Phấn Điệp Nhi, Tặng kỹ của Lan Sở Phương
"Hoa trôi nhụy nổi ta đã từng thấy nhiều, không giống cái nghiệp báo phong
lưu này".
Nao nhi. La Lý lang màn 3 "Đem gia
tài tiêu pha bừa bãi, chiếm Nao nhi nuôi đệ tử". Tạ Thiên Hương màn 1
"Trước kia gạch tên những người biết đàn không biết hát, mới biết đó là
một ả Nao nhi câm". Đông Pha mộng màn 4 "Cô vốn không phải là một Nao
nhi trong kỹ viện, có thể làm đệ tử Phật môn của ta”.
Nao nhi (nao = nữ + nhu). Chiết quế lệnh,
Vấn Mã Ngôi của Vương Hoa "Xem ngươi kìa, Rất mực phong lưu lãng tử, Dáng
vẻ giống Nao nhi tuấn mỹ đa tình”
Hiệp tà, cũng viết là Hiệp tà (tà = dư +
đấu), tức kỹ nữ. Cổ nhạc phủ có bài Trường An hữu Hiệp tà hành thuật việc bọn
thiếu niên chơi bời, vì thế lấy đó để chỉ kỹ nữ. Lại như Thẩm Đức Phù thời Minh
trong Vạn Lịch dã hoạch biên ngoại di, quyển 4, Thần tiên, Thần danh ngộ xưng
chép về phong tục của kỹ nữ ở hai kinh nam bắc thời Minh nói "Gần đây các
nhà Hiệp tà phần nhiều thờ hình Quan Tráng mục, tôi trộm cho rằng đó là làm
nhục bậc chính thần. Sau mới biết là không phải. Đó là thần Bạch Mi, râu dài
mặt đẹp, cưỡi ngựa cầm đao, hơi giống hình Quan công. Nhưng mày trắng mà mắt
đỏ, ở kinh sư cãi cọ mà chửi người ta là "Quân mày trắng mắt đỏ" là
vô cùng căm hận thù ghét, đủ biết sự ty tiện. Hiệp tà kiêng kỵ điều đó, bèn giả
danh Quan hầu. Kỹ nữ ở kỹ viện lúc bắt đầu ngủ với khách, ắt cùng khách thề
thốt lạy thần ấy, sau đó định tình. Nam bắc hai kinh đều như thế
______________
(2) Lý Nghĩa Sơn thi tập, quyển 5, Vô đề
nhị.
(3) Từ Sĩ Loan, Tống diễm, quyển 6
"Gọi kỹ nữ là sinh, không biết bắt đầu từ lúc nào. Từ Hồng Đình trong Tục
Bản sự thi chép bài Thương Chu sinh của Trung lang Viên Hoằng Đạo, dưới nhan đề
chú thích: Người đất Ngô gọi kỹ nữ là sinh, đại khái bắt đầu từ thời Tống
II. Phân loại và phân hạng kỹ nữ
1. Phân loại kỹ nữ
Chủng loại kỹ nữ rất nhiều, chỉ riêng
quyển Hoàng oanh nhi của nhà văn nổi tiếng thời Minh Phùng Mộng Long đã kể ra
Vũ kỹ, Lão kỹ, Giáo kỹ, Sấu kỹ, Bàn kỹ, Hàng kỹ, Trường kỹ, Thâu kỹ, Thốc kỹ,
Đà kỹ, Phì kỹ, Si kỹ, Phú kỹ, Nhiêu kỹ, Ủy kỹ, Minh kỹ, Sang kỹ, Sửu kỹ, Cổ kỹ,
Ưu kỹ, Thụ kỹ, Bệnh kỹ, Tham kỹ, Bần kỹ, Túy kỹ, Thụy kỹ, Kiềm kỹ, Chuyết kỹ,
Cầu kỹ, Đố kỹ, Đào kỹ, Dựng kỹ, Ma kỹ, Thôn kỹ, Á kỹ, Đà kỹ, Bả kỹ, Diểu kỹ,
Toàn kỹ, Dâm kỹ vân vân hơn bốn mươi loại (4). Nếu kể thêm những sử sách khác,
còn có thể nêu thêm hàng loạt tên gọi khác như Mỹ kỹ, Nhạc kỹ, Ca kỹ, Thổ kỹ,
Cung kỹ, Quan kỹ, Gia kỹ, Thị kỹ, Tăng kỹ, Danh kỹ, Oai kỹ, Quỷ kỹ, Lưu kỹ...
Nói chung kỹ nữ trong lịch sử Trung Quốc có thể phân loại theo mười tiêu chí
sau đây:
a) Tiêu chí nghề nghiệp.
Lấy đối tượng làm nghề kỹ nữ làm tiêu chí,
có thể chia ra Cung kỹ, Doanh kỹ, Quan kỹ, Gia kỹ, Thị kỹ, Tăng kỹ...
Cung kỹ chỉ nữ nghệ nhân ca múa chuyên
nghiệp trong cung đình. Tên gọi còn có Cung thiếp, Cung oa, Cung nga... Nhiệm
vụ của bọn họ chủ yếu là diễn xuất các tiết mục văn nghệ lúc hoàng đế tiến hành
lễ tết, thịnh hội, điển lễ và cung cấp các hoạt động giải trí thường nhật cho
hoàng đế, tất cả không hầu hạ chăn gối.
Doanh kỹ, còn gọi là Quân kỹ, là kỹ nữ đặt
trong quân doanh, chủ yếu cung cấp khoái lạc cho tướng sĩ. Như Hán Vũ ngoại sử
nói "Hán Vũ đế bắt đầu đặt ra Doanh kỹ, để đãi ngộ các tướng sĩ không
vợ". Từ thời Đường Tống trở đi Doanh kỹ cũng ra ngoài hành nghề, cũng
thường tiếp đãi quan văn. Nghiêu Sơn đường ngoại kỷ viết "Thời Đường Tống
các quan Quận thú mới tới đáo nhiệm, Doanh kỹ đều ra khỏi địa giới nghênh đón,
đến khi đã thôi giữ chức vẫn thư từ qua lại, thân thiết như người quen".
Quan kỹ là kỹ nữ nhạc tịch thuộc quan lại
địa phương. Như Dụ thế minh ngôn quyển 17 nói "Vốn triều Tống có quy củ
này, phàm các nhà xướng hộ trong nhạc tịch, gọi là Quan kỹ, Quan phụ, có yến
công tiệc tư thì tùy ý điểm danh gọi tới hầu hạ". Nhiệm vụ chủ yếu của họ
là cung cấp lạc thú cho trưởng quan ở địa phương, phải biểu diễn các tiết mục
văn nghệ ca vũ âm nhạc trong những yến tiệc do quan phủ mở ra để đãi khách...,
cũng thường hầu tiệc mời rượu, tất cả không ngủ hầu. Tên gọi thì ngoài Quan kỹ
ra còn có Công kỹ, Quan xướng, Quan nô, Quan tỳ, Quan liễu, Tịch kỹ, Tịch
xướng, Quan thân, Quan sử phụ nhân, Phủ kỹ, Ấp kỹ, Châu kỹ, Huyện kỹ...
Gia kỹ là kỹ nữ tư gia nuôi dưỡng trong
nhà. Vì Gia kỹ phần lớn đều là con gái xinh đẹp khéo ca múa, giỏi nhiều nghề,
giỏi âm nhạc, nên còn gọi là Gia nhạc. Như câu trong bài Bồi Đông Tuyền học sĩ
phiếm hồ của Trương Trợ "Thuyền đầu tải gia nhạc, Trúc lý trú hành
trù" (Bếp ăn đun giữa trúc, Gia nhạc chở đầu thuyền). Ngoài ra, Gia kỹ còn
có danh xưng là Gia cơ, Thị cơ, Thị kỹ, Cơ thị...
Thị kỹ, lại gọi là Thương kỹ, là chỉ kỹ nữ
ở đô thị nhập tịch, họ công khai phục vụ thanh sắc cho khách chơi, để lấy sự
thù lao bằng tiền bạc vật chất.
__________________
(4) Phùng Mộng Long, Hoàng Sơn mê, Thượng
Hải Văn nghệ xuất bản xã, 1989.
b) Tiêu chí địa phương.
Cái gọi là tiêu chí địa phương chính là
lấy quê quán của kỹ nữ làm tiêu chí. Nó xuất hiện cùng với sự nảy sinh của kỹ
nữ ở thành thị, cũng theo sự phát triển của kỹ nữ ở thành thị mà phát triển.
Ban đầu người ta theo địa phương của kỹ nữ phân chia tương đối lỏng lẻo, như
Nam kỹ, Bắc kỹ. Nhưng đến thời Đường Tống, theo sự phát triển và phồn vinh của
nghề kỹ nữ, đặc điểm về địa phương của kỹ nữ càng lúc càng nổi rõ lên, đã xuất
hiện các tên gọi Thục kỹ, Hàng kỹ, Ngô kỹ, Dương kỹ, Kinh kỹ... Đến thời Minh
Thanh, địa phương của kỹ nữ càng được phân chia chi tiết hơn. Thanh bị loại sao
của Từ Kha chia kỹ nữ theo địa phương thành 25 loại như kỹ nữ Kinh sư, kỹ nữ
Thiên Tân, kỹ nữ Khai Phong, kỹ nữ Trịnh Châu, kỹ nữ Phụng Thiên, kỹ nữ Lan
Châu, kỹ nữ Sơn Đông đại đạo, kỹ nữ Thanh Giang, kỹ nữ Tô Châu, kỹ nữ Thượng
Hải, kỹ nữ Giang Minh, kỹ nữ Dương Châu, kỹ nữ Hàng Châu, kỹ nữ Vu Hồ, kỹ nữ
Nam Xương, kỹ nữ Trùng Khánh, kỹ nữ Hán Khẩu, kỹ nữ Sa Thị, kỹ nữ Phúc Châu, kỹ
nữ Hạ Môn, kỹ nữ Triều Gia, kỹ nữ Ngô Châu, kỹ nữ Nam Hương, kỹ nữ Trường Sa...
(5)
Trong kỹ nữ ở các địa phương kể trên thì
Dương Châu, Tô Châu, Nam Kinh, Hàng Châu, Thành Đô, Quảng Châu, Khai Phong là
nổi tiếng nhất.
Kỹ nữ Thành Đô từ thời Đường đã nổi tiếng
trên đời. Tiết Đào xinh đẹp tài hoa nổi tiếng khắp Tây Xuyên, vì thế có tiếng
khen "Thục xuất tài phụ" (Đất Thục sinh ra phụ nữ tài năng) (6).
Người thời Tống cũng nói "Ca kỹ đất Thục giỏi văn thơ, đại khái là di phong
của Tiết Đào" (7). Vì kỹ nữ đất Thục tài sắc siêu quần nên làm ăn rất khá,
khiến văn nhân mê đắm, phong khí này đến thời Tống đạt tới mức cường thịnh.
Tống Phí trong Thành Đô yến du kỷ nói "Trò yến du ở Thành Đô rất thịnh,
đứng đầu Tây Thục. Đại khái đất rộng của giàu, tục thích vui chơi, phàm quan
Thái thú cuối năm mở tiệc, ngựa xe tấp nập, kiệu hoa lộng lẫy, ca kỹ tấu nhạc,
ra vào nườm nượp. Bọn diễn trò bốn phương đủ trò ảo thuật theo thứ tự ra diễn
mua vui cho chúng dân. Có ngày Tuế suất, nói là tục cũ. Đến hôm ấy thì sĩ nữ
chen chúc, y phục lộng lẫy, dìu già dắt trẻ ra đường đi chơi, có kẻ bày ghế
ngồi trong đình rộng để chờ người xem, gọi là ghế mời (Yêu sàng), mà gọi Thái
thú là Khách quý (Yêu đầu)".
Kỹ nữ Hàng Châu, gọi tắt là Hàng kỹ, bắt
đầu nổi tiếng từ khi Bạch Cư Dị, Nguyên Chẩn thời Đường nối nhau làm quan ở
Chiết Giang. Bạch Cư Dị trong bài Nghê thường vũ y ca nói
"Di trấn Tiền Đường đệ nhị niên
Thủy hữu tâm tình vấn ty trúc.
Linh lung không hầu tạ hảo tranh
Trần sủng tất lật trầm bình
sinh"
(Tiền Đường tới trấn đã hai năm
Mới có tâm tình hỏi tơ trúc.
Không hầu lóng lánh họa đàn tranh
Tất lật ngân nga át tiếng sênh)
lưu luyến kỹ nữ Hàng Châu giỏi ca múa,
khéo ứng đối. Đến thời Bắc Tống, kỹ nữ Hàng Châu còn nổi tiếng hơn cả thời
Đường. Tần Quan có câu thơ "Tây Hồ thủy hoạt đa kiều nương" (Tây Hồ
nước loáng nhiều người đẹp). Mà Tô Đông Pha lúc giữ chức Thái thú Hàng Châu
cũng càng kề hồng dựa lục, "sớm tối gặp gỡ, mệt mỏi về việc ứng thù, lại
gọi kỹ nữ Hàng Châu là Địa ngục rượu thịt (Tửu thực địa ngục)" (8). Đương
thời Hoàng Đình Kiên trong bài tựa Tái họa Nguyên Lễ Xuân hoài thập thủ có nói
Tiền Đường là một đô hội ở Giang Đông, gió mây trăng hoa, không biết có bao
nhiêu ca phường, dáng vẻ thoắt đổi thoắt thay, khiến kẻ thiếu niên say mê quên về".
Thời Nam Tống tiếng tăm kỹ nữ Hàng Châu càng lẫy lừng, đương thời có lời khen
là Biển sắc đẹp (Sắc hải) (9). Kỹ nữ Hàng Châu sắc đẹp tài nghệ kiêm toàn,
khiến văn nhân sĩ đại phu như say như ngây, tiêu hồn lạc phách, chìm đắm vào
đó, gọi là lên thiên đường, vui vẻ không nghĩ tới chuyện khác. Hùng Tiến Đức
thời Nguyên có bài Trúc chi từ như sau:
"Kim tỏa oa biên mã não pha.
Tranh tự nùng gia xuân tối đa.
Hồ điệp mãn viên phi bất khứ,
Hảo hoa hồng đáo tiễn xuân la"
(Mã não bên vàng núi dựa nhà.
Tranh xuân nhiều ít với nhà ta.
Bướm đẹp đầy vườn bay chẳng dứt,
Hoa hồng đẹp tới nhuộm màn là)
Danh tiếng kỹ nữ Tô Châu bắt đầu phổ biến
từ thời Đường. Mỹ kỹ Chân Nương nổi tiếng một thời, người đương thời ví với Tô
Tiểu Tiểu ở Tiền Đường, các thi nhân Bạch Cư Dị, Lý Thân, Trương Hựu, Lý Thương
An đều có thơ ca tụng nàng. Mà Bạch Cư Dị ưa thích kỹ nữ Tô Châu, càng khiến
sắc đẹp của gái Ngô nổi tiếng trong thiên hạ. Trong bài ức cựu du thi Bạch Cư
Dị nói
"Giang Nam cựu du phàm kỷ xứ,
Tựu trung tối ức Ngô Giang ôi.
Lý Quyên Trương Thái nhất trường mộng,
Chu Ngũ Ân Tam quy dạ đài"
(Một cõi Giang Nam chơi khắp chốn,
Mà sao nhớ nhất đất Ngô Giang.
Lý Quyên Trương Thái thành cơn mộng,
Chu Ngũ Ân Tam xuống suối vàng)
Đến thời Tống, tiếng tăm Thuyền nương (Cô
nương trên thuyền) Tô Châu lưu truyền khắp cả nước, chế độ thuyền vẽ Ngô Môn
ngày càng hoàn bị. Điều đó thơ văn của những người như Tô Đông Pha đã miêu tả
rất tường tận chi tiết, ở đây không cần kể rườm. Đến thời cận đại, nghề kỹ nữ ở
Tô Châu bắt đầu suy giảm, địa vị ấy do Thượng Hải thay thế. Ngô Môn họa phảng
tục lục nói "Trước đây lúc Thuyền nương có tiền thì buộc thuyền vào lầu
cạnh sông, bàn ghế sạch sẽ, bút mực đầy đủ. Những ngày giai tiết xuân thu,
trang điểm xong lên thuyền, chiều tối thả neo, lên lầu ăn tiệc, rót rượu gảy
đàn giống hệt kẻ khuê các, gặp gió mưa không ra cửa, lúc đông rét hè nóng gọi
cả ngàn lần cũng không ra, nay thì không được như thế. Ngõ liễu đường hoa gặp
gỡ, cũng có mối cảm xúc thịnh suy trong chớp mắt". Nhưng thanh giá của kỹ
nữ Tô Châu vẫn không hề sút giảm, di phong vẫn còn.
Nghề kỹ nữ ở Dương Châu đến thời Đường vô
cùng hưng thịnh, Dương Châu mộng ký của Vu Nghiệp người đương thời viết
"Dương Châu là nơi thắng địa. Mỗi khi chiều tối, trên lầu kỹ viện thường
có hàng vạn ngọn đèn lồng bọc sa, sáng rực trên không... Trong hẻm Cửu lý tam
thập bộ châu ngọc lóng lánh, trông như cõi tiên". Đến thời Tống nghề kỹ nữ
ở Dương Châu đã từ thịnh thành suy, không sao sánh với Tô Châu được. Thời Minh
nghề kỹ nữ ở Dương Châu lại quật khởi trở lại. Ngựa gầy (Sấu mã) ở Dương Châu
nổi tiếng khắp thiên hạ. Tạ Triệu Chiết trong Ngũ tạp trở nói "Duy Dương ở
giữa thiên hạ, sông ngòi hồ đầm đẹp đẽ nên con gái phần nhiều xinh đẹp, mà thắm
thiết ôn nhu, cử chỉ dịu dàng. Cho nên vì khí sông chằm nhiều, cũng là do khí đẹp
un đúc ra, các nơi khác không sao bằng được, chính vì như thế. Nhưng người
Dương Châu quen coi đó là hàng lạ, buôn bán đồng nữ các nơi, cho ăn mặc đẹp đẽ,
dạy các môn thư họa cầm kỳ để đòi giá cao, gọi là Ngựa gầy (Sấu mã)". Thời
Thanh nghề kỹ nữ ở Dương Châu vẫn duy trì được tình trạng phồn vinh, như Ngô
Lan Từ trong bài tựa sách Dương Châu cổ xuy từ nói "Các kỹ viện trong
thành ở quận, hàng đêm thắp mấy vạn ngọn đèn, son phấn lụa là đứng đầu thiên
hạ". Đương thời có các tên gọi như Ổ riêng (Tư khoa tử), Cửa khép hờ (Bán
khai môn), Bến Tô Châu (Tô tân), Bến Dương Châu (Dương tân). Lại đem nghề
nghiệp phổ biến ra khắp nơi trên toàn quốc, làm hình thành Bang Dương Châu
(Dương bang) thế lực hùng mạnh.
Nghề kỹ nữ ở Nam Kinh hưng khởi từ thời
Lục triều cực thịnh vào thời Minh. Tiền Khiêm ích trong bài Kim Lăng Đồ Tịch
thi tự nói "Thiên hạ thái bình, kinh thành tráng lệ. Người làm quan khoe
chốn Tiên đô, kẻ du sĩ nhận miền Lạc thổ''. Tào Đại Chương trong Tần Hoài sĩ nữ
biểu nói "Đương thời phấn son hương xạ, phỉ thúy uyên ương, hai mươi bốn
lầu bày ra ở chợ Tần Hoài mà không ai ghi lại sự đẹp đẽ". Nghề kỹ nữ ở Nam
Kinh thời Thanh về mặt phồn vinh hoàn toàn không sánh được với thời Minh. Châu
Tuyền cư sĩ trong Tục Bản Kiều tạp ký nói "Nghe các bậc phụ lão ở Kim Lăng
nói: Hà phòng trên sông Tần Hoài trước nay là nhà ở của kỹ nữ, bấm đốt ngón tay
mà tính chẳng qua chỉ có vài nhà, cũng ít khi thấy mở tiệc đãi khách. Nhưng
trong mươi năm nay cửa cửa là hoa, nhà nhà tựa ngọc, chơi bời không ngày nào
vắng. Mùa hè hai năm Bính thân Đinh dậu (Càn Long năm thứ 41, 42) lại còn quá
hơn. Từ cầu Nam Môn tới cửa Đông Thủy, đèn lửa du thuyền nối đuôi nhau như đàn
kiến không ngớt. Trên dưới Hà phòng đèn đuốc sáng rực như ban ngày. Các nhà
danh kỹ mở tiệc lớn từ trưa đến khuya, khách khứa đầy tiệc, rượu trong chén
không bao giờ cạn. Đại khái một ngày cũng phải tốn tới ngàn vàng. Đúng là ao
chằm phong lưu, lâu đài trăng gió".
_________________
(5) Từ Kha, Thanh bị loại sao, quyển 11,
Ngô kỹ loại, Trung Hoa thư cục, 1986.
(6) Giám giới lục.
(7) Chu Mật, Tề Đông dã ngữ, quyển 11,
Thục xướng từ.
(8) Chu Hàm, Bình Châu khả đàm, quyển 3.
(9) Hồ Tử, Thiều Khê ngư ẩn tùng thoại.
c) Tiêu chí kỹ năng.
Lấy sự phân công hoặc tài nghệ trong nghề
nghiệp của kỹ nữ làm tiêu chí thì có thể chia ra Ca kỹ, Nhạc kỹ, Vũ kỹ, Thi kỹ,
Từ kỹ, Am kỹ, Cầu kỹ, Ưu kỹ, Thằng kỹ.
Ca kỹ chỉ loại kỹ nữ lấy ca hát làm tài
năng chủ yếu. Như bài nhạc phủ Hà thủy bộ tập, Nghĩ khinh bạc thiên của Lương
Hà Tốn thời Nam Tống viết
"Xướng nữ yểm ca phiếm,
Tiểu nương khai song chức"
(Kỹ nữ quạt ca che,
Tiểu nương song chức mở)
Thời Tống có một loại kỹ nữ hạng cuối ca
hát trong tửu điếm. Như Đông Kinh mộng hoa lục, quyển 2, Ẩm thực quả tử chép
"Lại có kỹ nữ hạng cuối, không gọi mà tới, ca hát trước tiệc, nhất thời
tặng một ít tiền thì đi, gọi là Khách lủi (Trát khách), cũng gọi là Đánh mâm
rượu (Đả tửu tọa)". Lược dầu (Du thủy sớ) chỉ ca kỹ. Phong quang hảo, màn
1
"Tọa thượng nhược hữu Nhất điểm hồng,
Đấu sao chi khí thịnh thiên chung.
Tọa thượng nhược vô Du thủy sớ,
Phanh long bào phượng tổng thành hư"
(Trên tiệc nếu có Nhất điểm hồng,
Người như đấu lớn dựng ngàn thùng.
Trên ghế nếu không Du thủy sớ,
Rồng xào phượng nấu thảy thành không).
Nhạc kỹ còn gọi là Nhạc xướng (xướng = nữ
+ xương), Nhạc xướng (xướng = nhân + xương), chỉ kỹ nữ sở trường về việc biểu
diễn âm nhạc. Lữ thị Xuân thu, Cổ nhạc viết "Đế Chuyên Húc... sai Tiên
Tiên làm Nhạc xướng, Tiên Nhưng dọn dẹp giường chiếu, lấy đuôi đập vào bụng,
tiếng kêu ình ình". Lại như U nhàn cổ xúy chép Nguyên Hòa con Nguyên Tải
tặng Khang Côn Luân mười người nhạc kỹ "Trước có Đoàn Hòa thượng giỏi đàn
tỳ bà, sáng tác ra điệu Tây Lương Châu, Côn Luân xin mà không cho, đến lúc ấy
đem một nửa ban nhạc kỹ tặng mới truyền lại cho điệu ấy. Nói điệu Lương Châu
chính là nó". Ở đây lại có thể chia nhỏ thành Kỹ nữ gảy tỳ bà (Tỳ bà kỹ),
Kỹ nữ thổi sáo (Xuy địch kỹ), Kỹ nữ thổi tiêu (Phẩm tiêu kỹ), Kỹ nữ thổi khèn
(Tất lật kỹ), Kỹ nữ đánh đàn cầm (Cầm kỹ) vân vân, về sau trở thành từ để gọi
chung các kỹ nữ làm việc biểu diễn ca múa, âm nhạc hoặc khôi hài và tạp kỹ.
Thanh kỹ chỉ các vũ nữ ca cơ trong cung
đình hay gia đình quý tộc thời cổ. Vương Chước thời Tống trong Bích kê mạn chí,
Tự nói "Từ hè qua thu, ở rất gần nhà Vương Hòa Tiên, Trương Tề Vọng, đều
có thanh kỹ, hàng ngày bày rượu làm vui với nhau". Cũng viết là thanh kỹ
(kỹ = nhân + kỹ). Tân Đường thư, Thái Bình công chúa truyện "Cấp cho thanh
kỹ ngang với thiên tử".
Ẩm kỹ chỉ kỹ nữ giỏi việc bồi rượu. Như
Bắc lý chí nói "Ẩm kỹ trong kinh đô, tên thuộc giáo phường. Phàm các quan
trong triều họp mặt ăn tiệc, thì phải mượn các ty tào đứng ra đặt tiệc, sau đó
mới đưa họ tới chỗ khác". Trong loại kỹ nữ này những người biết Tịch củ
(Quy củ trong tiệc) là hạng nhất. Họ không những tửu lượng hơn người mà còn ứng
đối lanh lẹ, kiến thức phong phú, biết tùy cơ ứng biến. Thương chính nói
"Phàm uống rượu thì cử một người làm Lục sự để ràng buộc người trong tiệc,
lại gọi là Quăng Lục sự. Phàm ai làm trái tửu lệnh thì Quăng Lục sự sẽ trói
lại, cắm lá cờ phía trước, nói ông Mỗ làm sai tửu lệnh". Cái gọi là Quăng
Lục sự ở đây chính là Tịch củ, còn gọi là Tửu củ hoặc Quăng sứ, đều thịnh hành
ở thời Đường. Thương chính tức đời sau gọi là tửu lệnh, Tửu củ chính là người
Giám lệnh. Thời Đường có rất nhiều danh kỹ sở trường môn này. Như Yên hoa lục
nói "Kỹ nữ Giáng Chân và Trịnh Cử Cử thay phiên làm Tịch củ khoan nghiêm
đều đắc thể". Bắc lý chí nói Du Lạc Chân "Cũng là Tịch củ thời bấy
giờ, rất giỏi sắp xếp".
d) Tiêu chí đạo đức.
Lấy đạo đức luân lý và đạo đức nghề nghiệp
của kỹ nữ làm tiêu chí, thì có thể chia ra các loại lương kỹ, nghĩa kỹ, hiệp
kỹ, ác kỹ, gian kỹ, bần kỹ.
Nghĩa kỹ chỉ kỹ nữ có tiết tháo, giữ tiết
nghĩa. Như Nghĩa xướng truyện do Chung Cương soạn có chép về một kỹ nữ ở Trường
Sa "Tuy lưu lạc trong chốn phong trần nhưng là người dịu dàng có tiết
nghĩa. Trước đã hẹn ước với Thiếu Du, đóng cửa tạ khách, chỉ ở với một bà già.
Quan phủ có triệu tới thì từ chối, quan không cho, sau đó nàng tới, thề không
phụ Thiếu Du". Sau khi nghe tin Tần Quan chết, nàng lập tức "mặc tang
phục đi phó tang, đi mấy trăm dặm, gặp ở quán trọ... Lúc đưa tang nằm phục lên
quan tài, vật vã mấy lần, gào lớn một tiếng rồi đứt hơi". Người sau khen
là "hâm mộ tài năng của Thiếu Du mà sau cùng giữ lời, lấy thân mà thờ, cam
lòng chết theo, không vì việc kẻ mất người còn mà chia cách, có thể gọi là
nghĩa xướng vậy" (10). Ngoài ra Kiều Trần, Trương Hồng Hồng thời Đường,
Thụy Khanh đất Sở thời Ngũ đại, kỹ nữ Hàng Châu Tiết Hy Đào, kỹ nữ Đài Loan
Nghiêm Nhụy thời Tống, Phàn Sự Chân, Mao Tích Tích thời Nguyên, Phùng Điệp
Thúy, Vương Kiều Nhi thời Minh đều là những nghĩa kỹ nổi tiếng trong lịch sử.
Ác kỹ, gian kỹ, bần kỹ, yêu kỹ, bát kỹ đều
là loại kỹ nữ phẩm hạnh xấu xa, thủ đoạn tàn ác, làm điều bậy bạ. Họ cứ có lợi
là làm, không từ điều gì, không chọn thủ đoạn. Như Tục Hải thượng phồn hoa mộng
hồi 27 nói "Túy Nguyệt Lâu vốn là một kỹ nữ tinh ranh, lúc Lý Hy luôn
miệng đòi cưới, đã dự liệu chuyện này ắt không xong, vì vậy nên ép y phải thề
thốt đủ điều, dốc lòng đợi đến ngày tiết nhật, lừa y thanh toán, cầm Tiền cuộc
trong tay rồi sẽ nói chuyện".
________________
(10) Mai Đỉnh Tộ, Thanh nê liên hoa ký,
quyển 5, Nghĩa xướng truyện
e) Tiêu chí tướng mạo.
Lấy tướng mạo bên ngoài của kỹ nữ làm tiêu
chí có thể chia ra các loại Mỹ kỹ, Xú kỹ, Trường kỹ, Ủy kỹ, Phì kỹ, Sấu kỹ, Kỹ nữ
bàn chân to, Kỹ nữ bàn chân nhỏ, Bạch kỹ, Hắc kỹ cho tới Manh kỹ, Á kỹ, Thốc
kỹ, Đà kỹ, Ma kỹ, Bì kỹ.
Mỹ kỹ chỉ kỹ nữ dung mạo xinh đẹp. Các đời
đối với vẻ đẹp của kỹ nữ thì yêu cầu khác nhau nhưng có hai đặc trưng chủ yếu:
một là phải có vẻ đẹp tự nhiên, như người xưa nói là "Da thịt như
ngọc", "trắng như mỡ đông", "da trắng như tuyết",
"tay như búp măng", "mắt đen lay láy’', hai là phải nhỏ nhắn
xinh xắn, như "tươi tắn sáng sủa", "lưng ong thon thả",
"nở nang gợi tình", "dung mạo xinh tươi".
Xú kỹ chỉ kỹ nữ dung mạo xấu xí. Hoàng
oanh nhi, Xú kỹ "Sinh tựu diện bì hoàng, Hậu yên chi bất nại trang, Vô
diêm Mô Mẫu tranh ta tượng. Sàng miên bán trương, Lệ khuynh lưỡng hàng. Má nhi
yếu đả vô tiền bổng, Vấn khung thương. Nga mi trăn thủ, Hà bất khiển vi xương
(xướng)" (Sinh ra da mặt vàng, Phấn dày không tiếc điểm trang. Không duyên
có đức như Mô Mẫu. Lẻ loi nửa giường, Lệ rơi hai hàng. Mẹ dầu muốn đánh không
tiền gậy, Hỏi trời xanh, Mặt hoa da phấn, Sao không bắt thay nàng).
Trường kỹ chỉ kỹ nữ vóc dáng cao lớn.
Hoàng oanh nhi, Trường kỹ "Ngưỡng diện nghễ đa kiều, Xuất lan phòng tu
chiết yêu. Tường đồ lộ xuất như hoa mạo, Bất thị cung trang hoàn cao, Dã bất
thị tú hài đê cao. Bái như trát tưởng nhân phong đảo, Đối ba tiêu, Thái Hồ
thạch bạn hữu cá nữ Tào Giao" (Ngửa mặt thấy cũng xinh, Ra phòng loan phải
cúi lưng. Bên tường nhô mặt đẹp, Không phải cung trang búi tóc cao, Cũng không
phải đế hài thêu cao. Lạy xiêu người tưởng gió khua đổ, Trước gốc chuối, cạnh
hòn non bộ giống cây sào).
Ủy kỹ chỉ kỹ nữ thấp hơn người thường.
Hoàng oanh nhi, Ủy kỹ "Loa hoàn quán cung trang, Xích ngũ quần tảo địa
trường, Lưỡng tằng cao đê oải triền thượng. Tiêu Nghiêu kỳ phòng, Thù nho phối
song. Sàng gian bán đoạn ôi khâm trướng, Chẩm biên sương phong tình bất giảm,
Túng ủy hữu hà phường" (Tóc búi lối cung trang, Quần thước rưỡi còn dài,
Hai tầng cao thấp buộc không thẳng. Tiêu Nghiêu sánh cùng, Hề lùn xứng đôi.
Trên giường nửa đoạn thừa chăn chiếu, Bên gối phong tình chẳng giảm, Lùn thấp
có hề chi).
Phì kỹ chỉ kỹ nữ thân thể to béo. Hoàng
oanh nhi, Phì kỹ "Xúc đầu trướng bành hanh, Bộ man san, Sùy phong nghênh
bán song, Già khước ngô đồng ảnh, Đế nhi bách cân, Đỗ nhi bách cân, Nha sàng áp
đảo tần tần oải. Nhục khanh khanh, Trừ phi Di Lặc, Phương nhận thị khinh doanh"
(Cổ rụt mặt bành bành, Bước đùng đùng, Đón gió đứng bên song, Bóng rợp tựa ngô
đồng, Đùi nặng trăm cân, Bụng nặng trăm cân, Giường ngà đè lún dần dần lệch.
Thịt trùng trùng, Chỉ ông Di Lặc, Mới coi là lưng ong).
Sấu kỹ chỉ kỹ nữ thân thể ốm yếu. Hoàng
oanh nhi, Sấu kỹ "Nhược chất bất thăng y, Sạ lâm phong thể dục phi. La lan
khoan thoái nghi vô tủy, Hoa dung bán suy, Liễu yêu bán suy, Ngạnh ba ba bị lý
thiêm khô quỷ. Thắc tình cù, đình đình cốt lập, Kham tác Thẩm lang thê"
(Thân yếu không mang nổi áo, Ra gió muốn bay đi. Bắp đùi nhẹ bổng ngờ không
tủy, Mặt hoa nửa suy, Lưng mềm nửa suy, Cứng quèo quèo trong chăn như quỷ đói.
Quá chừng gầy, xương nhô cục cục, Nên làm vợ anh gầy).
Thốc kỹ chỉ kỹ nữ trọc đầu. Hoàng oanh
nhi, Thốc kỹ "Vân hoàn dĩ toàn hy, Hiểu lai trang thanh xạ môi, Thoa đầu
kim phụng trâm biên trụy. Kết nhi thị giả đích, Tỳ nhi dã thị giả đích, Dục bàn
long phụng hồn vô kế, Nhập Chiêu đề, Sắc không không sắc nhất dạng Tỳ khâu
ni" (Mái tóc chỉ lưa thưa, Sáng điểm trang hương xạ bay, Đầu trâm dáng
phụng nghiêng nghiêng chúc. Búi tóc là giả, Độn tóc cũng giả, Muốn vầy long
phụng không sao được, Vào trong chùa, Sắc không không sắc giống hệt Tỳ khâu
ni).
Đà kỹ chỉ kỹ nữ lưng gù. Hoàng oanh nhi,
Đà kỹ "Bối tủng nhục sơn tiêm, Nghiễm tăng ni, Hướng Phật tham, Ma đâu đầu
khuất kiên oa bạn, Nghênh lang thái khiêm, Tống lang thái khiêm, Xuân giao xá
thúy thiên phương tiện. Vũ vân cam, Chẩm biên tú nhục tàm tàm áp thành
đàm" (Núi thịt mọc trên lưng, Giống sư lạy Phật trước thềm, Vai nhô đầu
thấp cổ rụt xuống, Đón chàng rất khiêm, Tiễn chàng rất khiêm, Lễ xuân vái lạy
càng thêm tiện. Lúc mây mưa, Tấm nệm dưới lưng lõm xuống như cái đầm).
Manh kỹ chỉ kỹ nữ mù mắt. Hoàng oanh nhi,
Manh kỹ "Tự tiểu bả minh thương, Hạnh sư truyền, Kỹ lưỡng trường, Tỳ bà
tiêu quản kiêm thanh xướng. An gia khẩu lương, Thê thân nhiệm phòng, Chư ban
tận kháo nô thân thượng. Giảng từ trường, Bách gia tiểu thuyết, Chiến quốc dữ
Tàn Đường (Từ nhỏ mắt đã hư, Được thầy truyền, Có sở trường, Tỳ bà tiêu sáo
kiêm ca hát. Yên nhà đủ lương, Gởi thân thuê phòng, Chuvện gì cũng chỉ em lo
lắng. Chốn thư trường, Bách gia tiểu thuyết, Chiến quốc với Tàn Đường).
Á kỹ chỉ kỹ nữ câm điếc không nói chuyện
được. Hoàng oanh nhi, Á kỹ nói "Ỷ tịch tiếu vô hoan, Tổng thiên kim, Nhất
khúc nan, Sinh ca không náo lân cơ quán. Không hầu nhi chỉ ám đàn, Tỳ bà nhi
chỉ ám đàn, Cưỡng tương gia bản tùy nhân án. Giá Câu lan, Nhĩ tủng cô lão,
Phiên tác nhiễu lương khan" (Trên tiệc sắc không tươi, Dẫu ngàn vàng, Khó
một lời, Đàn ca luống rộn nơi ca quán. Không hầu thầm đàn, Tỳ bà thầm đàn,
Gượng cầm phách bản theo người gõ. Trong lầu xanh, Khách chơi tai điếc, Sẽ nghe
vương vấn trên rường).
Ma kỹ chỉ kỹ nữ mặt rỗ. Hoàng oanh nhi, Ma
kỹ "Tú các tiêu thuyền quyên, Hận triêu triêu, Hại phấn tiền, Bàng nhi
loạn phác lê hoa phiến. Thiên quyền vạn quyền, Bất phương bất viên, Thủy khu
mãn phiếm thanh bì diện. Chiếm hoa điền, Phồn tinh củng nguyệt, Điểm phá kính
trung thiên" (Trong gác tựa thuyền quyên, Xót cho mua phấn tốn tiền, Từng
mảnh hoa lê rơi lả tả, Ngàn hang trăm lỗ, Không tròn không vuông, Nước đọng
tràn trề da mặt tái. Cài hoa tai, Sao dày chầu nguyệt, Phá nát bóng trong
gương).
Bì kỹ chỉ kỹ nữ thọt chân. Hoàng oanh nhi,
Bì kỹ "Trịch cục bộ nan kiều, Cẩm quần lan, Mãn địa tảo, Họa đường chỉ
xích hành nan đáo. Tẩu thời tiết thể dao, Lập thời tiết thoái kiều, Dạng năng
bồ bặc Hàm Đan đạo. Yếu phong tao, Phượng hài nhất chỉ tu tháo đế nhi cao"
(Tập tễnh khó yêu kiều, Quần lan quẹt đất rào rào, Sảnh đường gang tấc khó đi
tới. Đi lắc lắc, Đứng nhón nhón, Hàm Đan đường ấy biết làm sao. Muốn phong tao,
Phượng hài một chiếc phải độn đế cho cao).
Diểu kỹ chỉ kỹ nữ chột mắt. Hoàng oanh
nhi, Diểu kỹ "Tiếu miến hận đa ô, Ỷ môn nhi, Bán yểm phi, Sinh lai chỉ
nhãn thường như thụy. Giá nhất biên thị y, Na nhất biên thị y, Doanh doanh thu
thủy hồn vô đối. Hại tương tư, Ngũ canh san chẩm thanh lệ nhất hàng thùy"
(Cười liếc hận cho đời, Cửa song mở một cánh thôi, Trước nay một mắt thường như
ngủ. Nhìn bên kia cũng thế, Nhìn bên này cũng thế, Long lanh ánh mắt buồn lẻ
loi. Khổ tương tư, Năm canh bên gối lệ thảm một hàng rơi)
f) Tiêu chí tuổi tác.
Theo tuổi tác của kỹ nữ có thể chia làm
lão kỹ và xu kỹ.
Lão kỹ có hai nghĩa, một chỉ những kỹ nữ
tuổi lớn, ngọc mờ, hai chỉ kỹ nữ có tuổi nghề cao, đây là nói về loại trước.
Hoàng oanh nhi, Lão kỹ "Sửu hủy tố hành tàng, Thỉnh tam phiên, Bất xuất
phòng, Bán chân bán giả trang mô dạng. Tửu thôi phạ thường, Hào thôi lại
thường, Oa tiền lãnh phạn tương trà thang. Hiếu phì dương, Minh triêu thời
thoái, Sàm khẩu uổng tư lường" (Xấu xí phải làm màu, Mời mấy phen, Không
ra phòng, Nửa như ra vẻ nửa như thẹn, Rượu đã chán chường, Thịt cũng chán
chường, Trước nồi cơm nguội rưới trà suông. Thích dê non, Sáng ra lui bước,
Liếm mép nghĩ thèm thuồng). Từ đó có thể thấy sinh hoạt của kỹ nữ già rất cực
khổ.
Xu kỹ chỉ kỹ nữ chưa thành niên, còn gọi
là Ấu kỹ, đều từ mười sáu tuổi trở xuống, chưa Phá qua. Như Cửu vĩ quy hồi 19
viết "Nguyên Ngưỡng Chính gọi một kỹ nữ nhỏ ra cuộc, tên Tiểu Viên Viên,
tuổi chỉ mới mười lăm, nhỏ nhắn nhất bọn, xinh đẹp vô song, mọi người đều khen
sau này nhất định sẽ rất xinh đẹp".
g) Tiêu chí hoạt động.
Lấy phương thức hoạt động kinh doanh của
kỹ nữ làm tiêu chí, có thể chia làm loại Tọa kỹ (kỹ nữ cố định) và Lưu kỹ (kỹ
nữ lưu động).
Tọa kỹ chỉ kỹ nữ bán dâm trong kỹ viện hay
tại nhà cố định, như Kỹ nữ trong nhà (Trú gia kỹ nữ) chính là một trong loại
này
Lưu kỹ chỉ những kỹ nữ lưu động bên ngoài
buôn bán xác thịt, biểu diễn tài nghệ. Như Nhị Thập Sinh thời Thanh trong Thập
châu xuân ngữ, Quân dư nói 'Kỹ nữ lưu động ở Tô Hàng có kẻ tới quận ca hát,
phần lớn ngụ ở các hẽm Tam Pháp Khanh. Sa Ni nhai sau chợ, gọi là Đường danh.
Cũng gọi là Hát rong (Du xướng), như danh kỹ Thiệu Kim Ngọc ở kinh sư chép
trong Danh sơn tàng, Liệt nữ ký chính là một kỹ nữ Hát rong.
h) Tiêu chí chính trị.
Lấy mối quan hệ với quyền lực chính trị
của kỹ nữ làm tiêu chí thì có thể chia làm hai loai lớn là Công kỹ và Tư
kỹ.
Công kỹ vốn chỉ kỹ nữ thuộc quan, trong đó
loại cung đốn lạc thú cho nhà vua gọi là Cung kỹ, cung đốn lạc thú cho quan lại
gọi là Quan kỹ, cung đốn lạc thú cho tướng sĩ gọi là Doanh kỹ. Về sau người ta
gọi chung những kỹ nữ đóng thuế cho quan, khai trương doanh nghiệp là Công kỹ.
Như ở Thượng Hải thời trước, Công kỹ có thể chia làm hơn mười loại như Trường
tam, Yêu nhị, Hàm nhục trang, Trĩ kỹ, Đường tử ngoại quốc.
Tư kỷ, theo tên xét nghĩa là chỉ kỹ nữ tư
nhân. Trong đó gồm các kỹ nữ được nhà quý tộc hay người có tiền nuôi dưỡng gọi
là Gia kỹ, không đóng thuế cho chính quyền, không có bảng hiệu kinh doanh gọi
là Ám kỹ, Dã kỹ. Về tên gọi rất nhiều, chủ yếu có Tư xướng, Tư oa tử, Tư quật
tử, Thổ kỷ, Tư khoa tử vân vân. Như Cổ kim tiểu thuyết quyển 3 viết
"Nguyên người này là ca kỹ ẩn danh, lại gọi là Tư oa tử, là không ăn lương
của quan". Lại như Đào Am mộng ức, quyển 4 Nhị thập tứ kiều phong nguyệt
nói "Không lệ thuộc vào quan, ở nhà bán dâm gọi là Thổ kỹ, tục gọi là Tư
oa tử". Như Canh suông (Thang bạch, còn gọi là Thảng bạch, Thảng bài), Cửa
khép hờ (Bán khai môn), Nhà riêng (Tư môn đầu), Gái đồng quê (Phao cương nữ
lang) trong kỹ nữ ở Thượng Hải thời trước đều thuộc loại Tư kỹ. Ngoài ra Gái
bán chè (Thang nữ) bán dâm trong các quán chè, Gái bưng cơm (Phạn thịnh nữ) bán
dâm trong các quán trọ, Gái phòng trà (Trà ốc nữ) bán dâm trong các quán trà,
Gái hầu rượu bán dâm trong các tửu lâu, Gái gội đầu (Tẩy đầu nữ) bán dâm trong
các hiệu cắt tóc vân vân, cũng đều thuộc loại kỹ nữ lén lút bán dâm
i) Tiêu chí tiền bạc.
Căn cứ vào tài sản của cá nhân kỹ nữ, có
thể chia làm hai loại lớn là phú kỹ và bần kỹ.
Phú kỹ là chỉ kỹ nữ có nhiều tài sản. Họ
đều là danh kỹ tài sắc hơn người, sống cuộc đời ăn sung mặc sướng. Hoàng oanh
nhi, Phú kỹ nói "Tuấn vũ thả điêu tường, Hữu kim thoa thập nhị hàng. Sơn
hào hải bài phương trượng, Gia tân mãn đường. Phụng vẫn phụng thương. Khinh xao
đàn bản đê thanh xướng. Giá phố trương. Mê hồn trận thế, hưởng dụng tiếm hầu
vương" (Chạm cột lại sơn rường, Có thoa vàng mười hai hàng. Sơn hào hải vị
bày trong sảnh, Tân khách đầy thềm. Đũa nhấc chén bưng, Nhẹ khua phách bản ngân
nga khẽ. Khéo hư trương. Mê hồn trận thế, hưởng thụ quá hầu vương)
Bần kỹ là chỉ loại kỹ nữ không có của cải
gì, sinh sống vất vả, cả ngày lo lắng vì sinh kế. Hoàng oanh nhi, Bần kỹ nói
"Mi tỏa úc nan khai, Bố vi quần, Kinh tác phu, Hồng la trướng lý Chung Quỳ
ngọa. Đỉnh đương đích bất lai, Hứa mề đích bất lai, Lai đích huyễn tựu vô diêm
phụ. Tháp nha sơ, Tự Côn phong tuyết, Thùy bạn ẩm mao sài” (Mày nhíu mãi da
nhăn, Vải làm quần, Da tựa gai, Trong trướng lụa hồng ma quỷ ngụ. Khách giàu
không vào, Khách nghèo không vào. Vào thì chán ngán người không đẹp. Giắt lược
ngà, Côn Luân gió tuyết, Cùng ai uống rượu trong lều).
j) Tiêu chí tổ chức.
Lấy hình thái tổ chức của kỹ nữ làm tiêu
chí thì có thể chia làm các loại kỹ nữ Bán đứt (Đoạn trướng kỹ nữ), kỹ nữ Gán
nợ (Áp trướng kỹ nữ), kỹ nữ Trừ nợ (Khổn trướng kỹ nữ), và kỹ nữ Tự do (Tự gia
kỹ nữ).
Kỹ nữ Bán đứt còn gọi là Sáo nhân, Thảo
nhân hoặc kỹ nữ không kỳ hạn, là chỉ con nhà nghèo bị cha mẹ anh em bán vào kỹ
viện hoặc bị bọn buôn người bán cho kỹ viện làm kỹ nữ. Vì văn tự bán mình nằm
trong tay chủ chứa kỹ viện nên họ cũng như Tôn Hành Giả bị dán bùa, đã không
được tự do, mà cả sự sống chết cũng chỉ còn cách dựa vào mệnh trời, thường bị
chủ chứa kỹ viện ngược đãi, đánh đập, tất cả đều do chủ chứa sắp xếp và quản
thúc. Ngoài ra kỹ nữ bán đứt còn có rất nhiều quy củ, thứ nhất là không được để
dành tiền riêng, cho dù vòi vĩnh được chút ít tiền của khách, chủ chứa cũng lục
soát lấy đi, thậm chí nếu nhét vào gấu áo, đế hài một vài tờ sao phiếu cùng bị
chủ chứa lục soát. Cuộc sống của họ là bi thảm nhất trong các kỹ nữ.
Kỹ nữ Gán nợ còn gọi là kỹ nữ có kỳ hạn,
là một loại kỹ nữ mại dâm gán nợ cho kỹ viện. Họ và chủ chứa có khế ước, theo
đó lấy được một số tiền, lấy mình để thế chấp, làm kỹ nữ ở kỹ viện trong một
thời gian nhất định. Thời gian này có thể từ ba tới mười năm. Trong kỳ hạn ấy
thì cũng giống như kỹ nữ bán đứt, phải tùy ý chủ chứa kỹ viện quản thúc và sắp
xếp, không được tự do về mặt thân thể. Trong kỳ hạn kiếm được bao nhiêu tiền
thì phải nhất loạt giao hết cho chủ chứa. Chủ chứa chỉ phụ trách sinh hoạt phí
tối thiểu và tiền thuế cho kỹ nữ. Hết kỳ hạn xé khế ước, thì được tự do. Nếu
chưa hết kỳ hạn cũng có thể chuộc mình. Có thể nói đây là một loại kỹ nữ có
tính chất nửa tự do.
Kỹ nữ Trừ nợ còn gọi là Người làm Trừ nợ
(Khốn trướng lõa kế) (11), Kỹ nữ Trừ dần (Thoái trướng kỹ nữ), là loại kỹ nữ vì
nghèo mà phải đem thân thể gán cho kỹ viện để trừ nợ. Kỹ nữ Trừ nợ lập khế ước
với chủ chứa kỹ viện, do chủ chứa bỏ tiền ra, gọi là Đới đương, trong khế ước
quy định thời gian bán dâm trong kỹ viện, có trách nhiệm trích từ thu nhập trả
tiền cho kỹ viện. Họ được đãi ngộ khá hơn kỹ nữ Bán đứt, kỹ nữ Trừ nợ rất
nhiều, trừ khoản "tiền chính" (tức tiền bồi tiếp khách chơi uống
rượu, uống trà và ngủ qua đêm) phải chia bốn sáu hoặc ba bảy với chủ chứa,
những khoản "tiền lẻ" (tức những tiền bạc, nữ trang mà khách chơi
tặng thêm) thì thuộc về mình, chủ chứa không được chiếm lấy. Ngoài ra loại kỹ
nữ Trừ nợ hàng tháng theo lệ được nghỉ hai hoặc bốn ngày, có kỹ viện còn cho
phép được về thăm nhà.
Kỹ nữ Tự do là loại kỹ nữ tự do thân thể,
như không có chồng, có thể tự mình làm chủ, hoàn lương lấy chồng, người khác
không được can thiệp. Thu nhập của họ trong kỹ viện đều chia bốn sáu với chủ
chứa, nên còn được gọi là Người làm chia phần (Phân trướng lõa kế) (12), Nhưng
những chi phí về son phấn, quần áo, thuốc men thì kỹ nữ phải tự lo lấy, còn chi
phí ăn uống thì chủ kỹ viện chịu.
Ngoài bốn loại trên, còn có các loại kỹ nữ
gọi là kỹ nữ Tự tính (Tự hỗn kỹ nữ), kỹ nữ Làm ăn lớn (Đại hoạt kỹ nữ), kỹ nữ
Làm ăn nhỏ (Tiểu hoạt kỹ nữ), kỹ nữ theo ngày (Chiếu thiên kỹ nữ).
Kỹ nữ Tự tính mượn phòng của chủ kỹ viện
hoặc doanh nghiệp khác để làm ăn, thu nhập mỗi ngày chia theo tỷ lệ bốn sáu,
chủ chứa được sáu phần, nếu có những chi phí bất thường thì đôi bên bàn bạc.
Kỹ nữ Làm ăn lớn cũng thuê phòng của chủ
chứa làm ăn, việc ăn ở do chủ chứa phụ trách, thu nhập mỗi ngày của kỹ nữ chủ
chứa lấy bốn phần, ngoài ra những phí tổn khác thì tự lo.
Kỹ nữ Làm ăn nhỏ là chỉ kỹ nữ thuê phòng
của kỹ viện để làm ăn, chỉ trả tiền phòng, còn chuyện khác thì không liên quan
gì với kỹ viện.
Kỹ nữ Theo ngày là theo những ngày nhất
định tới thuê phòng của kỹ viện, thu nhập hàng ngày chia bốn sáu, những phí tổn
khác hai bên chia đôi.
Ngoài mười tiêu chí nói trên còn có thể
căn cứ vào việc kỹ nữ Phá qua (phá trinh) hay chưa mà chia thành Thanh quán
nhân và Hồng quán nhân (13) hoặc Tiểu tiên sinh và Đại tiên sinh, theo tiêu chí
kỹ nữ có mắc bệnh hoa liễu hay không mà chia thành Hàng trong (Thanh thủy hóa)
và Hàng đục (Hồn thủy hóa), vân vân.
___________________
(11) Hải thượng hoa mỵ ảnh hồi 2 "Còn
có một nhà Đường tử ở đường Bàn Cờ, vừa mới tới đây, có một Khổn trướng lõa kế,
tên Lý Tú Hồng, cũng là người Tô Châu, năm nay mười sáu tuổi, dáng vẻ rất xinh
đẹp, đôi bàn chân nhỏ dài bốn tấc, tiền bao một quý là hai mươi đồng Tây
dương".
(12) Hải thượng hoa mỵ ảnh hồi 7 "Tôi
ở đây nói là chia tiền chứ là trả tiền góp mà hành nghề. Lúc tôi ở Thanh Giang
đã cầm bán hết nữ trang quần áo. Bây giờ mỗi ngày phải trả tiền góp tiền trà
nước, tiền thuê nữ trang, tiền son phấn, lại phải hút mấy ngao thuốc phiện, ở
nhà hàng ngày cứ đòi tiền. Tôi vừa tới đây chưa lâu, cũng không có người khách
quen nào, bảo tôi làm sao có tiền mà đưa?
(13) Thanh quán nhân là chỉ kỹ nữ nhỏ tuổi
chưa từng giữ khách ngủ lại, họ "bán nghề không bán thân", Hồng quán
nhân là chỉ kỹ nữ đã tiếp khách bán dâm, đã mất trinh.
2. Đẳng cấp của kỹ nữ
Kỹ nữ trong lịch sử Trung Quốc, có thể căn
cứ vào tiêu chí nhất định mà chia làm thứ bậc cao thấp. Theo truyền thống mọi
người thường lấy tiêu chí về tài sắc của kỹ nữ mà chia làm ba hạng là hạng
trên, hạng giữa và hạng dưới. Nhưng lối phân loại như thế rất không rõ ràng,
rất không khoa học, vì cùng là kỹ nữ nhưng còn chia ra Quan kỹ và Tư kỹ, có
chia ra Phú kỹ và Tài kỹ vân vân, chúng ta rất khó nói họ thuộc vào loại nào.
Cho nên đối với việc phân hạng kỹ nữ chúng ta cần suy nghĩ tới nhân tố chủ yếu
ảnh hưởng tới việc phân hạng thứ bậc (như dung mạo, tài nghệ, thân phận, giàu
nghèo) để xác định một số tiêu chí tổng hợp.
Từ lịch sử mà nhìn thì tiêu chí phân hạng
kỹ nữ qua các đời rất không thống nhất. Đầu tiên người ta lấy nhan sắc của kỹ
nữ làm tiêu chí phân loại chủ yếu. Như Phù Kiên nhà Tiền Tần phá được đất
Nghiệp, ban cho đại tướng Vương Mãnh "mỹ thiếp năm người, kỹ nữ hạng trên
mười người, kỹ nữ hạng vừa ba mươi tám người" (14). Rõ ràng lúc bấy giờ
việc phân loại kỹ nữ lấy nhan sắc làm chủ, tài nghệ là thứ hai.
Đến thời Đường, tiêu chí phân loại kỹ nữ
của mọi người có sự thay đổi lớn, lấy tài nghệ làm chủ, nhan sắc là thứ hai,
thân phận là thứ ba. Lấy việc phân loại kỹ nữ trong giáo phường ở cung đình làm
ví dụ, thì đều lấy khả năng ca múa làm tiêu chí, người giỏi gọi là Tiền đầu
nhân (hoặc Nội nhân), thường được biểu diễn ca múa trước mặt hoàng đế, nên
"Nội nhân đeo ngọc bội hình con cá, cung nhân thì không được" (15).
Kỹ nữ Bắc lý ở Trường An cũng chia ra như vậy, như danh kỹ nổi tiếng Giáng Chân
"Giỏi khôi hài, khéo ca múa. Thường làm Tịch củ, nghiêm khắc khoan hòa đều
đắc thể. Về dung mạo cũng bình thường nhưng dịu dàng không xấu xí, nhừng người
tài giỏi đương thời coi trọng, nhờ thế mà có thanh giá" (16). Trịnh Cử Cử
"Dáng mạo không đẹp, nhưng có khí chất, khéo trò chuyện, cũng được các bậc
triều sĩ yêu thích" (17). Trương Trú Trú "Lúc nhỏ thông minh, giỏi âm
luật" (18). Từ đó có thể thấy xã hội thời Đường rất chú trọng tới tài nghệ
của kỹ nữ. Những người hát hay múa giỏi đứng đầu, "trò chuyện hài
hước" là thứ hai, "thạo âm luật" là bậc dưới nữa, "ngủ lại
và ăn uống" là hạng chót. Mà dụng mạo của kỹ nữ trong con mắt của mọi
người đã trở thành không đáng để ý. Từ ghi chép trong sử sách đương thời mà
nhìn, thì kỹ viện thời Đường phân chia đẳng cấp kỹ nữ cũng thế. Như nhà mẹ hờ
Dương Diệu Nhi có mấy kỹ nữ, "người đứng đầu là Lai Nhi, tự Bồng Tiên,
dung mạo không có gì đẹp, răng khểnh, nhưng lanh lợi khéo ăn nói, trò chuyện có
duyên... Lấy sự thông minh lanh lợi hấp dẫn khách khứa hơn hẳn các kỹ nữ khác,
thu lợi rất nhiều. Người thứ hai là Băng Nhi, tự Tề Khanh, xấp xỉ như Lai Nhi,
không có tài gì khác, nguời kế nữa là Nghênh Nhi, đã không xinh đẹp, lại vụng ăn
nói, nhiều lần ăn nói sỗ sàng làm phật ý tân khách. Người kế nữa tên Quế Nhi,
nhỏ tuổi nhất, cũng khá xấu xí, nhưng kính trọng Lai Nhi, giỏi việc lấy
lòng" (19).
Thời Tống Nguyên xã hội trong việc phân
loại kỹ nữ thì nhấn mạnh tiêu chí sắc tài. Sắc đẹp tài nghệ kiêm toàn là kỹ nữ
hạng nhất, đương thời gọi là Thượng sảnh hàng thủ, Thượng sảnh giác thủ hoặc
Hoa khôi. Họ là Đầu nhân trong Quan kỹ, lúc biểu diễn ca múa trong quan sảnh
thường đứng ở hàng đầu. Như Thanh bình sơn đường thoại bản, Tào Bá Minh thố
khám tang ký viết "Có một kỹ nữ tên Tạ Tiểu Nga, hai mươi mốt tuổi, dáng
vẻ thiên kiều bách mỵ, là Thượng sảnh hàng thủ". Tuyên Hòa di sự viết
"Người đẹp này là Hàng thủ bậc nhất ở kinh sư, đứng đầu các nhà Yên hoa
trong hai kinh, họ Lý tên Sư Sư". Thanh sam lệ màn 1 "Tiểu tự Hưng
Nô, sinh tính thông minh, rất giỏi đàn tỳ bà, là Giác kỹ nổi tiếng ở kinh
sư". Thanh lâu tập cũng thường dùng từ "Sắc nghệ lưỡng tuyệt" để
khái quát về mỵ lực của các danh kỹ, như khen danh kỹ ở kinh sư Tào Nga Tú
"phú tính thông minh, sắc tài đều tuyệt vời", Chu Nhân Ái "tài
sắc kiêm toàn", Sự Sự Nghi "sắc đẹp ca múa đều nổi bật", Vương
Ngọc Đới, Phùng Lục Lục, Vương Tạ Yến, Vương Đình Yến, Chu Thú Đầu "đều
tài sắc lưỡng tuyệt" vân vân. Ngoài ra tiêu chí khí chất cũng được mọi người
nhắc tới, như Thanh lâu tập nói Lý Kiều Nhi "dung mạo xinh đẹp, khí độ
nhàn nhã, người đương thời gọi là Tiểu thiên nhiên. Rất giỏi các môn tạp
kịch". Thiên Nhiên Tú "Thần thái phong nhã, có dáng vẻ như gió lướt
trong rừng. Tài sắc đều hơn người, giỏi diễn các vở khuê oán, đương thời tôn
xưng là người đứng đầu". Trương Mãng Nhi "dung mạo phong cách nổi
tiếng một thời, giỏi tạp kịch Hoa đán". Lý Chân Đồng "sắc tài không
ai sánh được, cử chỉ ôn nhã, lời lẽ dịu dàng, rất có phong thái kẻ khuê
các". Hỷ Ôn Nhu "dung mạo xinh đẹp mà cử chỉ ôn nhu. Nổi tiếng ở vùng
Hoài, Chiết lâu ngày vẫn không suy giảm" vân vân. Từ lời miêu tả của Hạ
Đình Chi, có thể thấy tiêu chí về kỹ nữ hạng nhất trong con mắt của người thời
Nguyên. Ngoài việc dung mạo và tài nghệ đều đầy đủ còn nhấn mạnh tới khí chất
bất phàm của họ về "ý khí", "phong thái", "cử
chỉ", ắt phải kết hợp một cách hoàn mỹ cả ba yếu tố ngoại hình, tài nghệ
và khí chất. Căn cứ tiêu chí ấy, người thời Tống Nguyên chia kỹ nữ làm mấy hạng
dưới đây: Tài sắc kiêm toàn là hạng nhất, có tài nghệ là hạng hai, chỉ có sắc
đẹp là hạng ba.
Thời Tống Nguyên tài nghệ vẫn được đặt
trên nhan sắc, vẫn chiếm vị trí hàng đầu. Tài nghệ của kỹ nữ thời Tống thì lấy
việc đề vịnh làm hàng đầu, trò chuyện khôi hài là thứ hai, tài nghệ của kỹ nữ
thời Nguyên thì lấy việc đàn hát ca múa làm hàng đầu, trò chuyện khôi hài là
thứ hai. Như Thanh lâu tập bình thuật về kỹ nữ đương thời đều lấy tài nghệ làm
chủ còn nhan sắc là thứ hai. Hỷ Xuân Cảnh "Nhan sắc không bằng người trung
bình, nhung tài nghệ nổi tiếng một thời", Chu Cẩm Tú "tuy nhan sắc
không bằng người trung bình, nhưng tài cao vượt lên trên đám kỹ nữ", Hòa
Đang Đang "Tuy dung mạo không đẹp, nhưng tài nghệ rất giỏi", Trần Tư
Tích "mặt mũi xấu xí nhưng giỏi đàn hát, giọng ca dịu dàng như mây
trôi", Chu Liêm Tú "’người lùn thấp", mù hai mắt, nhưng "Về
tạp kịch thì độc bộ hiện nay". Vương Ngọc Mai "Vóc dáng thấp lùn
nhưng giọng hát trong trẻo", "giỏi hát Man từ, cũng rất giỏi tạp
kịch" vân vân. Đủ thấy kỹ nữ có tài không có sắc vào thời Nguyên vẫn có
thể nổi tiếng, mà kỹ nữ chỉ có sắc đẹp lúc bấy giờ rất khó bước vào hàng đứng
đầu.
Thời Minh Thanh, người ta thường căn cứ
vào tài tình sắc nghệ để phân chia đẳng cấp phẩm hạng kỹ nữ. Như năm Thiên Khải
thứ 1 Phan Chi Hằng viết quyển Kim Lăng kỹ phẩm chia ba mươi hai danh kỹ làm
bốn loại để phẩm bình: thứ nhất là Phẩm chất, người có khuôn phép là hơn, thứ
hai là Thanh vận, người có phong nghi là hơn, thứ ba là Tài nghệ, người có tài
năng là hơn, thứ tư là Nhan sắc, người có sắc đẹp là hơn. Nhưng từ sự phẩm bình
của giới khách chơi là danh sĩ lúc bấy giờ chúng ta vẫn có thể thấy nhan sắc đã
trờ thành tiêu chí quan trọng để đánh giá kỹ nữ của người đương thời, chiếm vị
trí chủ đạo.
Việc phân loại đẳng cấp kỹ nữ ở Thượng Hải
thời cận đại, "thứ nhất phải có tư cách, thứ hai phải tinh thông việc thù
tiếp, mà hai chữ sắc nghệ có thể không nói tới" (20) Nói tóm lại có thể
chia thành mấy loại dưới đây:
Nữ hiệu thư. Nữ hiệu thư còn gọi là Từ sử,
là kỹ nữ Thư ngụ, là loại có đẳng cấp cao nhất trong kỹ nữ, tất cả đều tài sắc
kiêm toàn, bán nghề không bán thân, chỉ kể chuyện đàn hát, mời rượu đóng kịch
cho khách thưởng thức, không công khai giữ khách ngủ lại.
Trường tam. Kỹ nữ Trường tam so với Nữ
hiệu thư thấp hơn một bậc, họ cũng là kỹ nữ hạng sang, người ta gọi là Quán
nhân hoặc Tiên sinh. Họ cũng giống Nữ hiệu thư, lấy bảng hiệu "bán nghề
không bán thân" để đề cao thân giá, nhưng hiện tượng giữ khách ngủ lại qua
đêm cũng là thường thấy. Cuối thế kỷ XIX Tứ đại Kim cương nổi tiếng một thời ở
đất Hộ là Lâm Mặc Ngọc, Kim Tiểu Bảo, Trương Thư Ngọc, Lục Lan Phân chính là kỹ
nữ Trường tam.
Yêu nhị. Kỹ nữ Yêu nhị thuộc kỹ nữ hạng
vừa, phần lớn là kỹ nữ Bán mình hay kỹ nữ Trừ nợ. Vì họ Ra cuộc thì phải trả
hai đồng, nên có tên như thế.
Gà lẻ (Dã kê). Kỹ nữ Gà lẻ thuộc loại kỹ
nữ hạng thấp, có thể chia làm hai loại, tức Gà lẻ ở nhà và Gà lẻ phổ thông. Địa
vị và thân giá của loại trước cao hơn loại sau, lúc bình thời chỉ thù tiếp mấy
người khách quen. Mà sinh hoạt của kỹ nữ Gà lẻ phố thông thì thê thảm hơn rất
nhiểu, "Đêm hôm khuya khoắt, mưa gió tuyết sương còn phải đứng trên đường,
nếu không tìm được khách còn bị chủ chứa đánh đập tàn nhẫn. Cho dù có khách thì
những kẻ tới đó đều là loại người hạ lưu, rất dễ mắc bệnh dương mai, loét cổ tử
cung, thế nào cũng phải mất mạng" (21)
Bàn đinh (Đinh bằng). Bàn đinh là kỹ nữ
bậc thấp nhất ở Thượng Hải. Khách chơi chỉ cần bỏ ra ba hào là có thể được tiếp
giữa ban ngày ban mặt, tục gọi là Đóng đinh (Đả đinh). Loại kỹ nữ này phần lớn
xấu xí không sao chịu nổi, lúc ăn nên làm ra mỗi ngày phải tiếp khoảng hơn mười
vị khách.
Ngoài Thượng Hải, kỹ nữ ở các nơi Cáp Nhĩ
Tân, Bắc Kinh, Khai Phong cũng chia làm bốn năm hạng. Như kỹ nữ ở Cáp Nhĩ Tân
chia thành năm hạng, hạng đầu gọi là Bài tọa, hạng hai hạng ba đều gọi là Hạ
xứ, hạng tư gọi là Mại môn tử, hạng năm là Lão má đường. Nói chung loại Bài tọa
ở Cáp Nhĩ Tân tương tự loại Trường tam ở Thượng Hải, Mại môn tử thì tương tự
loại Hoa yên quán ở Thượng Hải, Lão má đường đều là loại phụ nữ trung niên, là
nơi tìm vui của tầng lớp dưới (22)
Đương nhiên đẳng cấp của kỹ nữ hoàn toàn
không phải là nhất thành bất biến. Theo với sự thay đổi về tuổi tác, tiền bạc
và thân xác của kỹ nữ, đẳng cấp của kỹ nữ cũng sẽ phát sinh những thay đổi
tương ứng. Nói chung, thời gian từ đẳng cấp cao rơi xuống đẳng cấp thấp, nếu
gặp may hoặc có thủ đoạn cao cường thì có thể giữ được bảy tám năm, thậm chí
hơn mười năm, nhưng tuyệt đại đa số chỉ có thể duy trì được trong năm ba năm.
___________________
(14) Thập lục quốc Xuân thu, Tiền Tần lục.
(15), (16), (17), (18) Tôn Khải, Bắc lý
chí.
(19) Bắc lý chí, Dương Diệu Nhi.
(20), (21) Nhân gian địa ngục, hồi 16.
(22) Tục Hải thượng phồn hoa mộng, tập 3,
hồi 33
Không có nhận xét nào:
Đăng nhận xét