Chương 8. Tài hoa và công lao của kỹ nữ
Trong con mắt mọi người, kỹ nữ là loại
tiện nhân đem thân xác ra bán. Nhưng lúc chúng tôi tra cứu sách vở, tìm hiểu
nguồn gốc của kỹ nữ, thì trong óc lại nảy sinh một cách nhìn hoàn toàn khác hẳn
"Nguyên là gia kỹ ở Trung Quốc chính là truyền nhân về âm nhạc, hóa thân
của văn học, cũng là biểu trưng về sự giàu có phồn vinh của xã hội" (1).
Năm 1934, Vương Thư Nô tiên sinh có quyển Trung Quốc xướng kỹ sử do Thượng Hải
sinh hoạt thư điếm xuất bản, trong đó nói:
"Tôi thấy kẻ rất không thủ cựu, thay
đổi theo phong khí thời đại xưa nay không ai bằng kỹ nữ. Thời đại chuộng thơ
thì họ có thể đọc thơ làm thơ, thời đại chuộng từ thì họ có thể ca từ soạn từ,
thời đại chuộng khúc thì họ có thể hát khúc viết khúc. Tôi thấy thi kỹ, từ kỹ,
khúc kỹ thời Đường Tống Nguyên nhiều như cá mè qua sông, mới biết, kỹ nữ không
những là bạn thơ văn với văn nhân mặc khách đương thời mà còn là công thần giúp
đỡ học thuật văn hóa của thời đại. Chẳng lẽ chúng ta lại nhẫn tâm coi họ là
loại người hèn hạ mà đối xử sao?".
Lâm Ngữ Đường tiên sinh trong quyển Trung
Quốc nhân (Người Trung Quốc) viết bằng tiếng Anh năm 1935 cũng đánh giá cao
cống hiến và công lao của kỹ nữ trong lịch sử văn hóa Trung Quốc, ông nói:
"Có nhấn mạnh sự quan trọng của kỹ nữ
trong tình yêu, văn học, âm nhạc, chính trị Trung Quốc tới mức nào cũng không
quá đáng. Đàn ông cho rằng để phụ nữ con nhà có thể diện đi học đánh đàn là
không thích hợp, có hại cho việc bồi dưỡng phẩm đức của họ, cho rằng họ học
nhiều sách quá cũng không hợp, có hại cho đạo đức của họ. về hội họa và thơ ca
cũng rất ít khuyến khích họ. Nhưng đàn ông lại không phải vì thế mà từ bỏ việc
theo đuổi những bạn gái có thành tựu về văn học và nghệ thuật. Các ca kỹ thì
đều phát triển trên những phương diện ấy, vì họ không cần tới thứ phẩm đức vô
tri để tự bảo vệ mình... Có một phần lịch sử phụ nữ trí thức ở Trung Quốc phải
được tìm hiểu từ thân thế của các ca kỹ này".
Đúng là như thế. Tuy kẻ thống trị các đời
và các lực lượng cũ giày vò, đè nén, kỳ thị kỹ nữ rất nặng nề, nhưng họ vẫn từ
những kẽ hở của sự áp bức nặng nề ấy ngoan cường đứng lên, bộc lộ tài hoa nghệ thuật
và tài trí thông minh đáng ngạc nhiên của họ, chiếm một địa vị trong lịch sử
văn hóa Trung Hoa huy hoàng rực rỡ, nhiều màu nhiều vẻ
_______________________
(1) Đông Quách tiên sinh, Gia kỹ phong
nguyệt, Tự tự.
I. Kỹ nữ với ngữ ngôn văn học
1. Kỹ nữ với thơ
Thành tựu của kỹ nữ về mặt thi ca chủ yếu
thể hiện trên hai phương diện: một là những thơ ca do họ sáng tác, làm phong
phú và phát triển thêm kho tàng quý báu của thơ ca Trung Quốc, hai là ảnh hưởng
và sự thúc đẩy của họ đối với thi nhân Trung Quốc các đời.
a) Thơ của kỹ nữ sáng tác.
Thơ của kỹ nữ sáng tác trước nay có không
ít tác phẩm hay. Vì thân xác và tâm tình của họ bị giày vò đè nén nghiêm trọng
nên họ có những tư tưởng, tình cảm, nguyện vọng và nhu cầu đặc biệt, tác phẩm
của họ trong khi phản ảnh hiện thực xã hội, cũng biểu hiện những nét đặc sắc về
ý thức thẩm mỹ. Bài Vịnh hạng ca (còn có tên là Xuân ca) do sủng cơ của Hán Cao
tổ là Thích phu nhân sáng tác được người sau tôn là "Bài cổ nhất trong thơ
thời Hán" (2) phản ảnh sinh động mà chân thực số phận bi thảm của cung kỹ
"Tử vi vương, Mẫu vi lỗ. Chung nhật xuân bạc mộ, Thường dữ tử vi ngũ.
Tương ly tam thiên lý, Đương thùy sử cáo nhữ" (Con làm vương, Mẹ là tù.
Trọn ngày xuân ủ rủ, Thường với con cùng ở. Ba ngàn dặm chia lìa, Biết nhờ ai
nhắn nhủ) (3). Đến thời Ngụy Tấn Nam Bắc triều, thơ ca của kỹ nữ sáng tác
thường xuất hiện trên đời. Như Lục Châu sủng thiếp của Thạch Sùng, vũ kỹ nổi
tiếng thời Tây Tấn có bài Áo nùng ca, gia kỹ Đàm Phong của Thạch Sùng có bài
Oán thi, gia kỹ Đào Diệp của Vương Hiến Chi có bài Đáp Vương đoàn phiến ca tam
thủ, bài Ca nhất thủ của danh kỹ Tô Tiểu Tiểu ở Tiền Đường thời Nam triều, bài
Cảm tỳ bà huyền của Phùng Thục Phi thời Bắc Tề vân vân, đều nổi tiếng đương
thời, rất được các thi gia khâm phục. Lục Sưởng trong Lịch đại danh viên thi từ
bình: bài Áo nùng ca của Lục Châu "Âm cổ nghĩa cổ, là một nữ lang tài
hoa", bài Oán thi của Đàm Phong "Oán mà không giận, vẫn tự than thở
là không thể trở lại tuổi xuân. Tả sự ngậm ngùi tới mức tột cùng, vô cùng đáng
thương", Tô Tiểu Tiểu "Lời thơ u uyển mà có khí phách, lời lẽ giản
dị, theo di phong Nhạc phủ", bài Cảm tỳ bà huyền của Phùng Thục Phi
"Lời thơ không nhiều nhưng ý tứ rất sâu xa, còn có ý truy niệm chủ cũ,
giỏi về việc tả nỗi oán hờn". Từ những lời bình luận ấy, có thể thấy thơ
ca do kỹ nữ sáng tác đương thời đã đạt tới trình độ nghệ thuật nhất định
Đến thời Đường, thơ ca do kỹ nữ sáng tác
lại càng phong phú. Như Toàn Đường thi đã thu thập được thơ của 21 tác giả nữ,
tất cả 136 bài, nổi tiếng nhất có các bài Đáp Hàn Hoằng của Liễu thị, Đề Lạc
uyển ngô diệp thượng của cung nhân niên hiệu Thiên Bảo, Ký Ấu Dương Chiêm của
kỹ nữ Thái Nguyên, Tống Hàn Quỳ chi Giang Đông của Lý Dả, Xuân vọng từ tứ thủ
của Tiết Đào, Yến Tử lâu tam thủ của Quan Miến Miến, Đáp Triệu Tượng của Bộ Phi
Yên, Kim lũ y của Đỗ Thu Nương, La Hống khúc lục thủ của Lưu Thái Xuân, Đột
quyết tam đài của Thịnh Tiểu Tùng, Đề hồng diệp của Hàn thị, Tặng lân nữ của
Ngư Huyền Cơ, Tự hoài của Từ Nguyệt Anh, Hiến Lý Quan sát của vũ kỹ, Tặng Lư
phu nhân của kỹ nữ ở Thường Hạo, Ký cố nhân của Trương Yểu Điệu, Tống Vũ Bổ khuyết
của kỹ nữ ở Tương Dương, Đề Tôn Khải thi hậu của Vương Phúc Nương, Đáp tiểu đệ
thi của Dương Thái Nhi, Tặng Trịnh Xương Đồ của Sở Nhi, Họa Lý Tiêu của Vương
Tô Tô, Lâm chung triệu khách của Nhan Lệnh Tân, Tặng Bùi Tư Khiêm của kỹ nữ ở
Bình Khang, Mễ hương động của Sử Phượng, Tiêm chỉ của Triệu Loan Loan vân vân.
Đó đều là những thơ ca bày tỏ nỗi lòng, hoặc sầu oán, hoặc hào phóng, hoặc khéo
léo, hoặc phong lưu, hoặc thanh nhã, rất được mọi người tán thưởng và đề cao,
đến nay đọc lại vẫn cảm thấy tình cảm dạt dào, thởa mãn lâm ly. Như Lịch đại
danh viên thi từ bình thơ Liễu thị nói "Thơ của Liễu thị không nhiều lời
nhưng tình ý vương vấn, trước sau đều tới. Câu chữ cũng chặt chẽ, cũng tuyệt
diệu như thơ của Hàn Hoằng", bài thơ của kỹ nữ Thái Nguyên "Lời thơ
nông cạn mà ý tứ sâu xa, thấp thoáng có ngấn nước mắt, đó đúng là chân thi,
không thể thêm bớt một chữ", thơ của Lý Dả "Bút lực cứng đẹp, từ khí
thanh sái, rất có phong thái danh sĩ, không ai ngờ là do nữ nhân làm ra, có thể
coi là nữ Quan du", Tiết Đào "Thơ văn nhiều tài tình, phóng đãng
nhưng thường có vẻ nhàn tản, trong phụ nữ ít người sánh được", thơ Quan
Miến Miến "Thê lương ảm đạm, chữ chữ ngân nga, lời lẽ cũng kín đáo đẹp đẽ,
rất xứng đáng được đời truyền tụng", thơ Đỗ Thu Nương "Từ khí trong
trẻo, lời lẽ tương ứng, các từ Chớ tiếc, Nên tiếc, Đáng bẻ, Nên bẻ, Luống bẻ,
tầng tầng lớp lớp, đọc tới không thấy chán, có thể nói là tài giỏi", thơ
của Thịnh Tiểu Tùng "Bài Tam đài từ có khí thế mạnh mẽ, cách điệu đều
giỏi, danh tác của danh sĩ thời Đường chưa chắc đã hơn được", thơ của
Trương Yểu Điệu "Bỏ được khí cách son phấn, lai láng tuôn trào, tự có sự
đẹp đẽ sâu kín riêng", từ đó có thể thấy thơ ca của kỹ nữ thời Đường đã
đạt tới trình độ nghệ thuật khá cao, về mặt thành tựu thì có thể nói con gái
nhà lành đương thời không sao sánh được.
Từ thời Đường trở về sau, kỹ nữ rất hay
viết từ, nhưng phong khí làm thơ vẫn rất thịnh hành, như gia kỹ Thôi Tố Nga của
Vi Tuân người nhà Lương thời Ngũ đại có bài Biệt Vi Tuân Mỹ thi, gia kỹ Thiến
Đào của Tể tướng Khấu Chuẩn nhà Tống có bài Trình Khấu công tam thủ, kỹ nữ Hổ
Sở ở Hàng Châu có các bài Tống Chu Thiều, Ký nhân, Đàm Ý Ca có bài Ký Trương
Thi, cung kỹ Đào Cửu Thành ở Biện Kinh có bài Cung từ thập ngũ thủ, Mỹ nhân
trong cung cũ nhà Liêu có bài Y lan ca vân vân, đều lưu hành trên đời, được
người sau đề cao. Như Lịch triều danh viên thi từ bình thơ Thiến Đào nói
"Lời lẽ không cốt khéo léo, mà cốt biểu đạt ý tứ điều gì cũng tới mức tột
cùng, đủ khiến người sau truyền tụng", bình thơ Hồ Sở nói "Lời lẽ rõ
ràng, ngữ khí cũng sống động", bình thơ Đàm Ý Ca nói "Đúng là lời gan
ruột, có chỗ thê nhiên không dứt", bình thơ Đào Cửu Thành nói "Lời
thơ ôn nhã giản dị mà tự nhiên bộc lộ vẻ phong lưu". Nhưng nhìn chung về
thơ thì kỹ nữ thời Ngũ đại Lưỡng Tống và thời Liêu đều thua xa kỹ nữ thời Đường
về cả thành tựu lẫn quy mô.
Kỹ nữ thời Nguyên sở trường về nghệ thuật
tạp kịch, nhưng cũng không ít người giỏi thơ. Như Trương Diệu Tịnh, Lý Thúy
Nga, La Viên Viên, Trương Di Vân, Trương Ngọc Liên, Nhất Phân Nhi, Lưu Yên Ca,
Lưu Bà Tích, đều có thể xuất khẩu thành thơ, đối đáp trôi chảy, văn tứ cực kỳ
mẫn tiệp.
Kỹ nữ thời Minh nổi tiếng về thơ có con
gái thứ hai của họ Thiết với bài Thượng phụ đồng quan thi, Triệu Trại Đào với
bài Ức gia viên nhất tuyệt, kỹ nữ niên hiệu Chính Đức với bài Vịnh cốt tử, Chu
Đẩu Nhi với bài Tống nhân, Phùng Tương Lan với bài Phú đắc Tự quân chi xuất hĩ
nhị thủ, Triệu Thái Cơ với các bài Yến lai, Xuân mộng giang thượng tống biệt,
Chu Vô Hà với các bài Thu khuê khúc, Du tử, Trịnh Như Anh với bài Xuân mộng ký
hoài nhị thủ vân vân. Từ tác phẩm của họ mà nhìn thì thành tựu quyết không kém
thời Đường Tống. Như Nghệ uyển ách ngôn bình bài Vịnh cốt tử nói "Kỹ nữ
cùng khách chia nhau đề vịnh, được đề tài về hạt xúc xắc, lập tức ứng thanh đọc
hai câu tuyệt cú. Tạp kịch của Quan Hán Khanh chép thơ trong vở Tạ Thiên Hương:
Nhất lạp đê vi cốt,
Trị quân chưởng ác trung.
Liệu ưng hiềm điểm ọa,
Phao trịch diện đông phong
(Một hạt xương hèn hạ,
Chàng cầm trong nắm tay.
Tính ra hiềm mặt bẩn,
Vứt bỏ chẳng cau mày)
ý tứ cũng tương tự, mới biết kỹ nữ ấy có
tài thoát thai hoán cốt". Chung Hoàng trong Danh viên thi phụ bình
"Tự trần tự ví, không cần tính chuyện khéo vụng". Ngô Kiều trong Vi
lô thi thoại nói "Chữ nào cũng gắn liền với đề, mà chữ nào cũng gởi gắm ý
tứ, có kỹ nữ ấy trong làng thơ, há như Viên Khải chỉ có hai câu thơ tả bức
tranh chim én trắng thôi sao!... Khải nên bái kỹ nữ ấy mà học thơ". Lại
như Ngọc kính dương thu bình thơ của Chu Đấu Nhi nói "Trong sáng đẹp đẽ
khả ái", bình thơ của Thái Cơ nói "Như câu Ân cần chiết dương liễu,
Hoàn hướng khứ niên chi (Ân cần bẻ dương liễu, Còn chọn nhánh năm xưa) vô cùng
thiết tha sâu sắc. Các bài thất tuyệt như Vịnh du nữ, Tống Trương Ấu Vu, Tống
Thẩm Gia Tắc, Ký Trần Ngọc Anh cũng đều là tác phẩm hay, có di phong của Tiết Hồng
Độ", bình thơ của Chu Vô Hà nói "Có nhiều ý hay lời đẹp, như đàn hát
chợt trỗi, sáo ngọc vừa kêu, thơ Đường luật và thơ tứ tuyệt đều hơn người. Tôi
thích nhất là câu Dạ phụng triêu loan (Phụng tối loan mai), công phu khác
hẳn", bình thơ Trịnh Như Anh nói "Ý thơ mới mà có lời hay, như câu
Quần công hân cộng tập, Nhất diệp tứ tương quy (Chư công vui họp mặt, Một lá ý
thu về) trong bài Phóng Hạc đình phân vận thi hoàn toàn không có khí cách son
phấn. Bài Tứ tuyệt Trường Bản kiều càng hay hơn, bồi hồi chuyện thiên cổ, mỗi
khi đọc lên lại như nghe thấy tiếng ca hát ngoài đồng nội", bình thơ Chu
Hoạt nói "Như mây nhỏ sắp tan, thác trôi tự nấc". Danh viên thi phụ
bình thơ Vương Tu Vi nói "Đẹp đẽ sâu kín, sánh với Lý Thanh Chiếu, Chu
Thục Chân". Trần Kế Nho trong Đề Tu Vi thảo cũng nói "Tu Vi thơ giống
Tiết Đào, từ giống Lý Địch An, không nói là phụ nữ, cho dù là bậc mày râu nam
tử cũng phải hổ thẹn".
______________________
(2) Đới kinh đường thi thoại.
(3) Hán thư, Ngoại thích truyện.
b) Thơ vịnh kỹ nữ của văn nhân các đời.
Ở Trung Quốc, thi nhân từ xưa đến nay có
truyền thống làm thơ vịnh tả kỹ nữ. Phục trai mạn lục nói:
"Thi nhân ngày nay vịnh phụ nữ phần
lớn đều xưng tụng việc ca múa. Bài Kỹ ứng lệnh của Nguyên đế nhà Lương viết
"Ca thanh tùy động hưởng,
Vũ ảnh hướng trì sinh"
(Tiếng ca theo động dội,
Bóng múa hướng ao sinh).
Bài Xuân kỹ của Lưu Hiếu Trác viết
"Yên cơ trăn diệu vũ,
Trịnh nữ phát thanh ca"
(Yên cơ tay múa đẹp,
Trịnh nữ tiếng ca trong).
Thơ Đông dạ vịnh kỹ của Tiêu Phóng nhà Tề
viết
"Ca hoàn đoàn phiến hậu,
Vũ xuất kỹ hàng tiền"
(Ca hoàn đoàn phiến hậu,
Vũ xuất kỹ hàng tiền).
Bài Quan kỹ của Chấp Cung thời Tống viết
"Hợp vũ câu hồi tuyết,
Phân ca cộng lạc trần"
(Múa chung tuyết thảy rụng,
Ca lẻ bụi đều rơi).
Bài Hầu Tư không trạch vịnh kỹ của Trần
Minh Khanh viết
"Oanh đề ca phiến hậu,
Hoa lạc vũ sam tiền"
(Sau quạt ca oanh hót,
Trước áo múa hoa rơi)
Trần Lưu San cũng viết
"Sơn biên ca lạc nhật,
Trì thượng vũ tiền khê"
(Bên non ca nắng xế,
Trên nước múa khe trong)
bài Xuân kỹ của Giang Tổng viết
"Tịnh ca thời chuyển đại,
Tức vũ tạm phân hương"
(Ca chung cùng liếc mắt,
Múa dứt tạm chia hương)
bài Dạ văn lân kỹ của Lư Tư Đạo thời Tùy
viết
"Khủng ca thanh dị đoạn,
Diệu vũ thái nan song"
(Ca run lời dễ đứt,
Múa đẹp dáng khôn tìm).
Bài Xuân viên thính kỹ của Trần Nguyên
Tháo nói
"Hồng thụ dao ca phiến,
Lục châu phiêu vũ y"
(Quạt ca cây đỏ phất,
Áo múa bãi xanh bay).
Bài Quan kỹ của Thích Pháp Tuyên viết
"Vũ tụ phong tiền cử,
Ca thanh phiến hậu kiêu"
(Trước gió áo múa phất,
Sau quạt tiếng ca vang)
bài Vịnh kỹ của Vương Tích viết
"Tảo thời ca phiến bạc,
Kim nhật vũ sam trường"
(Quạt ca khi trước mỏng,
Áo múa đến nay dài).
Có bảy người dùng ca đối với vũ, cũng có
bảy người dùng Ca phiến (Quạt ca) đối với Vũ y (Áo múa). Tuy là vì có quan hệ
với nhau, nhưng thưởng thức thật kỹ thì tự có sự khéo vụng riêng. Đỗ Tử Mỹ cho
rằng câu
"Thanh giang ca phiến để,
Khoáng đã vũ y tiền"
(Quạt ca rung nước biếc,
Áo múa rộn đồng không)
là khúc hay.
Đến thời Đường, thi nhân không những tìm được
nguồn tư liệu sáng tác không cạn ở kỹ nữ, mà còn nhờ các tác phẩm viết về kỹ nữ
mà nổi tiếng trên đời. Theo thống kê, trong 49.403 bài thơ mà Toàn Đường thi
thu thập được có hơn 2.000 bài có liên quan tới kỹ nữ. Điều đó cho thấy thơ văn
đề vịnh kỹ nữ của văn nhân thời Đường chiếm một địa vị nhất định trong thơ
Đường.
Thơ của kỹ nữ trong Toàn Đường thi, từ
toàn bộ phong cách và phương thức gởi gắm tâm tình mà nói, thì trong bốn giai
đoạn Sơ Đường, Thịnh Đường, Trung Đường, Vãn Đường biểu hiện rất khác nhau. Nói
chung từ thời Trung Đường trờ về trước có nhiều thơ viết kỹ nữ, nhưng các thi
nhân trong những dịp lễ hội tết nhất yến tiệc đều từ góc độ bàng quan mà thưởng
thức tài năng ca nhạc vũ đạo của kỹ nữ, tình cảm còn khá lạt lẽo, việc lựa chữ
chọn vần chủ yếu cũng chỉ là miêu tả trực quan. Như các bài Ích Châu thành tây
Trương Siêu đình quan kỹ, Tân Pháp Tập trạch quan kỹ của Vương Tích, Phú đắc kỹ
của Trần Tử Lương, Ôn Tuyền Phùng, Lưu nhị giám khách xá quan kỹ của Trương
Duyệt. Dạ quan kỹ, Trường An đạo của Trừ Quang Hy, Mỹ nhân phân hương, Yến Thôi
Minh phủ trạch dạ quan kỹ của Mạnh Hạo Nhiên, Hàm Đan Nam đình quan kỹ của Lý
Bạch vân vân, đều có đặc điểm chung là theo thứ tự kể việc một cách bình
thường, thiếu sự gởi gắm. Ngay các hình ảnh trong thơ cũng phần nhiều tương tự
hoặc giống nhau, như Áo múa Mây xanh, Mày đỏ, Môi ca, Ánh mây, Vẻ tuyết, Ráng
chảy Mây trôi, Loan múa, Phượng ca, Dây xinh, Ngón ngọc (Vũ tụ Lục vân, Hồng
đại, Ca thần, Vân quang, Tuyết thái, Lưu hà, Hành vân, Hồi tuyết, Loan vũ, Phượng
ca, Kiều huyền, Ngọc chỉ), việc thưởng thức tài sắc của kỹ nữ vẫn còn trong
trạng thái bề ngoài, xa cách. Đồng thời, cũng có một số thi nhân mượn việc đề
vịnh kỹ nữ để bày tỏ tâm tình cá nhân. Như các bài Giang thượng ngâm, Đối tửu
của Lý Bạch, Trường An đạo của Trừ Quang Hy, Khúc Giang nhị thủ của Đỗ Phủ đều
là các thi nhân gởi gắm tình cảm một cách sâu xa.
Sau loạn An Sử, thơ viết về kỹ nữ của thi
nhân lấy nội dung phong phú, tình cảm tế nhị ,mà về phong cách đã khác hẳn
trước kia. Từ đề tài mà nhìn thì đã xuất hiện khá nhiều những bài "Tống
kỹ" (Tiễn kỹ nữ), "Tặng kỹ" (Tặng kỹ nữ), "Biệt kỹ"
(Chia tay kỹ nữ), "Hoài kỹ" (Nhớ kỹ nữ), "Thương kỹ"
(Thương kỹ nữ), "Điệu kỹ" (Khóc kỹ nữ), điều này rõ ràng đối lập với
việc "Quan kỹ" (Xem kỹ nữ) đơn thuần từ thời Trung Đường trở về
trước. Điều đó cho thấy kỹ nữ có hình hài có tình cảm qua việc giao lưu tình
cảm sâu đậm với thi nhân đã bắt đầu bước vào thế giới tâm tình của họ.
Trong các thi nhân thời Đường, những người
có quan hệ mật thiết, xướng họa nhiều nhất với kỹ nữ không ai bằng Nguyên Chẩn
và Bạch Cư Dị. Nguyên Chẩn có quan hệ mật thiết với các danh kỹ Tiết Đào, Lưu
Thái Xuân, nhưng thường thay lòng đổi dạ. So với Nguyên Chẩn, thì trong chuyện
này Bạch Cư Dị chân thành hơn nhiều. Trong suốt đời ông cơ hồ đều thủy chung
với thanh sắc của kỹ nữ. Ông không những nuôi dưỡng rất đông gia kỹ, mà còn qua
các dịp hoan du quen biết và kết giao với hàng trăm kỹ nữ thanh lâu. Nhưng ông
thủy chung vẫn coi các cô gái chốn yên hoa ấy là bạn phong trần tri kỹ của mình,
đầy lòng nhiệt huyết tán thưởng tài nghệ ca múa của họ, đồng tình với số phận
bi thảm của họ. Vì thế Chử Nhân Hoạch thời Thanh trong Kiên biều tân tập, quyển
4 nói "Trần Hồng trong bài Trường hận truyền tụ nói: Lạc Thiên giỏi thơ,
phần lớn viết về tình cảm. Cho nên gặp gỡ là dựa vào đó để ngâm vịnh, chứ không
phải có ý ở nữ sắc". Lối kiến giải này rất đúng đắn. Thơ viết về kỹ nữ của
Bạch Cư Dị có các bài Giang Nam hỷ phùng Tiêu Cửu thiết nhân thoại Trường An
cựu du hý tặng ngũ thập vận, Hàng Châu xuân vọng, Am tán dạ quy tặng chư khách,
Dương liễu chi nhị thập vận, Đại mại tân nữ tặng chư kỹ, Tỳ bà hành. Trong đó
Tỳ bà hành có thành tựu cao nhất, thể hiện số phận chìm nổi của kỹ nữ và tâm
tình bị trích giáng của thi nhân, từ đó làm nảy sinh khí cách vượt lên trên
loại thơ "Vịnh kỹ", "Quan kỹ", có sức hấp dẫn nghệ thuật
lâu dài.
Thơ viết về kỹ nữ thời Vãn Đường đã tới
mức đẹp đẽ, mang thêm nhiều tâm lý bệnh hoạn của kẻ văn nhân đời loạn sống gấp
hưởng lạc, chán nản tìm quên. Điển hình có bài Khiển hoài của Đỗ Mục, Hữu tặng
của Thôi Giác, Tặng mỹ nhân của Phương Can, Tịch thượng hữu tặng của Hàn Ác,
Vịnh thủ nhị thủ của Triệu Quang Viễn. Loại thơ tình lấy thân thể của kỹ nữ làm
đối tượng ca vịnh này rất phổ biến đương thời. Từ hình thức mà nhìn, thì lời lẽ
đẹp đẽ, hình tượng kiều diễm, có thể coi cùng một dòng với loại thơ Cung thể
thời Tề Lương. Từ nội dung tư tưởng mà nhìn thì khí cách bạc nhược, mềm yếu
không xương, phản ảnh tình cảm chán chường của văn nhân thời loạn tay trái ôm
tay phải khoác, hưởng lạc sống gấp (4)
______________________
(4) Trở lên xem thêm Đào Mộ Ninh Thanh lâu
văn học dữ Trung Quốc văn học (Văn học lầu xanh với văn học Trung Quốc), Đông
phương xuất bản xã, 1993
2. Kỹ nữ với từ khúc
a) Từ khúc viết về kỹ nữ của văn nhân các
đời.
Từ khúc khởi từ thời Tùy Đường, lan tràn
trong thời Ngũ đại đến thời Lưỡng Tống đã rất khả quan, trở thành "văn học
một thời" (5).
Nhìn từ nguồn gốc thì từ khúc có mối quan
hệ mật thiết với kỹ nữ. Mọi người đều biết thể loại từ khúc trong văn học Trung
Quốc là do kỹ nữ thời Đường thay đổi thể cách luật thơ mà mau chóng phát triển
thành. Như Thôi Lệnh Khâm thời Đường trong Giáo phường ký chép hơn ba trăm tên
từ khúc lưu hành trong kỹ nữ thời Đường, trong đó rất nhiều đều trở thành những
điệu từ khúc chính quy đời sau. Đôn Hoàng khúc tử từ lưu hành ở Trung Quốc thời
Vãn Đường có rất nhiều là do các kỹ nữ viết ra. Đương thời việc hát từ khúc cơ
hồ đã trở thành nguồn lợi của riêng kỹ nữ, họ dùng từ khúc để trút tâm tình và
oán hờn của mình, lấy "phiếm thanh" và "hòa thanh" lấp vào
lời câu từ, từ đó đả phá cách luật nghiêm chỉnh của thơ Đường làm xuất hiện thể
Trường đoản cú, đây là dạng từ khúc có trước nhất. Đến thời Trung Đường, các
thi nhân như Lý Bạch, Lưu Vũ Tích, Bạch Cư Dị lại đem những "khúc điệu quê
mùa" trong dân gian đưa vào thơ, làm định hình cơ sở thể loại văn học của
từ khúc. Đến cuối thời Đường, phong khí thi nhân soạn từ khúc càng thịnh hành,
như Trương Chí Hòa, Trương Tùng Linh, Cố Huống, Đới Thúc Luân, Vi ứng Vật đều
theo khúc phách mà viết các bài từ Trường đoản cú, khiến từ khúc xác lập được
cơ sở vững chắc trong văn học sử Trung Quốc. Nhất là từ nhân Ôn Đình Quân thời
Vãn Đường, lại càng đẩy mạnh sự cách tân đối với thể loại văn học này tới mức
cao.
Ôn Đình Quân xuất thân trong nhà thế gia
quý tộc nhưng vì bất đắc chí trên phương diện chính trị, chỉ làm quan tới chức
Quốc tử Trợ giáo nên sinh hoạt cũng dần dần theo hướng suy đồi phóng đãng, ông
thường ra vào thanh lâu kỹ viện, về sinh hoạt và tình cảm của các ca kỹ có sự
quan sát và thể hội sâu xa, với số phận bi thảm của họ thì có sự đồng tình nhất
định. Từ khúc của ông về nội dung rất hạn hẹp, chủ yếu là miêu tả nỗi khổ trong
tâm tình và sự thành tâm tìm kiếm tình yêu cùng nguyện vọng về một đời sống tốt
đẹp củạ các kỹ nữ, đặc biệt là giỏi miêu tả những thay đổi tâm lý tinh tế quanh
co của phụ nữ. Nhưng về lời lẽ thì vô cùng hoa lệ, khiến người ta cảm nhận được
phong khí phú quý lộng lẫy và phong khí son phấn dung tục, đó chính là sự phản
ảnh rõ ràng đời sống vật chất ở thành thị (6).
Ngũ đại tuy là một thời kỳ biến động không
ổn định, nhưng từ khúc thích hợp với nữ nhạc ca kỹ lại phát triển một cách kỳ
lạ. Như Trang Tống nhà Hậu Đường viết bài Như mộng lệnh “Tằng yến Đào Nguyên
thâm động, Nhất khúc vũ loan ca phụng. Trường ký biệt ly thời, Tương lệ xuất
tương Tống. Như mộng, Như mộng, Tàn nguyệt lạc hoa trọng" (Yến tiệc vui
vầy trong động, Một khúc múa loan Ca phụng. Nhớ mãi lúc chia tay, Sa lệ tiễn
nhau ra cổng. Mộng, Như mộng, Khói nặng trăng tàn hoa rụng), chúa nhà Tiền Thục
là Vương Diễn viết bài Túy trang từ "Giá biên tẩu, Na biên tẩu, Chỉ đắc
tầm hoa liễu. Na biên tẩu, Giá biên tẩu, Mạc yếm kim bôi tửu" (Đi bên này,
đi bên kia, chỉ là tìm hoa liễu. Đi bên kia, đi bên này, chớ chán chén rượu
vàng) từ đó chúng ta không khó tưởng tượng ra khung cảnh hoang dâm trong cung
đình đương thời. Không chỉ bậc quân vương như thế mà từ khúc của các văn thần
sĩ đại phu cũng miêu tả rốt ráo sự phong lưu kiều mỵ. Họ dùng lời lẽ diễm lệ,
màu sắc hoa mỹ, ra sức miêu tả dung mạo, đời sống và tâm tình của kỹ nữ. Âu
Dương Quýnh trong Hoa gian tập tự bình "Thảy là từ khúc tuyệt vời, dùng
giúp phong tư xinh đẹp. Từ Cung thể của Nam triều, dấy xướng phong nơi Bắc
lý". Nhưng cần chỉ ra rằng ngoài những bài từ dâm ô trụy lạc, Hoa gian tập
cũng có không ít tác phẩm chân thành tha thiết. Như từ khúc về tình yêu của Vi
Trang, về nội dung thì có chỗ khác với các tác phẩm viết về ca cơ kỹ nữ lan
tràn thời bấy giờ, quả có sự vương vấn đa tình, lại có sự cảm nhận về đời sống
thực tế, đồng thời về mặt kỹ xảo tu từ và biểu đạt đã tách rời khỏi sự đẹp đẽ
của Ôn Đình Quân và sự khinh bạc của Trương Bí, Âu Dương Quýnh, ông giỏi về
việc vận dụng những câu chữ trong sáng, bút pháp miêu tả trực tiếp, lại thêm
tình cảm thiết tha vương vấn, khiến trong Hoa gian tập ông nghiễm nhiên xác lập
được một phong cách khác hẳn Ôn Đình Quân (7)
Thời Tống, kỹ nữ càng trở thành nguồn cảm
hứng cho từ nhân đương thời gởi ý nói tình. Văn nhân mặc khách nhao nhao lấy
việc chơi gái làm đề tài, bài dài khúc ngắn. Án Thù có Cán khê sa, Xuân yến, Âu
Dương Tu có Ngọc lâu xuân, Kỹ quán, Tô Thức có Hạ tân lương, Mẫn đình phương,
Trương Tiên có Giảm tự Mộc lan hoa, Tặng kỹ, Nam hương tử, Thính Nhị Ngọc cổ hồ
cầm, Vọng Giang Nam, Tặng Long Nghiễn, Hoàng Đình Kiên có Mãn đình phương, Kỹ
nữ, Nguyễn lang quy, Mạch sơn khê, Tần Quan có Nam ca tử, Cán khê sa, Thủy long
ngâm, Khương Quỳ có Giải liên bôi, Ngô Văn Anh có Ngọc lâu xuân, Kinh thị vũ
nữ, Trương Viêm có Thanh thanh mạn, Họa Hàn Trúc Gian vận, Tặng ca giả Quan
Quan, Tại lưỡng vĩnh cư, Tích xuân y, Tặng kỹ Song Ba, Hảo sự cận, Tặng Tiếu
Thiến, vân vân. Cơ hồ bài từ nào của các văn nhân cũng đều có nội dung phong
hoa tuyết nguyệt, dựa lục kề hồng. Như Vương An Thạch không đề cập tới lãnh vực
thanh lâu, trong các tác gia thời Tống có thể nói là long phượng sừng lân, lại
bị người đương thời chê là "giả trá không thông đạt" (8), từ đó có
thể thấy thị hiếu của từ gia thời Tống!
Người soạn từ khúc về kỹ nữ nổi tiếng nhất
thời Tống là Chu Bang Ngạn và Liễu Vĩnh. Chu Bang Ngạn trong đời Huy Tống từng
được đề cử làm việc ở phủ Đại Thạnh, thường sống ở kỹ quán giáo phường hoặc
Ngõa xá Câu lan. Sở trường nhất của ông là bày tỏ mối hận biệt ly và nỗi lòng
phụ nữ, nhất là về việc thể hiện tình cảm phong lưu ở chốn thanh lâu. Các bài
Thiếu niên du, Thanh ngọc án, Song điệu, Hoa tâm đông trong Phiến ngọc tập đều
là những danh tác cực kỳ đẹp đẽ khinh bạc. So với Chu Bang Ngạn, Liễu Vĩnh càng
gần gũi ca kỹ hơn nhiều, tự lấy hiệu là "Phụng chỉ điền từ Liễu tam
biến", trở thành người phát ngôn cho mối chân tình và nỗi khổ nhục của kỹ
nữ. Chính vì ông và kỹ nữ Cùng một lứa bên trời lận đận đều có tình cảm và ý
nguyện như nhau nên ông vứt hết những mặt nạ đạo đức giả, chìm đắm vào chân
tình nơi Bắc lý, khiến tài năng về từ khúc không ngừng được nâng cao, đạt tới
đỉnh cao, liên tiếp viết ra nhiều tác phẩm hay, nổi danh trên đời. Tỵ thử tục
thoại nói "Nhạc công ở giáo phường, mỗi khi được điệu mới, ắt xin Vĩnh làm
từ, bắt đầu lưu hành trên đời". Nhạc phủ dư luận nói "Kỳ Khanh thất
ý, lưu lạc trong giáo phường, bèn nhặt hết những lời lẽ quê mùa đưa vào từ khúc
để kỹ nữ dễ học tập, nhất thời nổi tiếng, truyền khắp bốn phương". Đến nỗi
sau khi ông chết, còn xuất hiện câu chuyện "Các kỹ nữ góp tiền mai táng
Liễu Thất" làm xúc động lòng người.
Kỹ nữ thời Tống không những là đề tài sáng
tạo vĩnh viễn không bao giờ hết của văn nhân từ gia mà còn có những cống hiến
rất quan trọng về nội dung, âm vận, khúc điệu cách luật và trong việc phổ biến
từ khúc thời Tống. Trịnh Chấn Phong tiên sinh trong Trung Quốc văn học sử nói
"Trong thời kỳ này từ khúc đã đạt tới giai đoạn hoàng kim. Tác giả viết từ
khúc xong, có thể trao cho kỹ nữ ca hát ngay giữa tiệc. Nữ lang mười bảy mười
tám tuổi cầm phách bản hồng nha hát câu Bờ dương liễu trăng tàn gió sớm, tình
cảnh ấy há không phải là điều mà các văn nhân học sĩ thích thú nhất sao? Phàm
kẻ có thể làm từ khúc, bất kể là văn sĩ vũ phu, quan lại lớn nhỏ cũng không ai
không thích làm từ. Như Tần Thất, Liễu Tam biến, Chu Thanh Chân còn lấy từ để
dạy ca kỹ. Liễu Tam biến càng say đắm trong thanh lâu kỹ viện, lấy việc viết từ
khúc cho họ hát làm vui. Cho nên chúng ta có thể nói Trong thời đại hoàng kim
của từ khúc, từ là thể loại mà các văn nhân học sĩ thích dùng nhất, là ca khúc
mà các ca kỹ vũ nữ ở cạnh văn nhân học sĩ thích hát nhất". Kỹ nữ và từ
nhân, rõ ràng là hai đại công thần trong việc đưa từ khúc thời Tống phát triển
tới đỉnh cao.
______________________
(5) Vương Chước thời Tống trong Bích kê
mạn chí nói "Đại khái từ thời Tùy trở đi, cái mà hiện nay gọi là khúc tử
dần dần phát triển, đến thời Đường thì bắt đầu thịnh vượng. Ngày nay thì phồn
thanh dâm tấu, không thể kể xiết"
(6) (7) Lưu Thái Kiệt, Trung Quốc văn học
phát triển sử (Lịch sử phát triển của văn học Trung Quốc), Thượng Hải cổ tịch
xuất bản 1982, tr. 544, 551
(8) Triệu Đức Lân, Hầu tinh lục, quyển 3.
b) Từ khúc của kỹ nữ sáng tác.
Vì kỹ nữ sớm tối quanh quẩn quanh văn nhân
mặc khách, dùng ty trúc quản huyền biểu diễn từ khúc do họ sáng tác, sau lúc
hầu rượu ca hát cũng thường say sưa trong âm thanh vần điệu dìu dặt réo rắt của
nó nên tự nhiên cũng học được cách thức làm từ khúc, đem nỗi khổ và tình cảm
của mình phổ vào âm nhạc, trở thành một chi phái khiến người ta mở rộng tầm
mắt, không dám coi thường trong từ uyển ở Trung Quốc.
Như trên đã nói, từ thời Đường các kỹ nữ
đã bắt đầu soạn ca từ, có cống hiến quan trọng đối với sự nảy sinh của từ khúc
(9). Đến thời Tống vì kỹ nữ dùng từ khúc làm cách thức mưu sinh, làm ngôn ngữ
đặc thù trong việc giao tế với văn nhân sĩ phu nên từ khúc của họ càng xuất
hiện nhiều hơn, trong đó nổi tiếng nhất có các bài Mãn phương đình của Cầm
Tháo, Tây giang nguyệt của Tô Lương, Nhất lạc tố,
Tống Thục thú Tưởng Long đổ của Trần
Phượng Nghi, Bốc toán tử, Đáp thi của Nhạc Uyển, Giá cô thiên, Ký biệt Lý sinh
của Nhiếp Thắng Lương, Bốc toán tử, Thước kiều tiên, Như mộng lệnh, Hồng bạch
đào hoa của Nghiêm Nhụy, Hạ tân lang, Tống Thái thú của kỹ nữ Bình Giang, Ngọc
lâu xuân của Doãn Từ Khách, Thị kiều liễu, Tống hành của kỹ nữ đất Thục, Thái
thượng dẫn, Tiễn Tề Tham nghị quy Sơn Đông của Lưu Yên Ca vân vân. Các tác phẩm
từ khúc này đều đạt tới trình độ nghệ thuật sâu sắc, có khi không kém các bậc
danh gia.
Sau thời Tống, phong khí kỹ nữ sáng tác từ
khúc tuy không bằng thời Tống, nhưng cũng có không ít người. Như các tác giả từ
khúc mà Minh từ tổng ghi chép có 216 người là kỹ nữ, ở những sách vở khác còn
có thể tìm thấy nhiều hơn trong đó nổi tiếng nhất có Khương Vu Ngọc, Lâm Nô
Nhi, Phùng Tương Lan, Tiết Tố Tố, Mã Như Ngọc, Chu Vô Hà, Cố Văn Anh, Biện
Trại, Vương Thiếu Quân, Úc Văn Chu, Úc Trại, Lý Trinh Lệ, Lương Chiêu, Tôn Dao Hoa,
Dương Hoa, Dương Huệ Nương, Dương Thục Khanh, Doãn Xuân, Vương Vi. Tác phẩm của
họ cũng đạt tới trình độ nhất định, như Nguyệt ba từ của Chu Đẩu Nhi, Bốc toán
tử của Chu Vô Hà, Đảo luyện tử, Ức Tần Nga của Vương Vi, Lãng đào sa, Hải đường
của Dương Uyển, Tô mạc già của Lưu Thắng, Phượng Hoàng đài thượng ức xuy tiêu
của Mã Như Ngọc, Cổn tú cầu của Khấu Ngai Như, Điểm giáng thần của Đôn Văn,
Thụy giá cô của kỹ nữ ở kinh sư thời Minh, Quá Tần lâu của Cao Chi Tiên, Nữ
quan tử của Phương Thị Tiên thời Thanh vân vân phần lớn đều có di phong của Lý
Thanh Chiếu, khiến người ta đề cao và tán thưởng.
_______________________
(9) Hồ Thích trong Từ đích khởi nguyên
(Nguồn gốc từ khúc) nói "Tôi ngờ khúc điệu này là loại ca khúc Trường đoản
cú, phong khí của nó bắt nguồn từ dân gian, bắt nguồn từ nhạc công ca kỹ".
Vương Thư Nô trong Trung Quốc xướng kỹ sử nói "Xướng kỹ thời Đường có thể
làm thơ, có thể đọc thơ, có thể hiểu thơ, nên từ thời Trung Đường trở đi thì kỹ
nữ có công lao lớn nhất trong việc nảy sinh của từ khúc".
II. Kỹ nữ với âm nhạc ca múa
1. Hoạt động và thành tựu ca múa của kỹ nữ
Vì kỹ nữ là biến thể của nữ nhạc, nên các
kỹ viện từ xưa đến nay đều có truyền thống biểu diễn âm nhạc ca múa và kịch
nghệ, đó cũng là một trong những kỹ năng cơ bản nhất của kỹ nữ các đời.
Từ Thượng thư, Y huấn "Có múa đẹp
trong cung, ca hay ở điện, đương thời gọi là Phong khí đồng bóng" và Cửu
ca, Đông hoàn thái nhất của Khuất Nguyên "Sơ viên tiết hề an ca, Trần vu
cầm hề hạo xướng" (Thưa phách gái chừ ca hay, Bày đàn vu chừ hát lớn), có
thể thấy kỹ nữ buổi đầu tức Vu xướng đã thành thục việc ca múa âm nhạc, trở
thành người mở đầu cho nghệ thuật âm nhạc ca múa ở Trung Quốc.
Tống Nguyên hý khúc sử của Vương Quốc Duy
nói "Viên tiết an ca, Vu cầm hạo xướng (Phách gái ca hay, Đàn vu hát lớn)
là cảnh ca múa rộn rịp, Thừa phong tải vân chi từ, Sinh biệt tân tri chi ngữ
(Lời theo gió chở mây, Câu chia tay mới biết) là nói sự hoang dâm. Thị tắc linh
chi vi chức, Hoặc yển kiển dĩ tượng thần, Hoặc bà sa dĩ lạc thần (Đó là chức
trách Tắc linh. Hoặc nhún nhảy cho giống thần. Hoặc múa hát để mừng thần) đại
khái là manh nha của hý kịch đời sau, kỹ nữ có công bảo tồn phát triển
vậy", khẳng định cống hiến to lớn của Vu xướng thời cổ đại đối với nghệ
thuật âm nhạc ca múa Trung Quốc.
Cung kỹ thời Tần Hán, gia kỹ thời Ngụy
Tấn, Giáo phường thời Đường, Câu lan thời Tống, thanh lâu thời Nguyên, kỹ quán
thời Thanh, tất cả đều ra sức học tập ca múa, từ đó khiến nghệ thuật âm nhạc ca
múa ở Trung Quốc ngày càng hoàn thiện, đạt tới mức tận thiện tận mỹ, trở thành
tinh phẩm nghệ thuật không hổ thẹn với nền văn hóa lâu đời của dân tộc Trung
Hoa.
Thời Tần Hán, kẻ thống trị phong kiến ra
sức hưởng lạc trong thanh sắc. Tần Thủy Hoàng tập trung hàng ngàn hàng vạn danh
ca vũ kỹ trong cung, "tiếng chuông trống ca nhạc, kéo dài không dứt"
(10). Hán Vũ đế không những thu nạp mấy ngàn cung kỹ, nữ nhạc, thường
"diễn kịch, ca múa" (11),mà vào năm 112 trước Công nguyên còn thiết
lập cơ quan Nhạc phũ chuyên trách, tập hợp hơn 800 nghệ nhân biểu diễn âm nhạc
ca múa để thỏa mãn sự hưởng thụ. Đồng thời ông còn thường tiến hành các hoạt động
biểu diễn của cung kỹ, năm 119 trước Công nguyên từng sai các cung kỹ
"dùng thuyền khắc hình rồng biểu diễn Trạc ca, dùng Cổ xuy điểm xuyết để
rong chơi trên hồ Côn Minh" (12). Đến khoảng trước sau năm 100 trước Công
nguyên, đã có loại "kỹ nữ đánh trống thổi sáo" chuyên nghiệp (13).
Thời Ngụy Tấn Nam Bắc triều, xã hội biến
động không yên, giai cấp thống trị say đắm vào ca múa tửu sắc, đó không những
là điều kiện thuận lợi cho ca cơ vũ nữ đại hiển thân thủ sáng tạo mà còn đẩy
mạnh sự dung hợp giữa nghệ thuật âm nhạc ca múa của các khu vực Nam Bắc và các
dân tộc với nhau. Tào Tháo cùng với việc cảm thán "Đối tửu đương ca, Nhân
sinh kỹ hà" (Trước rượu nên ca, Đời người bao lâu) cũng thu gom "ca
kỹ con hát bên cạnh, thường từ sáng đến tố" (14), lại đặc biệt xây dựng
đài Đồng Tước để kỹ nữ biểu diễn ca múa. Lương Vũ đế Tiêu Diễn thời Nam triều
trong hậu cung có hai bộ nữ nhạc Ngô thanh, Tây khúc, vả lại còn đích thân sáng
tác các vũ khúc Tương Dương tạp đồng đề, Thượng vân nhạc, Giang Nam lộng cho
các cung kỹ biểu diễn. Tương tự, kẻ thống trị nhà Bắc Ngụy cũng thường sai cung
kỹ biểu diễn dân ca Tiên Ty, tức các khúc điệu vẫn được gọi là Chân nhân đại ca
hoặc Bắc ca (15). Từ đó trở đi Bắc ca phổ biến, hòa vào âm nhạc của phương bắc
và phương nam, một số quý tộc vương hầu và quan lại sĩ đại phu đua nhau học
theo, như Dương Huyễn Chi thời Bắc Ngụy trong Lạc Dương già lam ký nói Cao
Dương vương Ưng có "nữ kỹ 500 người", "vào nhà thì ca cơ vũ nữ
đánh phách thổi sênh, đàn sáo nhã nhạc, từ tối đến sáng". Dưới ảnh hưởng
của phong khí ấy, cả chùa chiền Phật giáo cũng thường lợi dụng nữ nhạc làm công
cụ thu hút quần chúng, Như chùa Cảnh Nhạc ở Lạc Dương thời Bắc Ngụy,
"thường bày nữ nhạc, tiếng ca vương vấn, điệu múa dặt dìu, đàn sáo rộn rã,
đều rất thần diệu", Vương Duyệt ở Giang Nam "triệu các nhạc công, đón
kỹ nữ tới chùa, đóng giả chim lạ thú quý, nhảy múa trước đình điện, biểu diễn
biến hóa, chưa ai từng thấy, những trò ảo thuật kỳ lạ hội họp cả ở đó"
(16). Loại hoạt động này bất kể nhằm mục đích gì thì về khách quan đều có hiệu
quả là tạo ra cơ hội sáng tạo nghệ thuật cho các kỹ nữ, cổ vũ hoạt động, nâng
cao tài nghệ ca múa của họ. Đó chính là điều Đặng Khanh viết trong Phụng họa Dạ
thính kỹ thanh thi
"Kỹ nhi tề Trịnh nhạc,
Tranh nghiên học Sở yêu
Tân ca tự tác khúc,
Cựu sắt bất tu điều"
(Khoe tài nhạc Trịnh tấu,
Đua xinh gái Sở bày,
Lời hay tự soạn khúc,
Đàn cũ khỏi so dây).
Cũng vì thế mới xuất hiện những tài năng
ca múa như kỹ nữ đài Đồng Tước của Tào Tháo, gia kỹ Lục Châu của Thạch Sùng,
danh kỹ Tiền Đường Tô Tiểu Tiếu, hình thành sự phân công nghệ thuật giữa nhạc
kỹ, ca kỹ, vũ kỹ.
Thời Tùy Đường kỹ nhạc trở thành nhu cầu
hưởng thụ nghệ thuật không thể thiếu của thiên tử công khanh tới thứ dân sĩ tử,
vì thế vô cùng thịnh hành từ cung đình tới dân gian. Nội giáo phường, Nghi Xuân
viện, Lê viên trong cung và Ngoại giáo phường ở hai kinh thời Đường đều tập
trung một số lượng nhạc công, ca cơ vũ nữ lớn. Ngoài ra con em nhà quý tộc và
các nhà giàu có cũng phổ biến việc dùng gia kỹ hầu rượu giúp vui trong những
dịp ăn mừng chúc thọ và thù tiếp tân khách. Dưới phong khí xã hội ấy, thời
Đường nảy sinh một số lớn những ca kỹ kiệt xuất về ca múa âm nhạc. Sở trường về
vũ đạo có Thái Nương, Tạ A Man, Lưu Bôi Đình, Quan Miến Miến, sở trường về ca
hát có Hứa Vĩnh Tân, Niệm Nô, Trương Hồng Hồng, Đỗ Thu Nương, Mạnh Tài nhân,
Phàn Tố, sở trường về kịch nghệ có Trương Tứ Nương, Thu Nương, Lưu Thái Xuân,
sở trường về nhạc khí tỳ bà có Trịnh Trung Thừa vân vân. Những người này đối
với sự phát triển của nghệ thuật ca múa thời Đường đều có tác dụng tích cực.
Việc ca múa âm nhạc của kỹ nữ thời Tống
một mặt kế thừa thời Đường, mặt khác lại có sự đổi mới và phát triển. Từ hình
thức kết câu âm nhạc đại khái có thể chia làm bốn hình thức ca múa là Đại khúc,
Khúc phá, Triền đạt và Đơn khúc, phân công chuyên môn càng chi tiết hơn thời
Đường. Từ nhạc kỹ của giáo phường thì theo tài nghệ sở trường của mọi người có
thể chia làm mười ba bộ là Tất lật bộ, Đại cổ bộ, Trượng cổ bộ, Phách bản sắc,
Địch sắc, Tỳ bà sắc, Tranh sắc, Phương hưởng sắc, Sinh sắc, Vũ toàn sắc, Ca bản
sắc, Tạp kịch sắc, Tham quân sắc (17). Sự phân công theo chuyên môn này thúc
đẩy thêm một bước sự phát triển của nghệ thuật ca múa âm nhạc ở Trung Quốc thời
cổ, làm cơ sở vững chắc cho sự xuất hiện hình thức kịch nghệ mang tính tổng
hợp.
Thời Nguyên là giai đoạn hoàng kim của
nghệ thuật tạp kịch phồn vinh trước đó chưa từng có. Tuy sự phồn vinh của tạp
kịch thời Nguyên có nhiều lý do, nhưng rõ ràng có quan hệ chặt chẽ với trình độ
nghệ thuật cao của nghệ kỹ thời Nguyên. Đúng như Trịnh Chấn Phong tiên sinh nói
"Hoạt động của các diễn viên cũng thường chủ yếu phát triển từ kỹ thuật ký
khúc. Diễn viên là người truyền bá, phát huy tác phẩm văn học có hiệu quả nhất.
Người đọc kịch bản thì ít, chứ người xem diễn kịch thì nhiều. Thường có chuyện
quan hệ tới một vài diễn viên mà thay đổi cả sở thích và thói quen của người
xem" (18). Vào thời Nguyên, các danh kỹ nhu Châu Liêm Tú, Trại Liêm Tú,
Thuận Thời Tú, Khúc Nga Tú, Uông Linh Linh, Liên Chi Tú, Trương Ngọc Liên đều
có tài nghệ cao siêu, rõ ràng phản ảnh một cách chân thực, có sức thuyết phục
về sự phồn vinh và thành tựu của kịch nghệ thời Nguyên.
Về ca múa âm nhạc và kịch nghệ thì kỹ nữ
thời Minh càng có những thành tựu nổi bật. Như sự hưng khởi của Côn khúc trong
Nam hý cuối thời Minh, chính là lấy việc luu hành trong kỹ viện làm đại bản
doanh. Dư Hoài trong Bản Kiều tạp ký, thiên Trật sự nói "Kim Lăng là nơi
đô hội, là quê hương của Nam khúc. Lãng tử nổi trôi, văn nhân tiêu sái, lui tới
chơi bời, ngựa đi như rồng, xe kiệu nối nhau, ơ đó phong nguyệt lâu đài, chén
bầu tơ trúc, cho tới bọn Luyến đồng, khách chơi, tạp kỹ, con hát nổi tiếng đua
đẹp khoe xinh, nườm nượp kéo về. Thùy dương ngoài bóng, mảnh ngọc trong hồ, sáo
thu ngân nga, oanh xuân ríu rít. Tuy Tống Quảng Bình lòng dạ sắt đá cũng không
thể không vì mai hoa làm phú vậy. Một câu sen nở, người chịu nổi sao? Về thấy
hoa lê, ai làm được thế". Đó chính là chỗ làm người ta say mê của thanh
lâu kỹ viện, ai lại không muốn "Thưởng một hồi múa đẹp ca hay, nhìn một
lúc mặt hoa da phấn"? Từ đó chúng ta cũng có thể không khó khăn gì để hiểu
tại sao thời Minh lại nảy sinh được những ca kỹ tài sắc tuyệt vời như Đốn Văn,
Cố Mỵ, Liễu Như Thị, Đổng Tiểu Uyển, Trần Quán Viên, Lý Hương.
Kỹ nữ thời Thanh vẫn lưu hành lối sinh
hoạt truyền thống ca hát diễn kịch. Tục Bản Kiều tạp ký của Châu Tuyền cư sĩ
nói "Trước kia yến tiệc ở Hà Đình chỉ có tiểu đồng ca hát để thay đàn sáo
sênh ca. Mấy năm nay dạy dỗ con hát, phàm từ mười đến mười lăm tuổi, mặt mũi
xinh xắn, sai làm Sinh đán. Người nào cũng có sở trường, trang phục đẹp đẽ làm
cả tiệc say mê, tiền thưởng gấp mười Lê viên. Còn các danh kỹ đều sở trường về
từ khúc. Nếu không phải là kẻ tri âm gắn bó thì nhất định không khinh dị ra
hát. Như các điệu dâm dật loại Ký sinh thảo, Tiễn điện hoa là lời của đám kỹ nữ
dựa cửa mời khách hát, chứ các danh cơ thì khinh bỉ". Đương thời những tân
điệu tiểu khúc mà các kỹ nữ ca hát rất được xã hội hoan nghênh. Tục Bản Kiều
tạp ký còn ghi chép về quá trình tiểu khúc từ kỹ viện lưu hành ra xã hội
"Điệu Tú hà bao không biết ai đặt ra. Nhưng thuyền vẽ lầu xanh, nhất thời
tranh nhau coi trọng. Kế đó các kỹ nữ trẻ ở chợ búa cũng biết hát, thậm chí cả
đám phu khuân vác cũng biết hát. Lâu ngày thì người trong các kỹ viện hạng
dưới, đám ăn mày đi dọc theo phố xin ăn ai ai cũng biết hát. Thanh âm động
người tới như thế là hết mức". Từ đó có thể thấy tiểu khúc là từ kỹ viện
bắt đầu phổ biến ra xã hội thành thị.
________________________
(10) Xem thêm Thuyết uyển, quyển 20 và Sử
ký, quyển 6.
(11) Hán thư, Đông Phương Sóc truyện.
(12) Tam phụ hoàng đồ.
(13) Hậu Hán thư, quyển 72, Tế Nam An
vương Khang truyện chép con Khang là Thố, ưa thích "kỹ nữ đánh trống thổi
sáo Tống Nhuận" của Khang.
(14) Ngụy chí, Vũ đế kỷ, chú thích dẫn từ
Tào Man truyện.
(15) Cựu Đường thư, Âm nhạc chí
(16) Xem Lạc Dương già lam ký, quyển 1.
Căn cứ theo khảo chứng của các học giả thì nữ nhạc trong chùa này phần lớn là
kỹ nữ trong các nhà quý tộc tới, là vâng lệnh vào đạo. Như sau khi Cao Dương
vương Ung chết, "Các kỹ nữ bị sai làm ni cô, cũng có kẻ đi lấy chồng".
(17) Đô thành kỹ thắng, Ngõa xá chúng kỹ.
(18) Thanh đại Yên đô, Lê Viên sử tư liệu.
2. Các nghệ thuật gia trong kỹ nữ
Như trên đã nói ca múa đàn hát là tài nghề
của kỹ nữ, cũng là một trong những tài năng cơ bản của kỹ nữ, vì thế trong bọn
họ có không ít các vũ đạo gia vũ bộ xinh đẹp, kỹ thuật điêu luyện, các âm nhạc
gia sáng tác âm nhạc, tinh thông nhạc khí, cho tới nghệ thuật gia có tài năng
trên nhiều phương diện.
Toàn Quyên và Đề Mạc thời Xuân thu Chiến
quốc là hai nghệ thuật gia nhờ vũ bộ đẹp đẽ và giọng hát trong trẻo mà nổi
tiếng trên đời. Sử chép họ "Làn da trắng muốt, thân thể nhẹ nhàng, hơi thở
thơm tho, xinh đẹp yểu điệu, tuyệt cố vô luân". Đầu tiên là vũ kỹ trong
cung đình, về sau lưu lạc ra dân gian, lấy vũ đạo để sinh nhai. Họ sở trường
nhất về ba điệu múa: một là Oanh trần vũ, múa lên uyển chuyển tha thướt, như có
mây lành khói nhẹ bốc lên, xoay chuyển phấp phới, nhàn nhã nhu mỵ, bộc lộ vẻ
"thân thể nhẹ nhàng như hạt bụi". Hai là điệu Tập vũ vũ, tay áo dài
vung múa, thướt tha đẹp đẽ, vũ dạo uyển chuyển, giống hệt chiếc lông phấp phới
theo gió, nhẹ nhàng tiêu sái, phiêu dật động người, bộc lộ vẻ "uyển chuyển
như chiếc lông bay trong gió". Ba là điệu Toàn hoài vũ, trong bước chân
xoay chuyển xinh đẹp, tay áo buông thõng, thần thái tha thướt, như liễu non
cạnh hồ soi bóng xuống nước, lại như tơ tằm mỏng mảnh mềm mại, thân thể thướt
tha như bông tơ có thể ôm vào lòng bỏ vào áo, nhịp nhàng khoan thai, lãng đãng
như tiên, thể hiện vẻ "thân thể uốn éo, như rúc vào lòng" (19).
Mỹ nữ Triệu Phi Yến thân thể mềm mại kinh
người, "sắc đẹp đứng đầu hậu cung" cũng là một vũ đạo gia thân mang
tuyệt kỹ. Nàng vốn là "quan tỳ trong sảnh", tức gia kỹ, từ nhỏ đã
luyện được một kỹ thuật cao siêu nhảy múa nhẹ nhàng. Thái Thuần thời Tống trong
Triệu Phi Yến biệt truyện nói nàng "Xương hông nhỏ nhẹ, giỏi nhảy múa, nếu
có ai nắm giữ thì run lên khe khẽ, người khác không sao học được". Tương
truyền thân thể nàng nhẹ như chim én, có thể nhảy múa theo gió, phấp phới như
tiên, lại có thể đứng trên bàn tay mà múa, đứng trên mâm thủy tinh do cung nữ
bưng tiêu sái ung dung phất tay áo nhảy múa. Bấy nhiêu đủ thấy sự tinh thâm về
mặt vũ đạo của nàng, không thẹn là nhà biểu diễn nghệ thuật nhẹ nhàng đẹp đẽ,
vũ đạo tuyệt luân.
Lục Châu là vũ đạo gia ưu tú nhất thời Tây
Tấn, nàng nhờ xinh đẹp giỏi múa rất được Thạch Sùng sủng ái. Sử chép nàng giỏi
biểu diễn điệu Minh Quân vũ, đây là điệu múa nổi tiếng nhất trong nhạc Thanh
thương đương thời, diễn tả việc Vương Chiêu Quân ra ải. Trong bước chân, Lục
Châu dung hợp cả nhảy múa lẫn ca hát, dùng vũ đạo như làm duyên như oán hờn
biểu diễn sự đau khổ lo sợ và tâm lý không biết làm sao của Vương Chiêu Quân
lúc ra ải. Kỹ thuật múa của nàng rất được người sau đề cao và tán thưởng, như
Dữu Kiên Ngô nhà Lương- thời Nam triều viết trong Thạch Sùng Kim Cốc kỹ
"Lan đường thượng khách chí,
Ý tịch thanh huyền phủ,
Tự tác Minh Quân từ,
Hoàn giáo Lục Châu vũ"
(Thềm lan thượng khách tới,
Dựa chiếu đàn cầm vỗ,
Đặt ra lời Minh Quân,
Còn bảo Lục Châu múa).
Tạ A Man là một trong những vũ kỹ nổi
tiếng nhất trong cung đình thời Đường. Sử chép nàng lấy việc biểu diễn điệu
Lăng ba khúc mà nổi tiếng, trở thành vũ kỹ được Đường Huyền tông Lý Long Cơ
sủng ái nhất trong giáo phường. Theo bộ lịch sử âm nhạc Dương Thái Chân ngoại
truyện thời Tống, Đường Huyền tông từng tổ chức một cuộc biểu diễn cho riêng Tạ
A Man biểu diễn điệu Lăng ba khúc trong cung, ban nhạc phụ diễn cho nàng múa
đều là loại cao thủ hạng nhất, Đường Huyền tông đích thân đánh trống yết cổ
được gọi là "Lãnh tụ bát âm", Dương Quý Phi tay ngọc gảy đàn tỳ bà,
Ninh vương Lý Hiến thổi sáo ngọc, các nhạc công nổi tiếng Mã Tiên Kỳ, Lý Quy
Niên, Trương Đã Hồ, Hạ Hoài Trí chia nhau đánh trống, thổi khèn, đàn không hầu,
gõ phách. Với ban nhạc toàn những người biểu diễn kiệt xuất tổ chức thành ấy Tạ
A Man thướt tha nhảy múa, dùng vũ kỹ điêu luyện, vũ bộ mềm mại, vũ thái nhẹ
nhàng làm khuynh đảo tất cả mọi người ngồi xem, quả thật có thể nói là
"Lăng ba vi bộ mạt sinh trần,
Thùy kiến đương thời yểu điệu thân"
(Lăng ba khẽ bước điệu chơi vơi,
Yểu điệu hôm nay được thấy người).
Hứa Vĩnh Tân, Niệm Nô cũng là những ca kỹ
cung đình được Đường Huyền tông yêu thích. Theo sử sách ghi chép, Hứa Vĩnh Tân
không những hát hay mà còn có thể biến đổi giọng hát, mỗi lúc thu cao trăng
sáng, đài điện quang đãng, giọng ca lại thay đổi, âm thanh ngân dài. Có một lần
Đường Huyền tông mở đại yến ở lầu Cần Chánh, bày đủ các trò diễn, náo nhiệt phi
thường. Nhưng lúc hàng ngàn hàng vạn người huyên náo ca múa, âm nhạc không thể
nghe được. Đường Huyền Tống tức giận, định ra lệnh bãi yến. Lúc ấy Cao Lực Sĩ
đề nghị để Vĩnh Tân lên lầu hát để dứt tiếng ồn ào. Quả nhiên Vĩnh Tân vừa lên
tiếng hát, lập tức tất cả đều im lặng, người nghe bị tiếng hát của nàng hấp
dẫn, "người vui nghe thấy hào hứng, người buồn nghe thấy khoan khoái"
(20), biểu hiện rõ sức hấp dẫn nghệ thuật cực lớn.
Giọng hát của Niệm Nô cũng vô cùng say đắm
lòng người, tương truyền mỗi lần nàng cất tiếng hát giữa tiệc đưa mắt, thu ba
chuyển động, giọng ca nghe như phát xuất từ mây trời, chấn động sơn cốc, cho dù
là ban nhạc đủ loại nhạc khí hòa tấu cũng không thể át đi được (21).
Bốn con gái nhạc công giáo phường Nhiệm
Trí Phương cũng giỏi ca hát, nhưng phong cách đều khác nhau. "Trong đó Nhị
cô hít thở nhẹ nhàng, thu liễm hơi thừa, Tam cô dáng mạo cử chỉ hòa hoãn ôn
nhuận, người xem ý không phải ở giọng hát, Tứ cô phát âm lặng lẽ, tiếng hát như
từ trên không vang ra" (22). Đủ thấy về phương diện ca hát họ đã đạt tới
trình độ cực cao.
Trương Hồng Hồng là âm nhạc gia thân mang
tuyệt kỹ thời Đường. Nàng vốn là gia kỹ của Vi Thanh, sau nhờ tài nghệ được
triệu vào cung, được Đại tông phong làm Tài nhân, người ta gọi là "Ký khúc
nương tử". Bài đậu ký phổ pháp mà nàng sáng tạo (23) thể hiện rõ ràng
thành tựu âm nhạc cao thâm của nàng và là một cống hiến trong việc phát triển
âm nhạc thời cổ ở Trung Quốc.
Quan Miến Miến là vũ kỹ nổi tiếng ở Từ
Châu trong niên hiệu Trinh Nguyên, Nguyên Hòa (785 - 820). Theo bài Yến Tử lâu
tam thủ, Tự tự của đại thi nhân Bạch Cư Dị thời Đường, thì ông từng tới dự tiệc
trong nhà Thượng thư Trương Kiến Phong trấn thủ Từ Châu, trong tiệc Bạch Cư Dị
lần đầu gặp Quan Miến Miến và các gia kỹ biểu diễn, chỉ thấy Quan Miến Miến mặc
quần áo bằng sa hồng, như tiên nữ phiêu nhiên nhảy múa, dáng vẻ nhẹ nhàng, kỹ
thuật điêu luyện. Chợt như làn gió nhẹ thổi qua, lúc ẩn lúc hiện, chợt như pho
tượng bằng ngọc đỏ, trong tĩnh có động. Điệu Nghê thường vũ y khúc mà nàng biểu
diễn, vũ bộ khoan thai ung dung, vũ thái mềm mại uyển chuyển, phong thái phiêu
nhiêu như tiên biểu lộ được hình tượng tiên nữ trong cõi hư vô xa thẳm khiến
người ta tâm thần lãng đãng, than thở vì điệu múa đã hết. Bạch Cư Dị không kìm
được tình cảm lập tức làm thơ tặng, dùng câu
"Túy kiều thanh bất đắc,
Phong niễu mẫu đơn hoa"
(Say vẻ yêu kiều quên tiếng hát,
Chỉ hay trước gió mẫu đơn mềm)
để ca tụng nàng.
Tần Nương là ca vũ kỹ được nuôi dưỡng
trong nhà quý tộc thời Đường, vì hát hay múa giỏi nổi tiếng trên đời. Điệu Kinh
hồng vũ mà nàng biểu diễn, từng lấy sự nhẹ nhàng phiêu dật, mềm mại đẹp đẽ,
khoan thai làm khuynh đảo vô số con em quý tộc ở kinh sư. Lưu Vũ Tích trong bài
Tần Nương ca tịnh dẫn ca ngợi
"Trường mấn như vân y tự vụ,
Cẩm khuẩn la tiến thừa khinh bộ.
Vũ học Kinh hồng thủy tạ xuân,
Ca truyền thượng khách lan đường mộ"
(Bím tóc như mây áo tựa khói,
Gấm lụa theo chân bay phấp phới.
Múa học Kinh hồng điệu đẹp tươi,
Ca xong thượng khách đều khen ngợi).
Những kỹ nữ sở trường ca múa âm nhạc thời
Đường ngoài mấy người kể trên còn có cung kỹ Tiêu Luyện Sư rất giỏi Chá chi vũ,
đương thời không ai sánh được, Trương Tứ Nga trong kỹ nữ giáo phường, nhờ điệu
Đạp dao nương mà nổi tiếng trên đời, Nhan Đại Nương, Bàng Tam Nương cũng đều là
kỹ nữ múa giỏi hát hay, danh kỹ Giang Chiết Lưu Thái Xuân nhờ điệu La Hống khúc
mà nổi tiếng trong nước, cung kỹ Trịnh Trung Thừa cũng nhớ giỏi đàn tỳ bà nổi
tiếng một thời, ca kỹ Trường An Đỗ Thu Nương nhờ điệu Kim lũ y nổi tiếng một
thời, Thu Nương biểu diễn vở vũ kịch Nghĩa dương chủ mà danh chấn trong ngoài.
Sau thời Đường, âm nhạc kịch nghệ phát
triển cực điểm trong giới kỹ nữ, mà âm nhạc ca múa dần dần lui lại hàng thứ
hai. Hiện tượng này khiến các kỹ nữ giỏi việc ca múa sau thời Đường ngày càng
giảm đi, mà nhân tài biểu diễn hý khúc trong các nghệ kỹ nối nhau xuất hiện.
Uông Linh Linh là giác kỹ ở Hồ Châu thời
Nguyên, dung mạo xinh đẹp, nhờ biểu diễn vở Đậu Nga oan của Quan Hán Khanh mà
nổi tiếng, người ta gọi là Đậu Nga sống (Hoạt Đậu Nga).
Đốn Văn là ca kỹ nổi tiếng cuối thời Minh,
cháu nội của khúc sư Đốn Nhân nổi tiếng. Nàng đa tài đa nghệ, giỏi nhất là gảy
đàn ca hát. Thường biểu diễn những từ khúc do mình sáng tác, bộc lộ số phận bi
thảm của ca kỹ. Dư Hoài trong Bản Kiều tạp ký chép nàng "Cầm đàn mà gảy,
hát khúc Biệt phượng ly loan, như vượn kêu hạc oán".
Đổng Tiểu Uyên, Cố Mỵ, Lý Hương, Biện Ngọc
Kinh trong Kim Lăng bát tuyệt và Trần Viên Viên, Đỗ Thập Nương, Cao Oa đều là
ca vũ kỹ nổi tiếng thiên hạ. Như Vương Nguyệt Sinh ở chợ Ngọc Nam Kinh nhờ Ngô
ca mà nổi tiếng, Khấu Bạch Môn có thể soạn từ khúc, Sa Tài giỏi thổi tiêu họa
khúc, vân vân.
Danh kỹ đất Hộ thời Thanh Chu Tố Lan được
tôn là nghệ thuật gia Nữ đàn từ đầu tiên mở ra Thư ngụ. Vương Thao trong Tùng Tân
tỏa thoại quyển 12. Hộ thượng từ trường Trúc chi từ ca ngợi "Việc khai
sáng Thư ngụ ở đất Hộ bắt đầu từ Chu Tố Lan, về sau phong khí ấy vẫn không suy.
Đầu niên hiệu Đồng Trị, vô cùng thịnh hành". Sự phát triển bột phát của Nữ
đàn từ có tác dụng đẩy mạnh sự phồn vinh hưng thịnh của nghệ thuật đàn từ.
Vương Thao trong Doanh nhu tạp chí quvển 5 bàn tới Nữ đàn từ ở Thượng Hải nói
"Từ đời Đạo Quang Hàm Phong trở đi, bắt đầu nhường cho phụ nữ, giọng châu
dáng ngọc, ty trúc quản huyền, có thể khiến người nghe tiêu hồn". Từ sự
đánh giá rất cao của văn nhân đương thời về nghệ thuật của Chu Tố Lan như
"đứt ruột", "người nghe say mê", "đứng đầu từ
trường", chúng ta không khó tưởng tượng ra được thành tựu nghệ thuật cao
siêu trác việt của nàng.
________________________
(19) Vương Gia, Thập di ký, quyển 4.
(20) Đoàn An Tiết, Nhạc phủ tạp lục.
(21) Khai Nguyên Thiên Bảo di sự, quyển
thượng.
(22) Giáo phường ký.
(23) Nhạc phủ tạp lục, Ca.
III. Kỹ nữ với nghệ thuật thư họa
1. Kỹ nữ với nghệ thuật hội họa
Xưa nay cầm kỳ thư họa vẫn là những kỹ
năng cơ bản mà người trong kỹ viện phải nắm vững. Vì thế trên phương diện nghệ
thuật hội họa, kỹ nữ cũng thể hiện tài năng khá cao. Trong đó Tô Thúy, Nghiêm
Nhụy thời Tống, Tiết Tố Tố, Mã Thủ Chân, Phạm Ngọc thời Minh có thể làm đại
biểu.
Tô Thúy, người Kiến Ninh Phúc Kiến. Trong
niên hiệu Thuần Hựu (1241 - 1252) cung phụng ở nhạc bộ. Giỏi vẽ mặc trúc, cũng
giỏi vẽ mai lan. Dày thưa sáng nhuận, đều rất tinh tế, rất tự hào. Mỗi khi vẽ
xong một bức, ắt đề tám chữ lên đó.
Nghiêm Nhụy là doanh kỹ ở Thiên Thai thời
Tống. Chu Mật trong Tề Đông dã ngữ nói "Nghiêm Nhụy, tự Ấu Phương, giỏi
đàn cầm, cờ vây và ca múa, ty trúc thư họa, tài sắc đứng đầu một thời".
Tiết Tố Tố, tự Tố Khanh, là kỹ nữ ở kinh
sư thời Minh. Hồ Ứng Lân trong Giáp ất thặng ngôn nói "Tố Tố có thể viết
chữ tiểu khải kiểu Hoàng Đình, giỏi nhất là vẽ lan trúc, hạ bút mau lẹ, đều có
phong cách, tuy hảo thủ hay bậc danh họa cũng không thể hơn được". Tống Di
Tôn trong Bộc thư đình tập nói "Tố Tố tiểu tự Nhuận Nương, bày vai thứ
năm, người ta gọi là có mười tài, làm thơ, viết chữ, vẽ tranh, đánh đàn cầm,
đánh cờ vây, thổi tiêu, mà cưỡi ngựa, đi dây, bắn đạn lại càng là tuyệt kỹ. Tôi
từng thấy nàng vẽ tranh thủy mặc và chân dung Quan Âm đại sĩ rất khéo léo. Lúc
Đổng Thượng thư chưa thi đậu, được nàng cho chữ viết ở Hòa Trung, ông nhìn thấy
liền yêu mến, làm cho nàng bộ sách dạy bí quyết viết chữ tiểu khải, lại viết
thêm lời bạt".
Mã Thủ Chân (1548 - 1604), tự Nguyệt Kiều,
tiểu tự Huyền Nhi, hiệu Tương Lan, là danh kỹ ở Tần Hoài Nam Kinh thời Minh. Sử
chép nàng giỏi thư pháp thông văn từ, giỏi nhất là vẽ lan, nên có hiệu là Tương
Lan. Lịch đại họa sử hối truyện bình luận nói "Lan thì học theo Triệu Tử
Cố, trúc thì học lối Quản Trọng Cơ, tiêu sái đạm nhã, tự có phong cách
riêng". Nàng từng tự đề bức tranh vẽ lan như sau "Lý Thanh Liên bên
rượu trợn mắt, Trác Văn Quân trước kính tươi mày, là có ý gì, vẽ nhánh u lan
này, để lòng thưởng thức", đủ thấy gởi gấm rất nhiều vào việc vẽ lan vẽ
trúc. Uông Trung thời Thanh trong Kinh cựu uyển điếu mã thủ chân văn bàn về
tranh của nàng nói "Tôi thường xem các bức họa của nàng, lan dày trúc rậm,
mềm mại tươi đẹp, lay động ngoài nét mực, chưa từng không lúc nào không hâm mộ
tài năng, than tiếc cho mình sinh sau không kịp gặp mặt", rất đề cao tài
năng hội họa của Mã Thủ Chân. Uông Trung còn cảm thán nói "Trời sinh tài
năng như thế, ở trong đám phụ nữ, trăm năm ngàn dặm còn không hẹn được, tại sao
un đúc ra con người xinh đẹp như thế mà lại đày đọa hết mức như thế!".
Chúng hương từ đối với tài năng của Mã Thủ Chân cũng bình luận rất công bằng,
khen nàng là "Chữ viết như tơ bay liễu yếu, tha thướt say người. Từ khúc
như áo dưới bóng hoa, khói mây giăng mắc, như có như không. Mà giỏi nhất là vẽ
lan, học được chỗ tinh thâm của Triệu Ngô Hưng, Văn Đãi chiếu. Dung mạo tuy
không phải xinh đẹp nhất đời, nhưng thần thái tươi sáng, xinh đẹp kỳ lạ, so ra
nào thẹn với các danh kỹ thời cổ như Tiểu Tô, Tiết Đào, Lý Oa, Quan Miến
Miến!". Họa gia nổi tiếng Phan Thiên Thọ trong quyển Trung Quốc hội họa sử
(Lịch sử hội họa Trung Quốc) có bình phẩm về kỹ thuật hội họa của Mã Thủ Chân,
khen rằng "Tuy bậc sĩ đại phu có khi cũng có chỗ không bằng được", là
người vẽ giỏi trong "những người nổi tiếng trong nghệ thuật" thời
Minh, "Phụ nữ một thời không sao bằng được". Trước tác của Mã Thủ
Chân để lại có các bức Quần tiên cao hội họa, Lan trúc đồ, Phỏng Triệu Mạnh Kim
lan thạch đồ.
Phạm Giác, tự Song Ngọc, là kỹ nữ thời
Minh. Bản Kiều tạp ký nói "Phạm Giác tính thích sơn thủy, mô phỏng Đại Si
(Hoàng Công Vọng), Cố Bảo Chàng (Nguyên), cây lớn chen chúc, núi xa động thẳm,
trên bút mực có khí lực thiên nhiên". Được người sau khen là "Phạm
Hoa Nguyên (Khoan) trong phụ nữ".
Phạm Châu tự Chiếu Thừa, kỹ nữ Kim Lăng
thời Minh. Tục Kim Lăng tỏa sự, Vô thanh thi sử đều ghi chép nàng giỏi vẽ tranh
sơn thủy, có thể vẽ ngay trước mặt khách.
Cố Mỵ, tự Mi Sinh, Mi Trang, còn có tên là
Mi, về sau đổi thành họ Từ, tự Hoành Ba, Mai Sinh, Thiên Trì, là một trong Tần
Hoài bát tuyệt ở Kim Lăng thời Minh. Dư Hoài trong Bản Kiều tạp ký miêu tả dung
mạo nàng "Trang Mi duyên dáng phong nhã, phong độ siêu quần, tóc như làn
mây, mặt như hoa đào, bàn chân thon nhỏ, lưng ong mềm mại. Giỏi văn sử, khéo vẽ
lan, nối bước Mã Thủ Chân nhưng xinh đẹp hơn. Người đương thời tôn là đứng đầu
Nam khúc". Các bức tranh vẽ lan của nàng có thể theo ý mình, không theo
người trước, đẹp đẽ có tình, đưa người ta vào chỗ hay. Thái Vĩnh Tổ bình luận
tranh của nàng rằng "Lan như giai nhân tuyệt thế, được phu nhân diệu bút
truyền thần, ngõ hầu không phụ với danh hoa". Theo Ái nhật ngâm lư thư họa
tục lục thì Cố Mỵ có vẽ các bức Song câu lan, Phi bạch thạch, cỏ chi trúc đẹp,
cực kỳ thanh tú, lạc khoản viết "Mùa hạ năm Canh dần, vẽ ở Hồng Hà tiên
quán, Cố Mỵ". Có đóng ấn chữ nhật "Mi Sinh" chữ trắng, Lương Sơn
Chu đề rằng "Xưa nay phụ nữ vẽ tranh, thần vận có thừa nhưng hàm súc không
đủ, đây thì khác hẳn, lạc khoản cũng đẹp", coi Cố Mỵ là người tiêu biểu.
Tác phẩm của nàng lưu truyền trên đời chủ yếu có các bức Cửu uyển đồ, Mặc lan
đồ.
2. Kỹ nữ với nghệ thuật thư pháp
Trong lịch sử Trung Quốc những phụ nữ giỏi
về thư pháp nhiều không kể xiết, trong đó nổi tiếng nhất có kỹ nữ họ Mã thời
Hậu Triệu, Tiết Đào, Tào Văn Cơ thời Đường, Mã Miến, Lý Kỳ thời Tống, Lương
Viên Tú thời Nguyên, Tiết Tố Tố, Mã Thủ Chân, Biện Trại thời Minh.
Kỹ nữ họ Mã là gia kỹ của Thạch Hổ nhà Hậu
Triệu, khuyết tên. Theo Thư lâm kỹ sự chép thì nàng giỏi thư pháp, mặc áo đỏ
đội mũ đứng trên lưng ngựa lúc ngựa phi mà viết, nét chữ vẫn ngay ngắn, được
khen là Phi kỵ thư.
Tiết Đào là danh kỹ đất Thục thời Đường,
giỏi hàn mặc, về thư pháp có thành tựu riêng. Tuyên Hòa di sự thời Bắc Tống nói
"Kỹ nữ Thành Đô Tiết Đào nhờ hay thơ mà nổi tiếng trên đời, tuy sa chân
vào chỗ hèn hạ nhưng có phong thái phong nhã. Cho nên mỗi khi có một bài thơ
một trang giấy đưa ra thì người ta tranh nhau chuyền tay thưởng thức. Viết chữ
không có khí cách phụ nữ, bút lực mạnh mẽ, về chữ hành thư học được thể cách của
Vương Hy Chi, lại học thêm chỗ khác, cũng là loại người như Vệ Phu nhân. Rất
thích chép những thơ mình làm, lời lẽ công phu, ý tứ tuấn dật, thư pháp cứng
cỏi, nhờ thế nổi tiếng. Không chỉ như Công Tôn Đại Nương múa kiếm, Hoành Tứ
Nương thêu hoa nhờ Đỗ Phủ mà được lưu truyền về sau. Nay trong ngự phủ vẫn còn
lưu giữ chữ viết của nàng". Hồ Chấn Hanh thời Minh trong Đường âm quý
thiêm, Tập lục, Tuyên Hòa thư phổ chân tích nói "Bài thơ Huyên thảo của
Tiết Đào viết theo lối hành thư" Đủ thấy thư pháp của Tiết Đào được lưu
giữ trong ngự thời Tống là bài Huyên thảo viết lối hành thư.
Tào Văn Cơ là danh kỹ ở Trường An thời
Đường. Sử chép nàng lúc bốn năm tuổi đã thích văn tự, lúc mười lăm tuổi kỹ viện
dạy ca múa, nàng nói "Đó là việc của kẻ hèn ha không đáng cho tôi làm. Cứ
chuẩn bị cho tôi ao mực núi bút cho tôi có thể thỏa chí ở chỗ văn tự thì đủ
thỏa ước nguyện bình sinh rồi". Từ đó trở đi nàng chuyên học về thư pháp
tài nghệ ngày càng tiến, sau cùng có thể vung bút như rồng bay thanh tân tuấn
nhã, tự thành một thể. Nàng học theo lối Chung Diêu, Vương Hy Chi, khí độ không
kém gì bọn Nhan Chân Khanh, Liễu Công Quyền đồng thời, nhất thời có hiêu là Thư
tiên, có người làm thơ ca tụng nàng là "Ngọc hoàng điện tiền Chưởng thư
tiên” (Tiên coi viết chữ ở cung trời) (24) đủ thấy thư pháp tuyệt diệu một
thời.
Mã Miến là doanh kỹ ở Từ Châu thời Tống.
Mặc trang mạn lục nói Đông Pha làm Thái thú Từ Châu, quen biết Mã Miến, Mã Miến
học thư pháp của Đông Pha rất giống. Một hôm Đông Pha viết bài Hoành lâu phú,
chưa xong có việc phải đi, Mã Miến phỏng theo bút pháp của ông, viết thêm bốn
chữ Sơn xuyên khai hợp (Núi sông mở khép). Đông Pha về nhìn thấy cười lớn, cũng
không đổi viết bản khác, về sau bản ấy khắc lên bia đá, bốn chữ Mã Miến viết
được vĩnh viễn lưu lại về sau.
_______________________
(24) Nhiệm Sinh, Đầu Tào Văn Cơ thi.
IV. Kỹ nữ với những bộ môn khác
Ngoài văn học nghệ thuật, kỹ nữ cũng có
những cống hiến trên các phương diện văn hóa ẩm thực, khoa học kỹ thuật và thể
dục của Trung Quốc
1. Kỹ nữ với khoa học kỹ thuật
Nói tới cống hiến của kỹ nữ đối với lịch
sử khoa học kỹ thuật Trung Quốc, trước tiên chúng ta sẽ nghĩ tới Giấy hoa tiên
Tiết Đào (Tiết Đào tiên) nổi tiếng một thời trong lịch sử. Giấy hoa tiên là một
loại giấy thủ công có màu dùng cho tư nhân viết thư, làm thơ tặng đáp và viết
giấy tờ hóa đơn mua bán. Vào thời Đường có rất nhiều loại như Tùng hoa, Kim sa,
Oanh sa, Đan vân, Kim hoa, Long phượng (màu đỏ thiếp vàng). Nhưng loại giấy nổi
tiếng nhất đương thời chính là loại giấy vuông nhỏ để chép thơ do danh kỹ Tứ
Xuyên là Tiết Đào thiết kế. Nguyên liệu của Giấy Tiết Đào là vỏ cây sen, cho
bột hoa sen vào để tăng thêm độ bóng. Loại giấy này rất được các văn nhân sĩ
đại phu đương thời ưa thích, trở thành trân phẩm của nghệ lâm. Tiết Đào chính
dùng nó để tặng đáp với các đại thi nhân nổi tiếng đương thời như Nguyên Chẩn, Bạch
Cư Dị, lại tặng cho Nguyên Chẩn hơn một trăm tờ do mình tự chế, Nguyên Chẩn
viết bài Ký tặng Tiết Đào lên giấy ấy. Từ đó trở đi, hàng ngàn năm nay loại
giấy hoa tiên lấy tên là Giấy Tiết Đào vẫn không ngừng được sản xuất, mau lẹ từ
Tứ Xuyên lan truyền rộng ra các địa phương trên toàn quốc.
Trên phương diện dệt vải thêu thùa, kỹ nữ
cũng thể hiện tài nghệ siêu tuyệt của mình. Như gia kỹ Trương Tĩnh Uyển của
Dương Khản nhà Lương thời Nam triều dệt gấm hoa văn cực đẹp, nàng có thoi vàng,
nhíp ngọc, còn có xa Ưu quỹ đều là bảo vật hiếm có ở nhân gian (25). Gia kỹ
Hoàn Phong của Thạch Sùng, vì bị chủ nhân bỏ rơi, bèn dệt một tấm chăn có hình
con dế rét dâng Thạch Sùng (26)
________________________
(25), (26) Long Phụ, Nữ hồng dư chí.
2. Kỹ nữ với tạp kỹ ảo thuật
Tạp kỹ ảo thuật phong phú ở Trung Quốc đã
có lịch sử lâu dài và truyền thống tốt đẹp. Trên phương diện này, các kỹ nữ
cũng có cống hiến của mình.
Từ ghi chép trong Liệt nữ truyện của Lưu
Hướng "Vua Kiệt nhà Hạ đã bỏ lễ nghi, tìm bọn con hát làm hề, để diễn
những trò kỳ lạ" mà nhìn, có thể ngay từ thời Hạ cách nay trên dưới năm
ngàn năm, các kỹ nữ đã bắt đầu có những tiết mục tạp kỹ để giải trí.
Đến thời Tần Hán, hoạt động biểu diễn tạp
kỹ của kỹ nữ đã trở nên phong phú, từ yến tiệc trong cung đình tới tiệc tùng
của sĩ dân đều có thể thấy bóng dáng của họ. Sử ký, Lý Tư liệt truyện chép Tần
Nhị thế Hồ Hợi ở cung Cam Tuyền xem hát xướng và đấu sừng, cả Tể tướng Lý Tư
tới cũng không thèm tiếp, đến nỗi sử gia Ban Cố phải buông lời cảm thán như sau
"Lễ pháp của tiên vương mất hết vì dâm nhạc" (27). Tình hình này đến thời
Hán còn quá hơn, Hán Vũ cố sự chép Hán Vũ đế thích "âm nhạc tứ di, pha
thêm ảo thuật". Năm Nguyên Phong thứ 3 (108 trước Công nguyên) ông từng cử
hành một buổi biểu diễn tạp kỹ to lớn chưa từng có trong lịch sử để chiêu đãi
sứ thần các nước Tây Vực. Trong tiệc, một số kỹ nữ giỏi ảo thuật biểu diễn các
tiết mục đẹp đẽ mà hùng tráng (28). Không chỉ trong cung đình mà loại tạp kỹ ảo
thuật này cũng trở thành một tiết mục giải trí không thể thiếu trong sinh hoạt
của các đại quan quý tộc, cường hào địa chủ, phú thương nhà giàu. Ngự sử đại
phu Tang Hoằng Dương nói "Phàm dân thường có khách cũng có đám con hát làm
trò ảo thuật biểu diễn làm vui, huống hồ quan huyện sao?" (29). Thậm chí
cả trong lúc ma chay cũng có "ca múa con hát, khôi hài ảo thuật"
(30).
Đi dây (Tẩu sách) là một hạng mục tạp kỹ
mà các kỹ nữ thời Hán rất sở trường, đương thời còn gọi là Đạp sách, Hý thằng,
Cao hằng, Vũ hằng, cũng như trò đi dây trong tạp kỹ ngày nay. Hậu Hán thư, Lễ
nghi chí do Lưu Chiêu chú dẫn lại Hán nghi của Thái Chí nói "Lấy hai sợi
dây lớn buộc giữa hai cái cột, cách nhau vài trượng, hai kỹ nữ đối diện với
nhau nhảy múa, đi trên sợi dây, tới chỗ gặp nhau, vai vẫn không nghiêng, lại
đạp xuống nhảy lên, náu thân trong cái thùng", thể hiện rõ kỹ xảo cao siêu
nhàn nhã của kỹ nữ đi trên dây. Việc đi dây của thằng kỹ thời Hán, ngoài những
ghi chép trong sách vở cũng được tái hiện trong những bức họa trên đá. Như bức
tranh đá phát hiện trong mộ thời Hán ở Tế Nam Sơn Đông có vẽ cảnh thằng kỹ biểu
diễn di dây: hai kỹ nữ tay cầm sào múa mỗi người từ một đầu dây đi tới, ở giữa
còn có một kỹ nữ treo người trên dây, dưới dây có bốn lưỡi đao nhọn cắm ngược
chĩa lên, mũi đao chĩa vào giữa sợi dây, khiến người ta càng cảm thấy nguy
hiểm, phản ảnh truyền thống ưu tú ổn, hiểm, mỹ, chuẩn (vững chắc, nguy hiểm,
đẹp đẽ, chính xác) trong kỹ thuật tạp kỹ của Trung Quốc.
Kỹ thuật tạp kỹ của kỹ nữ thời Đường càng
đạt tới mức lư hỏa thuần thanh. Lấy việc đi dây làm ví dụ, thằng kỹ thời Đường
biểu diễn đi dây không những đi lại thoải mái, mà còn có thể nhảy tung lên,
chồng người tới ba bốn tầng trên dây, trong sự nguy hiểm lại thêm sự nguy hiểm,
làm người ta khiếp sợ. Vương Đảng trong Đường ngữ lâm chép "Ngày 5 tháng 8
năm Khai Nguyên thứ 24 đời Minh Hoàng cho thằng kỹ biểu diễn trong ngự lâu. Người
biểu diễn trước tiên kéo dây dài, hai đầu buộc dưới đất, chôn ròng rọc để buộc,
trong ròng rọc có trụ đứng nhô lên mấy trượng, buộc dây qua thẳng như dây đàn.
Sau đó kỹ nữ từ đầu dây nhảy nhót đi lên qua lại mau lẹ, nhìn như tiên bay. Có
khi giữa đường gặp nhau, nghiêng người tránh qua, có khi lê hài mà đi, ung dung
ngẩng lên cúi xuống, có khi cầm gậy gần tới ống chân, dài sáu tấc, có khi đạp
vai đạp đầu nhau chồng lên tới ba bốn tầng, kế đó lật người rơi thẳng xuống,
chạm dây lại đứng, không hề sẩy chân rơi xuống, đều theo đúng tiếng trống làm
nhịp, rất là đẹp đẽ. Thi nhân Trương Sở Kim thời Đường trong bài Lâu hạ quan
thằng kỹ phú cũng ghi lại một cách sinh động như sau "...Hoành cắng bách
xích, Cao huyền sổ trượng, Hạ khúc như câu, Trưng bình tự chưởng. Sơ xước chước
nhi tà tiến, Cánh bàn san nhi trực thượng... Yểu điệu tương ngộ, Thiên thiên
khước bộ..." (...Giăng ngang trăm thước, Treo cao mấy trượng, Dưới như móc
cong, Giữa tựa mặt phẳng. Lúc đầu tha thướt đi lên, Kế đó lắc lư thẳng vượt...
Yểu điệu gặp gỡ, Nghiêng nghiêng lại bước), ở đây các thằng kỹ biểu diễn trên
dây cao, quả có thể nói là tinh mỹ tuyệt luân, nguy hiểm vô cùng, khiến mọi
người ai cũng tấm tắc khen ngợi. Lưu Ngôn Sử thời Đường trong Quan thằng kỹ thi
viết
"Thái lăng di nhạc hà tối trân?
Thái thằng nhiễm nhiễm thị tiên nhân.
Quảng trường Hàn thực phong nhật hảo,
Bách phu phạt cổ cẩm kiên tân.
Ngân họa thanh quyến phù vân phát,
Cao xứ ỷ la hương cánh thiết.
Thùy kiên tiếp lập tam tứ tằng,
Trứ lý bối hành nhưng ứng tiết.
Lưỡng biên vi hiểm tạm tương nghênh,
Trắc thân dao bộ hà khinh doanh.
Nột nhiên dục lạc khước thu đắc,
Vạn nhân nhục thượng hàn mao sinh.
Nguy cơ hiểm thế vô bất hữu,
Trắc quải tiêm yêu học thùy liễu.
Hạ lai nhất nhất phù dung tư,
Phấn bạc điền hy thái chuyển kỳ.
Tọa trung hoàn hữu triêm cân giả,
Tằng kiến tiên hoàng sơ giáo thì"
(Thái lăng di nhạc mục gì hay?
Dây màu lên xuống tựa tiên bay.
Hàn thực quảng trường phong cảnh đẹp,
Trăm người khua trống gấm quàng vai.
Loang loáng dây xanh mây nổi tiếp,
Gấm lụa trên cao càng thơm phức.
Chồng vai liên tiếp ba bốn tầng,
Mang hài giật lùi vẫn đúng nhịp.
Hai bên nguy hiểm cứ chông chênh,
Nghiêng người cất bước sao nhẹ tênh.
Chợt như muốn ngã lại đứng vững,
Da gà rợn rợn vạn người xem.
Thế hiểm cơ nguy gì cũng có,
Nghiêng uốn lưng ong học liễu rủ.
Xuống rồi thảy thảy áo sen bày;
Phấn mỏng hoa thưa rất lạ kỳ.
Người xem có kẻ còn sa lệ,
Từng thấy tiên hoàng dạy trước đây).
Đủ thấy tài nghệ siêu tuyệt của kỹ nữ đi
dây.
Sau thời Đường, các kỹ nữ vẫn phát triển
nghề tạp kỹ, làm nên những giá trị mới trong kho tàng sáng tạo của văn hóa
Trung Hoa, đó là điều chúng ta phải khẳng định.
_______________________
(27) Hán thư, Hình pháp chí.
(28) Sử ký, Đại Uyển liệt truyện và Hán
thư, Tây Vực truyện.
(29) Diêm thiết luận, Sùng lễ thiên.
(30) Diêm thiết luận, Tán bất túc thiên
3. Kỹ nữ với hoạt động thể dục
Thể dục là một bộ phận cấu thành văn hóa truyền thống Trung Quốc, về mặt này, kỹ nữ trong các môn cờ vây, đá cầu, thu thiên, song lục, võ thuật đều có những biểu hiện hơn người.
Lấy cờ vây làm ví dụ, trong kỹ nữ các đời không ít người giỏi môn này. Hiện sao chép các tài liệu có liên quan ra dưới đây:
Thái Bình thanh thoại chép Tiền Đường là hành đô của nhà Tống, trai gái đều dua mỵ, gọi là kiêu dân. Lúc Tư Lăng lên ngôi Thái thượng hoàng, Hiếu tông chúc thọ Thái thượng hoàng, nhất thời những người ứng chế trước mặt đều là phụ nữ. Về cờ có Thẩm Cô Cô nổi tiếng một thời.
Tề Đông dã ngữ chép Nghiêm Nhụy ở Thiên Thai tự Ấu Phương, giỏi đàn và cờ vây, ca múa đàn sáo thư họa, tài sắc đứng đầu một thời.
Hướng Tử Yên trong Tửu biên từ viết Triệu Tổng Linh có thể đánh cờ chia trà, viết chữ đánh đàn, đưa quạt xin Hương Lâm Hướng Tử Yên viết cho bài từ. Tử Yên đùa tặng bài Cán sa khê
"Diễm Triệu khuynh Yên hoa lý tiên,
Ô ty lan tả Vĩnh Hòa niên,
Hữu thời gián lộng tĩnh tâm huyền.
Dánh uyển phân vân vi túy hậu,
Văn thu tà ỷ kết hoàn thiên
Phong lưu mô dạng tổng kham liên"
(Yên Triệu người tiên nhất giáo phường,
Vĩnh Hòa tranh chữ nét còn hương,
Có khi nắn phím dạo cung đàn.
Ngơ ngẩn chén trà sau cuộc rượu
Gốc cây ngồi dựa tóc nghiêng buông,
Phong lưu dáng vẻ thấy là thương).
Thức tiểu lục chép kỹ nữ đất Ngô Lương Chiêu tư Đạo Chiêu, nhờ hát hay mà nổi tiếng. Là người phong nhã đúng mực, dáng vẻ như tiên, đàn hay cờ giỏi, viết chữ tiểu khải có bút pháp của Đông Phương Tán trên bia Tào Nga.
Triều Gia phong nguyệt ký chép "Diễm Muội không biết họ gì, có người nói là em Bộc Tiểu cô. Dung mạo xinh đẹp, cử chỉ nhàn nhã, rất có phong thái của Tiểu Cô. Thẩm Tĩnh Thường người đất Chiết từng tặng thơ rằng:
"Lan thang thí bãi ỷ tân trang,
Hồi ức Vu Sơn kỹ đoạn trường,
Bảo thụ tự quy san võng hậu,
Nhất chi hồng diễm độc ngưng hương"
(Tắm gội vừa xong lại điểm trang,
Đau lòng nhớ lại chuyện Vu Sơn,
Từ khi cây quý về trong núi,
Một nhánh hoa hồng tự giữ hương).
Bình sinh không biết đàn hát, rất thích đánh cờ. Khách tới thuyền nếu có ai giỏi cờ vây, nàng sẽ lập tức pha trà bày cuộc, suốt ngày không mỏi. Tĩnh Thường khuyên nàng thoát tịch, Muội im lặng, Thường đề thơ lên bàn cờ gửi nàng rằng:
"Tàn kỳ nhất cục phí tư lường (lượng),
Tiểu kiếp tần kinh vị tán trường.
Khốn đáo cai tâm tài hồi thủ,
Mãn bình hoa ảnh dĩ tà dương"
(Cờ tàn một cuộc uổng lo lường,
Nạn nhỏ nhiều phen chửa chán chường.
Đến lúc khốn cùng rồi ngoảnh lại,
Bóng hoa trong chậu đã tà dương).
Muội được thơ rơi nước mắt, nói: Tĩnh Thường quả tình yêu thương ta, xin kính cẩn vâng theo, không phụ lời dạy. Nhưng kẻ đồng tâm khó gặp, đến nay vẫn còn trong khúc viện".
Ngô Môn họa phảng lục chép Thịnh Uyển Hương bày vai thứ nhất, ở trong thành. Người gầy nhỏ xinh xắn, giỏi ca từ biết đánh cờ, sống trong khúc viện hèn hạ, nệm sạch rèm thưa kẻ lui tới phần lớn là bậc danh sĩ.
Ngô Môn họa phảng tục lục chép Thạch Tiểu Mật, bày vai thứ tư, vốn ở lầu Thúy Vũ trong ngõ Vĩnh Ninh, tên Muội. Xinh đẹp dịu dàng, cổ cao mặt đẹp, lưng thon tóc dài, người thấy dung mạo đều tiếc là không có ngòi bút tuyệt diệu của Trần Tư để tả lại. Giỏi đánh đàn làm thơ, kiêm giỏi cờ vây, cho tới thuật mồm Thương chính, thảy đều hơn người, không hề khoe tài.
Tú Cầm ở Kim Lãng, học cờ vây với Am Định Am ở Thi Chiếu. Di phổ của Định Am có ghi lại các thế cờ Thập nhất tử, Thụ cửu tử của Tú cầm. Có người nói Tú Cầm vốn họ Trương, hiệu Phương Lâm, bày vai thứ hai, là bậc thượng thừa trong cả Nam khúc Bắc khúc.
Hải tưu dả du lục chép Thái Vận Khanh quen biết nhiều danh sĩ, Thái Thứ Du, Diêu Mai Bá đều cho là xinh đẹp. Vận Khanh người dong dỏng cao, giỏi cờ vây, thạo đàn cầm, trà kinh tửu phổ không gì không thông hiểu.
Về phương diện đá cầu, thì danh kỹ Nhiếp Đàn Hương thời Nguyên có thể làm đại biểu. Thuyết tập, Thanh lâu tập nói nàng "Đá cầu trong dinh quan, đời khen là đứng đầu" đủ thấv nàng có tài nghệ đá cầu cao siêu.
Không có nhận xét nào:
Đăng nhận xét