Thứ Năm, 1 tháng 12, 2016

Lịch sử kỹ nữ _ Chương 5

Chương 5. Gió trăng kỹ viện

I. Bí quyết tiếp khách của kỹ nữ

1. Kiều mỵ

Bí quyết tiếp khách của kỹ nữ hoàn toàn nằm trong một chữ mỵ. Cái gọi là mỵ là chỉ việc kỹ nữ có ý làm cho khách ưa thích, lấy lòng, chiều chuộng khách chơi. Lý Ngư trong Nhàn tình ngẫu ký nói "Xưa có câu: Vưu vật đủ có thể làm động lòng người ta. Vưu vật là gì? Chính là dáng vẻ kiều mỵ... Dáng vẻ kiều mỵ ở con người cũng như lửa có ảnh lửa, đèn có ánh sáng, châu ngọc vàng bạc có sắc lóng lánh, là vật vô hình, không phải vật hữu hình... Phụ nữ một khi đã có dáng vẻ kiều mỵ thì đẹp ba bốn phần cũng thành sáu bảy phần, ví dụ người có sáu bảy phần sắc đẹp mà không có dáng vẻ kiều mỵ đứng cạnh người có ba bốn phần sắc đẹp mà có dáng vẻ kiều mỵ, thì người ta sẽ yêu thích kẻ có ba bốn phần chứ không phải có sáu bảy phần, đó là mức độ kiều mỵ làm tăng không chỉ gấp đôi gấp ba nhan sắc vậy".

Thuật kiều mỵ của kỹ nữ thể hiện qua tư thế thân thể, nét cười giọng nói, trong đó nhãn thần là quan trọng nhất, phải có công lực thu ba một chuyển là nhiếp phách câu hồn. "Bất kể nhìn người nào ngó vật gì cũng đều phải lim dim mắt cười khẽ. Việc câu hồn nhiếp phách đều ở lúc làn thu ba một phen chuyển động ấy... Tới như một cái cau mày một nụ cười mỉm, một lời nói một cử động cũng đều phải có ý đưa vào chữ my, không hề để lộ bản tướng, thì đã có tất cả tài năng của kỹ nữ" (1). Từ Nữ hồng dư chí của Long Phụ thời Nguyên có thể thấy, gia kỹ Sủng Thư của Lý Hiến đời Đường Huyền tông đã sở trường việc nhãn ngữ (tỏ lời bằng ánh mắt) mỗi khi đôi mắt xinh đẹp của nàng chuyển động là Ninh vương Lý Hiến lập tức hiểu ý.

Việc huấn luyện nhãn thần cho kỹ nữ, tất cả đều đo chủ chứa giàu kinh nghiệm và kỹ nữ già đảm trách. Cách thức là sai các kỹ nữ trẻ một mình đứng ngồi trước gương trước tiên nghiên cứu nhãn thần nhìn từ phía chính diện làm sao cho tới lúc hai tròng mắt tròn chuyển động linh hoạt tùy ý mới thôi. Sau đó lại nghiên cứu dáng vẻ đôi mắt từ phía hai bên, liếc qua liếc lại, cùng người trong gương bốn mắt chuyển động, liếc nhìn lẫn nhau. Chủ chứa bên cạnh thỉnh thoảng chỉ điểm, dạy những kỹ thuật dùng ánh mắt tỏ ý, lấy khóe mắt đưa tình, đến khi nào kỹ nữ nhỏ đã đạt tới mức vận dụng như ý mới thôi.

Nói chung kỹ nữ đều phải giỏi thuật ấy, còn các danh kỹ vận dụng lại càng như ý, xuất thần nhập hóa. Như Lục dã tiên tông hồi 43 miêu tả kỹ nữ Kim Chung Nhi "Chỉ thấy Như Ngọc thiếu niên anh tuấn, cử chỉ phong lưu, lại là công tử đại gia, trong lòng chợt thấy rung động, trong mắt ngầm dùng rất nhiều lối ràng buộc". Mà Tục Hải thượng phồn hoa mộng tập 1 hồi 5 miêu tả lúc khách chơi Ổn Như Ngọc ngủ đêm lại với kỹ nữ Thanh Linh, là khéo léo sinh động miêu tả việc kỹ nữ vận dụng mỵ nhãn:

"Lúc ấy Như Ngọc tuy đã hơi say, vì sợ ngày mai cha khiển trách, quyết ý nhất định về nhà nhưng Thanh Linh ngàn phương chiều chuộng, vạn cách lấy lòng, nắm chặt tay Nhu Ngọc, nhất định không buông. Dần dần đã đến nửa đêm... Như Ngọc cũng xiêu lòng, nói thật việc mình sợ cha mẹ quản thúc cho nàng biết. Thanh Linh cười nói "Chàng sợ cha mẹ quản thúc, có thể nói là có hiếu. Nhưng cha mẹ quản thúc chàng, chứ đâu phải là bắn bỏ? Hôm nay vốn mưa suốt ngày, đến tối vẫn chưa tạnh, chàng không tiện về nhà ban đêm, thì ngủ lại nhà bạn bè cũng không hề gì. Sáng mai cha mẹ có hỏi tới, chỉ cần nói là lúc tối mắc mưa, ngủ lại ở nhà bạn bè, cha mẹ cũng không thể ở liền sau lưng chàng, cứ tùy tiện bịa đặt một hai câu cũng không bị Thiên lôi đánh chết đâu". Nói xong lại đưa đôi mắt nhiếp phách câu hồn liếc Như Ngọc một cái. Lời tục có câu Nhãn phong tối độc (Gió mắt rất độc), Như Ngọc không nhìn thấy còn khá, chứ nhìn thấy rồi thì chân tay bủn rủn, lúc ấy bị nàng giữ lại, đêm ấy ngủ lại trong phòng Thanh Linh".

Thuật kiều mỵ của kỹ nữ ngoài nhãn thần ra thì dáng vẻ lúc đi, lúc ngồi, lúc đứng, lúc ngủ, lúc cười, lúc giận cũng rất quan trọng. Như Tây sương ký màn 1 viết "Ngươi thấy cô ta như đào lý gặp gió xuân vươn ra ngoài tường, nhưng thật ra là gái dựa cửa". Bách hoa đình màn 1 viết "Cô gái mà ngươi nhìn thấy làm ra vẻ lẳng lơ, nhất định là một Nao nhi bán xuân". Tất cả đều nói kỹ nữ làm ra vẻ kiều mỵ để dẫn dụ khách chơi.

Dáng vẻ kiều mỵ của kỹ nữ là một loại động tác có tính khêu gợi. Một cái nháy mắt, một nụ cười mỉm, một cái chau mày, một bước chân đi cũng đều mang dáng vẻ dương liễu lưng thon, hoa lê mặt ngọc, càng hiện rõ vẻ nhu tình như nước, kiều mỵ như xuân, có thể khiến khách chơi hồn xiêu phách lạc, lửa dục hừng thêm. Cửu vĩ quy hồi 30 miêu tả dáng vẻ kiều mỵ của danh kỹ Lục Uyển Hương đất Hộ như sau:

"Thu Cốc thấy nàng vô cùng kiều mỵ, lại liên tiếp gọi hai tiếng, Uyển Hương mới đứng lên, thong thả nhẹ cất gót sen, uốn tấm lưng ong, thướt thướt tha tha từng bước từng bước bước tới cạnh Thu Cốc, giống như chuồn chuồn điểm nước, lá sen theo gió, tấm thân mảnh dẻ nhẹ nhàng, bàn chân nhỏ nhắn rón rén, hơn cả Phi Yến nhà Hán, Lăng Ba Lạc Phố. Khiến người trong cả tiệc nhìn thấy ngẩn người, bất giác đều cùng hắng giọng một tiếng".

Trong kỹ nữ Trung Quốc thời cận đại, người sử dụng mỵ thuật nổi tiếng nhất phải suy tôn danh kỹ Lâm Mặc Ngọc ở Thượng Hải. Tiểu thuyết Hội họa cửu vĩ hồ miêu tả "Đúng là vưu vật trời sinh, dáng vẻ xinh xắn phong lưu, thướt tha uyển chuyển, mặt như trái đào, lưng như cây liễu, các chị em ít ai sánh được. Vả lại ứng thù chu đáo, trò chuyện lưu loát, có dáng vẻ kiều mỵ tự nhiên, từ đầu tới chân không chỗ nào không kiều mỵ, bất kể nói một câu làm một việc, đi một bước không chỗ nào không có công phu nhu mỵ. Cho nên kỹ nữ một thời có ai bằng đâu? Có thể gọi là đỉnh cao trong kỹ viện, đứng đầu chốn Bắc lý". Nàng để lừa lấy số tiền lớn của phú thương Dương Tứ, "Việc gì cũng lấy lòng Dương Tứ, muốn dài là dài, muốn ngắn là ngắn, không chỗ nào không hợp ý. Vả lại trước mặt Dương Tứ còn làm ra vẻ đoan trang, ngôn ngữ cẩn trọng, tính cách ôn nhu, cử chỉ e ấp, rất có phong thái đại gia. Tuy quen biết thân thiết hai ba tháng cũng không nhìn ra chỗ nào sơ hở, phảng phất như một lòng một dạ nhất định lấy y. Đến mấy hôm cuối, cả đường sai cũng không muốn đi, sớm chiều bồi tiếp Dương Tứ chơi bời, một bước không rời... Bằng vào kiến thức rộng rãi, kinh nghiệm lịch duyệt như Dương Tứ nhà ông rốt lại cũng khó mà không mắc câu, cho rằng kỹ nữ trong thiên hạ có tình có nghĩa như thế ngoài Lâm Mặc Ngọc ra chỉ e không tìm được người thứ hai, vì vậy quyết ý cưới nàng, có điều vẫn chưa nói ra miệng". Từ đó có thể thấy mỵ thuật của Lâm Mặc Ngọc đã cực kỳ cao minh lợi hại.

Cửu vĩ quy hồi 19 miêu tả mỵ thuật của Kim Tiểu Ngọc, cũng hoàn toàn không thua kém Lâm Mặc Ngọc:

"Giấy gọi cuộc phát đi chưa đầy một khắc, người đi gọi cuộc vẫn chưa quay lại, Kim Tiểu Ngọc đã thoăn thoắt bước vào, bước qua cửa phòng, mùi hương đã tới, mấy bước đi ấy dồn cả sức nặng của toàn thân lên, bước chân cực kỳ vững vàng. Đi tới sau lưng Xuân Thụ mới đứng lại, cảm thấy như có hơi thở gấp, một tay vuốt tóc, một tay đặt lên lưng ghế, ngước cặp mắt lên, nhìn qua tất cả khách khứa một vòng. Mọi người cảm thấy đôi mắt xinh đẹp của Kim Tiểu Ngọc sáng như trăng thu như ánh ngọc lóe lên, vừa nhìn vừa liếc, đẹp đẽ phi thường. Lúc ấy Tiểu Ngọc vẻ mặt tươi cười, nhất nhất chào hỏi, lại trò chuyện với Thu Cốc mấy câu rồi mới ngồi xuống, lại quay qua Xuân Thụ, cúi đầu cười khẽ. Xuân Thụ cả mừng, đang định muốn nói chuyện với nàng, Tiểu Ngọc đã quay đầu đi làm như không biết, chỉ cúi đầu nghịch nghịch chiếc khăn tay lại thỉnh thoảng liếc liếc mắt nhìn, ngấm ngầm quan sát. Ánh mắt của mọi người trong tiệc đều dồn cả vào nàng, thầm khen ngợi công phu của Tiểu Ngọc đúng là giăng lưới tám bề, tràn ngập khắp chốn!"
_______________________

(1) Giang Ấm Hương, Hội họa Cửu vĩ hồ, hồi 21.


2. Sen vàng thơm ngát

Bàn chân của loài người đều có một chức năng tự nhiên, loại chức năng ấy đã phản ảnh đầy đủ ở phụ nữ Trung Quốc trong lịch sử, đóng một vai trò quan trọng trong đời sống của họ.

Mọi người đều biết, trong lịch sử Trung Quốc có truyền thống phụ nữ bó chân, lại lưu hành đã hơn ngàn năm. Gọi cái đẹp là Liên hoa cước (Sen vàng) hay Bách hợp cước. Người xưa cho rằng bàn chân nhỏ của phụ nữ là bộ phận nhạy cảm nhất, khêu gợi nhất trong toàn bộ cơ thể phụ nữ, nó phản ảnh nhân cách của một phụ nữ, là tiêu chí của sự ưu nhã, đoan trang trinh thục, có giáo dục hay thậm chí cả có tài trí, vì vậy trong lãnh vực xã hội hay lãnh vực tình dục địa vị của phụ nữ có bó chân và không có bó chân khác nhau rất xa.

Kỹ nữ Diểu Nương là người đầu tiên bó chân trong lịch sử Trung Quốc. Vì bó chân rất có thể đại biểu cho nữ tính, rất có mỵ lực, nên từ sau khi Diểu Nương phát minh ra nó đã thu hút sự hâm mộ rất phổ biến trong phụ nữ, mà các kỹ nữ lại càng đua nhau làm theo, hy vọng lấy đó để hấp dẫn khách chơi, thỏa mãn sự ham thích của khách chơi. Nghệ lâm phạt sơn thời Tống nói "Lời ngạn nói bàn chân người Hàng Châu, đều là kỹ nữ, mang tất hẹp đi hài mũi cong như con gái nhà lành". Đó chính là chứng cứ rõ ràng nhất. Các kỹ nữ sau đó cũng không ai không lấy ba tấc sen vàng để hiến mỵ cho khách chơi. Ví dụ trang sức trên chân của kỹ nữ trong hai thời Minh Thanh: Cố Mỵ, chân đi hài cong, lưng ong mềm mại. Trương Nguyên Thanh lúc còn trẻ lưng ong bước nhẹ, cũng tự thoăn thoắt, người ta gọi là Trương Tiểu cước (2). Vương Tiểu Hành bím tóc nhỏ nhỏ, búi tóc thướt tha. Dương Đa Tử eo nhỏ sáu tấc, mặt tươi rờ rỡ. Tào Phượng Phẩm giọng hát ngân nga, bước chân uyển chuyển. Tưởng Ngọc Trân toàn thân đẹp đẽ, nhất là đôi hài song câu dưới gấu quần. Vương Tụ Vân lưng thon bước khẽ, quần là loáng gương (3). Từ Nhị mặt hoa da tuyết, vóc dáng đẫy đà, nhưng đôi bàn chân dưới quần thì nhỏ không đầy một nắm tay. Quách Tâm Nhi vui vẻ mà dịu dàng, đầy đặn mà nhanh nhẹn, da trắng bàn chân nhỏ, ấm áp như ngọc. Thi Tứ môi nhỏ như quả anh đào, đôi bàn chân nhỏ như bím tóc. Mã Tứ mắt sáng khéo liếc, da như mỡ đông, duy hai bàn chân không nhỏ lắm, thường mang hài vuông nhỏ (tục gọi là Đà hài) để ngụy trang, che giấu chỗ xấu nhỏ. Kim Nhị mày thanh mắt sáng, chân nhỏ lưng mềm, dáng đi ẻo lả (4). Tiểu Hưng Hoa họ Lý, sáng đẹp vào hạng trung thượng, thịt nhiều xương ít, để tóc xõa, bàn chân dài không đầy ba tấc, dáng đi thướt tha như bước trong mây (5). Từ những ví dụ trên, chúng ta có thể nhìn thấy rõ ràng từ thời Tống trở đi tâm lý của phụ nữ đều lấy việc "Sen vàng nhỏ nhọn" làm vật trang sức duy nhất, họ hy vọng dựa vào đó để lấy được sự mến mộ của khách.

Không những tâm lý kỹ nữ như thế mà tâm lý của khách chơi cũng lấy ba tấc sen vàng làm tiêu chuẩn thẩm mỹ duy nhất. Nếu bàn chân kỹ nữ hơi lớn thì họ lấy thơ văn để chọc ghẹo. Như ca kỹ Mã Tương Lan ở Kim Lăng thời Minh "Bàn chân không nhỏ mấy", nên Lục Vô Song ở Giang Đô làm thơ đùa rằng

"Cát hoa ốc giác hưởng xuân cưu,
Trầm thủy hương tàn lại hạ lâu,
Tiễn đắc thạch lưu tân dạng tử,
Bất giao nhân tự ngọc song câu"

(Phòng hoa góc vẳng tiếng chim cưu,
Nước chảy hương phai dựa dưới lầu,
Thạch lựu kiểu quần theo lối mới,
Không cho người thấy cặp song câu) (6).

Từ đó có thể thấy, khách chơi ưa thích kỹ nữ bàn chân nhỏ, đúng là có thể nói say mê thành nghiện! Vậy kỹ nữ làm sao dùng đôi bàn chân xinh đẹp của mình mà gợi tình khách chơi? Về điều này tác phẩm nổi tiếng về thanh lâu là Cửu vĩ quy hồi 18 Thiết cơ quan lãng manh truyền điện báo, Mại phong tình danh kỹ phỏng Tiêu lang (Bày cơ quan lưu manh gởi điện báo, Bán phong tình danh kỹ viếng Tiêu lang) có một đoạn miêu tả khá tường tận tỉ mỉ, xin dẫn ra dưới đây:

''Thu Cốc cũng khiêm nhượng vài câu rồi theo đó ngồi xuống, lúc đưa mắt nhìn, chỉ thấy Song Lâm ăn mặc vô cùng tề chỉnh, lông mày vẽ xanh, làn môi son đỏ, đầy vẻ kiều mỵ, châu ngọc sáng ngời, mặc một chiếc áo sa màu huyền sắc, một chiếc quần lụa màu thanh thiên, nhưng ống quần nhấc cao cao, lộ ra một đôi bàn chân nhỏ nhỏ nhọn nhọn, song kiều đúng là có dáng, một đôi ngọc mịn thu hồn, bước chân đạp đất không nghe, đôi đóa sen thu thấp thoáng. Thu Cốc thấy nàng trang điếm như thế, đã cảm thấy tâm đãng thần dao, không thể tự chủ, nghĩ thầm "Chẳng trách gì cô ta gặp khách lại không mặc quần, cố ý đem bán một đôi sen vàng của mình". Lại nhìn lên mặt Song Lâm chỉ thấy nàng ngập ngừng định nói, chỉ cười nụ để gởi tình, rón rén liếc nhìn, muốn trao lời mà chẳng dám. Đôi mắt đẹp nhìn chằm chằm vào Thu Cốc, hồi lâu không nói. Thu Cốc lúc ấy nhìn thấy tình trạng Song Lâm, không kiềm được lửa lòng bốc cao, bèn đứng lên bước qua, định ngồi chung với nàng. Song Lâm cười khẽ một tiếng, xoay người tránh qua, đôi hài nhỏ ba tấc dưới chân không biết hữu ý hay vô tình chạm vào chân Thu Cốc một cái, một cái chạm ấy càng khiến Thu Cốc trong lòng ngứa ngáy không yên". Đoạn miêu tả nói trên đã tả tình trạng kỹ nữ lấy bàn chân đẹp gợi tình tới mức lâm ly tột cùng, cảnh tượng sinh dộng hiện ra trước mắt người đọc, quả có thể nói là tác phẩm kinh điển!
_______________________

(2) Trở lên xem Dư Hoài, Bản Kiều tạp ký.
(3) Xem Tần Hoài họa phảng lục.
(4) Xem Tục Bản Kiều tạp ký.
(5) Xem Dương Châu họa phảng lục.
(6) Chu Đống Viên, Thư ảnh

II. Bí quyết trong phòng của kỹ nữ

Bí quyết trong phòng của kỹ nữ chính là nắm vững cách thức làm cho khách chơi sung sướng tột đỉnh, nó là kỹ xảo cơ bản mà kỹ nữ phải chuẩn bị đầy đủ. Việc sinh hoạt tình dục đối với kỹ nữ không phải là một sự hưởng thụ xác thịt mà là một loại lao động thể lực, là con đường chủ yếu để sống còn.

Để khách chơi thỏa mãn, đồng thời để mình đỡ phải mệt mỏi quá độ, kỹ nữ ắt phải nắm vững một số kỹ xảo nhất định. Kỹ nữ chỉ có học được loại kỹ xảo trên giường này mới có thể hấp dẫn khách chơi, khiến khách chơi ưa thích, lung lạc khách chơi, đạt được mục đích lấy tiền. Như Ngọc Hương trong tiểu thuyết Nhục bồ đoàn, chính dưới sự uy hiếp bằng roi vọt của chủ chứa Cố Tiên Nương, đã học được ba "tuyệt kỹ" tính giao để chiều lòng khách chơi. Nghe nói ba tuyệt kỹ này đối với đàn ông không khác gì thuốc bổ, "Không những Nhân sâm, Phụ tử khó bì mà thuốc trường sinh bất lão cũng không hơn được". Vì thế, "nhất thời nổi tiếng ở kinh đô, không có hương thân lão gia, vương tôn công tử nào không tới thưởng thức" tự nhiên thu nhập của kỹ viện cũng tăng vọt. Đoạn đối thoại giữa kỹ nữ Vương Thúy Kiều và chủ chứa Má Tú trong tiểu thuyết Song hợp hoan hồi 10 đã nói một cách triệt để rõ ràng tính chất quan trọng trong công phu trên giường của kỹ nữ:

"Thúy Kiều nói "Ngủ là ngủ, chẳng lẽ lại còn có mấy kiểu sao?". Má Tú cười nói "Con ngốc, nếu kỹ nữ cũng như con nhà lành thì ai mà tới chơi, trong đó có nhiều cảnh giới kỳ diệu lắm". Thúy Kiều nói "Xin má giảng kỹ qua một lượt". Tú má nói "Phàm khách ăn xong, sắp lên giường, phải để khách nằm phía trong, còn ngươi nằm ở phía ngoài. Phải hướng khuôn mặt vào khách, đưa tay cho y gốì đầu. Nhất định y sẽ mò mẫm toàn thân ngươi, ngươi cũng sờ mó hạ thể của y. Nếu ngắn và nhỏ thì dùng phép Kích cổ thôi hoa (Đánh trống giục hoa), nếu dài và to thì dùng phép Kim liên song tỏa (Sen vàng khóa xiết), nếu là người tính cấp thì dùng cách Đại triển kỳ cổ (Mở cờ gióng trống), nếu là người tính hoãn thì dùng phép Mạn đả khinh xao (Đánh chậm gõ nhẹ), nếu không chịu nổi thì dùng phép Khẩn thuyên tam điệt (Xiết nơm ba chặp), nếu chịu nổi thì dùng cách Tả chi hữu trì (Bên níu bên giữ), nếu là kẻ dịu dàng thì dùng phép Toán tâm truy hồn (Dùi tim bắt hồn), nếu là kẻ hiếu sắc thì dùng phép Nhiếp thần nột tọa (Thôi miên ngồi cưỡi). Những lối khác cũng có nhiều, nhưng đại thể không ra khỏi tám lốì nói trên".

Nói tóm lại, kỹ nữ phải làm sao để thuận theo tự nhiên, tùy ý mà làm, dịu dàng vâng chịu đem hết sở học bình sinh của mình để chiều chuộng khêu gợi khách chơi, khiến họ khoái lạc thỏa mãn. Chính vì thế nên về kỹ xảo trên giường kỹ nữ cũng tinh tường không kém gì khách chơi. Thời Minh có rất nhiều bức tranh hành lạc có gắn bó mật thiết với kỹ nữ. Các sách Phong nguyệt cơ quan, Hoa cung cẩm trận, Phong lưu tuyệt sướng, Uyên ương bí phổ, Thanh lâu đoạt cảnh vân vân đều có vẽ những tư thế giao hợp khác nhau của kỹ nữ và khách chơi. Như bài tựa Phong nguyệt cơ quan nói rất rõ ràng như sau:

Nam nữ duy dị, Ái dục tắc đồng. Nam ái nữ mỹ, Nữ mộ nam kiên. Nha tử sáng gia, uy bức giai nhân sinh xảo kế, Quyết vu ái sao, thế thôi nữ tử lộng gian tâm. Thả như tầm thường thức kiến, giai do thằng chuẩn chi trung. Thiết nhược kỳ xảo cơ quan, Cánh xuất thuyên đề chí ngoại. Nhược bất tiến trù, Định tao thiết võng. Điều tình tu tại vị hợp chi tiên, Doãn vật bất đãi dĩ sách chi hậu. Nhược yếu nhận chân, Định nhiên trước giả. Đối tân kỹ vật đàm cựu kỹ chi phi tắc tân kỹ sinh nghi, Điều thương cơ vật linh tri cơ chi tiểu nhi thương cơ thất ý. Thống tửu vật ẩm, Quả thố hưu thường.

(Trai gái vốn khắc, Ham muốn lại cùng. Trai ưa gái đẹp, Gái thích trai sung. Chủ chứa mở nghiệp, bức ép giai nhân sinh kế kéo, Dốc lòng thích bạc, giục đòi nữ tử nảy lòng gian. Nếu là kẻ tầm thường, thì phải theo mực thước. Giả như có cơ quan, càng xa nơi bẫy lưới. Nếu không tính kế, Sẽ bị mắc mưu. Gợi tình phải từ lúc chưa làm, Đưa vật không đợi khi đã hỏi. Nếu phải nhận chân, Ắt nên quyết ý. Trước nàng mới chớ bàn điều sai quấy của nàng cũ mà nàng mới sinh nghi, Chơi gái già dừng tiếc sự trẻ đẹp của gái tơ
khiến gái già thất ý. Rượu nặng chớ uống, Quả héo đừng ăn.

Không nghi ngờ gì, những bức tranh này đều vẽ cảnh gió trăng trong kỹ viện.

Tranh hành lạc đều đặt trong phòng ngủ của kỹ nữ. Như tiểu thuyết ăn chơi Hương tai xuân tiêu kính cuối thời Thanh, hồi 2 miêu tả:

"Ấp Hương đã say, lập tức theo Lệ Tiên vào phòng, nhìn bốn phía một lượt, kế tới phòng trong, chợt thấy trên bàn bày một tấm gấm màu hồng trên viết bốn chữ Vui mắt thỏa lòng, đang định mở ra thì bị Lệ Tiên hai tay giật lấy. Ấp Hương trong lòng rất nghi ngờ, dốc ý muốn xem bằng được, Lệ Tiên miễn cưỡng đưa cho, Ấp Hương mở ra xem té ra là một cuốn tranh hành lạc bốn bức, bên trên đều nêu rõ tên tranh, một là Hý điệp xuyên hoa, một là Linh tê xạ nguyệt, một là Vũ yến quy sào, một là Bàng hoa tùy liễu, đều vẽ tới mức sinh dộng khéo léo phi thường, huống hồ lại thêm Lệ Tiên muôn điều kiều mỵ, ngàn lối ôn nhu, bèn giúp nàng cởi bỏ quần là, nới lỏng đai lưng, nói "Đã say lắm rồi, đêm cũng đã khuya, mong nàng bầu bạn với ta!". Lệ Tiên lúc ấy nửa xô ra nửa áp vào, vừa thẹn thùng vừa thích thú, để mặc Ấp Hương bế vào giường. Đúng là: Một cặp uyên ương xuân mấy giấc, Gối là chăn gấm biết bao xuân".

Từ đó mà xem thì tập tranh hành lạc này không những là ông thầy vô danh dạy cho kỹ nữ học tập kỹ xảo trên giường, mà còn có tác dụng kích thích dục tình của khách chơi.

Chủ chứa kỹ viện càng coi trọng việc bồi dưỡng huấn luyện kỹ xảo tình dục cho kỹ nữ. Tất cả việc huấn luyện đều bắt đầu từ lúc còn là kỹ nữ trẻ, về quy trình đại khái có ba bước: thứ nhất là học tập lý thuyết, tức do chủ chứa hoặc kỹ nữ già giàu kinh nghiệm giảng dạy cho họ thuật trong phòng, bắt họ học các từ ngữ dâm đãng khêu gợi, đọc các tiểu thuyết dâm thư như Nhục bồ đoàn, Tục tháp dã sử, Si bà tử truyện. Trong dân gian, cửa quan này được gọi là Đỗ thuốc mê (Trạc mê hồn thang). Như Tục Kim Bình Mai hồi 53 nói "Đến năm mười bốn mười lăm tuổi, lại dạy phấn son tắm gội, bên gối phong tình, mua một bức tranh hành lạc, như ý anh truyền, dâm thư lãng khúc, theo đó diễn tập các dáng vẻ kiều mỵ". Hai là quan sát thực hành, tức dưới sự lãnh đạo của chủ chứa tới cạnh phòng kỹ nữ đang bán dâm, thông qua lổ hổng hay cửa lùa bí mật mà quan sát thao tác của kỹ nữ trên giường. Ba là huấn luyện theo mô hình, tức cho kỹ nữ trẻ "khỏa thân ôm ấp nhau, khép mở ôm đẩy cho tới các cách thở ra hít vào", chủ chứa đứng bên cạnh không gì không hết lòng chỉ bảo.


III. Chế độ hàng ngày của kỹ nữ

Theo tiểu thuyết diễm tình Song hợp hoan thời Thanh, kỹ nữ ngoài việc chuẩn bị công phu trên gối, còn phải học tập "chế độ hàng ngày", có bảy cách thức:

"Thứ nhất gọi là khốc (khóc). Tiếp khách chơi có tiền, ngồi mới vài giờ đã định đứng lên ra về, thì cô phải khóc nói "Tình lang, anh bỏ em đi rồi", làm ra vẻ nũng nịu diễm si mê, lưu luyến không buông. Cho dù ruột y có bằng sắt cũng cứ khóc cho y tay mềm chân nhũn. Nếu y là người lão luyện, nhất định sẽ nói với cô khách đến rồi khách đi, cần gì lưu luyến như thế. Ta và cô phùng trường tác hý, cô cần gì phải tưởng thật. Cô cứ nước mắt ròng ròng, sụt sùi nói "Đủ thấy đàn ông các anh lòng dạ độc ác, không cần nói hai người gặp nhau lưu luyến không rời, mà cho dù một cục đá ôm lâu cũng nóng lên chứ. Tiếp khách tuy nhiều chứ tình chỉ có một, quả thật là tôi có ý lưu luyến anh". Hai hàng lệ nhỏ sinh xuân sắc, một khóe thu ba đoạt phách người.

Thứ hai gọi là tiễn (cắt tóc), Khách ở lại lâu, y có ý lưu luyến cô, lúc ấy cô phải quyết kế để ràng buộc lòng y. Chỉ sợ người khác thấy y gắn bó với cô, đưa y Nhảy tường (Khiêu tường) hay bạn bè thấy hai người các cô gắn bó, bài xích chuyện trăng gió của hai người. Phải cùng y cùng cắt tóc thơm trộn chung thành một mớ, chia buộc vào hai cánh tay, ý nói kết tóc xe tơ. Có thơ làm chứng rằng:

"Nhất lũ hương vân triệt hạ tân,
Tặng dữ tình nhân chứng túc minh.
Chỉ vị yên hoa không kết phát,
Thanh lâu đã phú Bạch đầu ngâm"

(Mớ tóc thơm này cắt với anh,
Trao tặng tình nhân đủ chứng minh.
Chỉ bởi yên hoa không kết tóc,
Lầu xanh cũng đọc Bạch đầu ngâm).

Thứ ba gọi là thích (xăm). Hai lòng đã hợp, ắt dùng một việc để xiềng khóa lòng y. Nếu không bọn con em rất dễ thay lòng đổi dạ. Chẳng hạn nghe nói ai đẹp đẽ, ắt muốn qua chơi bời, nhìn thấy ai xinh tươi, là nghĩ cách vui thú. Đến lúc này phải ra tay, nhân lúc y còn tiền, phải bắt y trong lòng không minh bạch, không những không chịu bỏ tiền ra, mà còn khiến công phu trước đây của ta vứt hết. Bây giờ phải dùng thủ pháp nặng bắt y. Hoặc trên hai cánh tay hoặc trên hai bắp chân, hoặc tạm ở lòng bàn chân
dùng kim châm ba chữ Mỗ phu nhân lên đó, lấy mực bôi lên, khiến y nhìn thấy cho rằng cô là người duy nhất có tình, y ắt rơi vào thuật, dốc lòng với cô. Nêu y bỏ đi, sau này người khác nhìn thấy ắt sẽ nghĩ rằng Mỗ nhân không biết đối đãi với cô tốt thế nào mà cô lại lưu luyến y đến thế. Ắt lại tìm nhiều cách đối xử tốt với cô, muốn cướp đoạt sự yêu thương của người trước. Cô có thể nhân đó mà dùng kế, cau mày khóc nói "Mỗ nhân tiêu tốn cho tôi khá nhiều tiền bạc, tình cảm thế nào, tốt đẹp thế nào, vui tính thế nào, mà tôi chưa từng báo đáp được y". Nói xong, cúi xuống đánh rơi mấy giọt lệ. Bất giác người kia trong lòng sẽ xoay chuyển, tự nguyện bỏ tiền ra...

Thứ tư gọi là thiêu (đốt). Đốt là khổ nhục kế. Hiện nay vì vợ con đành hanh, nên bọn con em cũng gian xảo. Muốn được y thích, lấy được tiền của y mà không có cách thức khơi gợi lòng người, ràng buộc ý người, thì làm sao lung lạc cho y rơi vào bẫy. Chỉ đành dùng khổ nhục kế này giúp y cùng thề thốt, đàn ông không chia lòng, đàn bà không chia ý. Nếu như phản phúc, quỷ thần cùng giết. Hai người cùng đốt, huyệt thứ nhất chỗ tâm oa, tình cảm nhiều nhất phải đốt, gọi là Công tâm trung nguyện. Hai người cởi phanh áo, da bụng áp da bụng, ngực áp ngực, hương đốt vào đó. Kế đó hai người lề đầu vào nhau mà đốt, gọi là Kết phát đĩnh nguyện. Huyệt thứ ba tay trái mình áp vào tay phải y cùng đốt, gọi là Liên tình tả nguyện. Huyệt thứ tư tay phải mình áp vào tay trái y cùng đốt, gọi là Liên tình hữu nguyện. Huyệt thứ tư vế trái mình áp vào vế phải y cùng đốt, gọi là Giao cổ tả nguyện. Huyệt thứ sáu chân phải mình áp vào chân trái y cùng đốt, gọi là Giao cổ hữu nguyện. Đương thời Tào Tháo tám mươi ba vạn người ngựa xuống Giang Nam bị một mình Hoàng Công Phú dùng khổ nhục kế đánh bại. Loại đàn ông ngu xuẩn như thế trên đời rất hiếm, chưa từng đối xử tốt với y, y còn có thể mua vui trước mặt chị em mà tốt với mình. Nếu cô đã thiêu hương với y rồi, y sẽ dốc hết gia tài, ăn liễu nuốt hoa, chết cũng không hối hận...

Thứ năm gọi là giá (lấy). Khách chơi không nói cưới thì có gì thú vị, chị em không nói cưới thì có chỗ thắm thiết. Nhưng chữ cưới này không giống như chữ cưới thật của con gái bình thường, phải theo vóc may áo, tùy lò rèn sắt, gặp cảnh sinh tình sử dụng cho khéo. Y là con nhà ngàn vàng, hỏi cô thân giá bao nhiêu, cô bèn nói tôi vốn là bán cho họ bao nhiêu tiền đấy, tiếp khách mấy năm cho họ, tìm được bao nhiêu tiền, cũng có mấy phần lãi rồi. Bây giờ bất quá đưa họ vài trăm lượng bạc là hết chuyện. Cả ngày bàn việc cưới gả, nói thề thốt nói tình nghĩa. Y trong lòng mờ mịt, tự nhiên bỏ tiền ra. Khi đã hết tiền, y cưới cô không được, không cần cô giã từ, y cũng tự yên lặng mà bỏ đi...

Thứ sáu gọi là tẩu (chạy trốn). Cách này là diệu pháp trong kế bày kế. Y chơi bời tới mức hết sạch tiền, muốn cưới thì không còn tiền, muốn chơi cũng không có tiền. Những cách trước đã thi hành, về sau khó dùng lại, phải đuổi y ra khỏi cửa, chỉ có một cách bỏ chạy có thể lừa được y động tâm. Hoặc hẹn y chạy trốn tới chỗ nào đó, hoặc bảo y thuê thuyền ở chỗ nào đó, làm sao cho y tin tưởng không ngờ vực. Đến hôm ấy thu thập đồ đạc ra đi, bị đánh vỡ đầu, phao ầm lên là phải giải lên quan, y tự nhiên không thích quay lại nữa. Đó là kế giải vây, y chỉ nói là số phận hẩm hiu, bị người ta làm hỏng việc tốt, chứ đâu biết bên trong có kế...

Thứ bảy gọi là tử (chết). Người ta chỉ chết được một lần. Nếu tiếp một người khách mà chết một lần thì không biết phải có bao nhiêu mạng mà chết cho đủ. Đây là giả chết, không phải chết thật. Lúc hai người thân thiết, thấy lòng y đã lay động, liền nói tôi sống là vợ của anh, chết cũng là ma nhà anh, tôi nhất định sẽ lấy anh. Nếu anh không cưới tôi, tôi sẽ chết trên người anh. Nếu y đã có vợ lớn vợ nhỏ, biết rõ y không thể cưới cô, sẽ nói ta không thể cưới cô làm vợ thật, uổng công làm bạn với cô. Tôi tuy tiếp khách nhiều năm, nào được ai dịu dàng như thế, biết đau biết xót. Anh đã không cưới được tôi thì tôi với anh cùng chết, cũng còn hơn sống trên đời mà phải chia ly. Đúng là sống trên đời không thể kết đồng tâm, thì sau khi chết xin làm cây liền cành. Không sợ gì y không dốc lòng với cô...

Hiểu được bảy chữ Âm phù ấy là có thể lên đàn thi thố tài nghệ. Đứng ở trước cửa khách khứa nhìn cô một cái là phải tươi cười bước lên đón, nếu trời sinh hàm răng đẹp thì cười khẽ để lộ răng, để khoe sự đẹp đẽ, gọi là Hiến răng bạc (Hiến ngân nha). Bàn chân không đủ nhỏ thì lấy chân đạp lên ngạch cửa cúi đầu nhìn xuống, gọi là Phượng gật đầu (Phượng điểm đầu). Nếu thân hình đầy đặn đẹp đẽ thì bước lên một bước gọi là Hiện thân thuyết pháp. Tay thì phải hơi lộ vẻ búp măng, hoặc khóe mắt đưa tình hoặc ngâm khẽ làm duyên. Không điều nào là không muốn khơi gợi lòng xuân của họ, đánh động lòng ham muốn của họ. Thông thạo bảy điều ấy thì có thể làm kỹ nữ vậy" (7)

Thuật dẫn dụ khách của kỹ viện mà chủ chứa Tú má nói với Vương Thúy Kiều này hoàn toàn không phải do nhà tiểu thuyết tùy ý nghĩ ra, bịa đặt thêu dệt mà có căn cứ thực tế, cũng có thể đối chiếu với Tiêu kinh thời Minh. Tiêu kinh thời Minh có cái gọi là "Tẩu tử khốc giá thủ, tuy giả ý mạc ngôn dị đắc" (Trốn chết khóc lấy đợi, tuy giả ý chớ ràng dễ được), Chu Nguyên Lượng chú rằng "Năm việc ấy làm động lòng người nhất. Khóc lóc đòi đợi, dây tình vấn vít, đã không thể giẫy ra, bỏ trốn và chết càng không phải tiếng hay, lại quả càng không thể giẫy ra. Con em đến lúc ấy phải bỏ tất cả kiến thức, chủ trương, mới không rơi vào lưới". Mà trong Tiêu kinh lại có cái gọi là "Trảo đả tiễn thích thiêu, tổng hư tình kỳ thực nan vi" (Cào đánh cắt xăm đốt, thảy hư tình kỳ thực khó làm), Chu Nguyên Lượng chú rằng "Cào, đánh là thói xấu, cắt tóc, xăm người thiêu hương tựa hồ chân tình nhưng nhất thời cũng có kẻ khẳng khái làm theo. Duy bị trăm nỗi khổ vẫn không đổi ý mới đúng là chân tình".
________________________

(7) Thanh Tâm tài nhân, Song hợp hoan, Trung Châu cổ tịch xuất bản xã, 1994. hồi 10, 11.

IV. Những lối lừa gạt của kỹ nữ

Cẩm sáo đầu, còn gọi là Cẩm sáo nhi, cẩm quý đầu, là chỉ thủ đoạn ràng buộc khách chơi của kỹ nữ.

Từ xưa đến nay, trong kỹ viện đã lưu hành một câu nói như sau "Không sợ người tới không sâu sắc khôn ngoan, chỉ sợ người sâu sắc khôn ngoan không tới". Ý nói không sợ anh kinh nghiệm phong phú, lão luyện từng trải mà chỉ sợ anh không tới kỹ viện. Quan Hán Khanh trong Nhất chi hoa, Bất phục lão "Cho dù tử đệ là ai ngươi cũng dùi vào cho y giẫy không đứt, chém không đổ, cởi không ra, mệt mỏi không thoát, ngàn tầng túi gấm trùng trùng".

Để lừa lấy tiền của khách, kỹ nữ dần dần hình thành những thuật lừa đảo đặc sắc có hệ thống. Những cách lừa gạt này không ngừng biến đổi theo thời đại, ngày càng tinh vi, khiến người ta phải khen ngợi.

Cách lừa gạt cẩm sáo của kỹ nữ nhiều màu nhiều vẻ nhưng nổi tiếng nhất thì không ra khỏi mấy loại dưới đây:

1. Vở người đẹp

Cái gọi là Vở người đẹp (Mỹ nhân cục) chính là lấy sắc đẹp làm cạm bẫy dụ dỗ khách chơi để thu lợi. Vũ lâm cựu sự, quyển 6, Du thủ "Ở vùng Hạo Nhương, nhân vật lẫy lừng, bọn du thủ gian hoạt rất đông. Có cái gọi là Vở người đẹp, lấy kỹ nữ làm thê thiếp, dẫn dụ bọn thiếu niên mắc câu".

2. Người tiên nhảy

Người tiên nhảy (Tiên nhân khiêu), là một cách lừa đảo mau lẹ của kỹ nữ, tất cả đều do kỹ nữ giả làm phụ nữ nhà lành, giả nói là vợ người khác, dùng sắc đẹp dụ người ta mắc câu, sau đó do lưu manh đồng bọn là đàn ông giả làm "chồng” hay "bà con" tới đòi người mắc lừa bỏ tiền ra.

Cách dùng sắc đẹp của kỹ nữ làm cạm bẫy để lừa đàn ông mắc câu mà thủ lợi này đã lưu hành từ thời Tống. Đến thời Minh, cách này còn dược gọi là Nhóm mớ lửa (Trát hỏa đồn), đến thời Thanh lại gọi là Người tiên nhảy.
Người tiên nhảy rất thường thấy trong giới kỹ nữ. Tiểu thuyết ăn chơi Hoa liễu mộng thời Thanh, tập 2 hồi 6 Kế Vạn Kim thiết kế tầm cừu, Tiền Thủ Ngu phá tiền miễn họa (Kế Vạn Kim bày kế tìm kẻ thù, Tiền Thủ Ngu tốn tiền tránh tai họa) là chép về lối lừa gạt ấy. Chuyện kể Tiền Thủ Ngu là phú ông nhà quê ở Tô Châu, lúc ở Dương Long hội tại Thượng Hải nhất thời không xét kỹ, lạc vào kỹ viện gà lẻ, ngủ với kỹ nữ gà lẻ Vương Nguyệt Tiên, không ngờ lại mắc kế Người tiên nhảy của họ: Đầu tiên Vương Nguyệt Tiên lừa cởi hết quần áo của Tiền Thủ Ngu, sau đó lên giường, thắp đèn hút thuốc làm hiệu, hẹn với bọn lưu manh vô lại Vạn Toàn phá cửa xông vào bắt gian phu, dùng nắm đấm gậy gộc ra sức dọa nạt, khiến Thủ Ngu lên trời không lối, xuống đất hết đường, không những bị đánh một trận no đòn, mà còn phải mất không bốn trăm đồng tiền Tây dương làm Tiền rửa nhục. Đó là ví dụ điển hình về Người tiên nhảy.

3. Thả bồ câu trắng

Thả bồ câu trắng (Phóng bạch cáp) chính là lấy sắc đẹp của kỹ nữ làm mồi câu thả ra cho đàn ông hiếu sắc, một khi có cơ hội thì sẽ vơ vét hết tiền bạc, như bồ câu bay về tổ cũ, nên có tên như thế. Hộ du tạp ký của người thời cận đại là Cát Nguyên Cù, quyển 2 nói "Nuôi bồ câu thả đi, ắt dắt đồng loại trở về, thu lợi gấp đôi. Gần đây có kẻ lấy người làm bồ câu. Như phụ nữ trẻ tuổi lai lịch bất minh, hoặc bán mình hoặc tình nguyện vào nhà người ta, không đầy một tháng, nếu không cuỗm hết của cải bỏ trốn, thì vu khống là kẻ bỏ trốn, khiến người mua mất cả tiền lẫn người, gọi là Thả bồ câu trắng".

4. Cởi ngược hài

Cởi ngược hài (Đảo thoát hài), cũng là một hành vi lừa đảo giống như Thả bồ câu trắng. Kỹ nữ trước hết chọn mục tiêu, sau đó lấy người ta làm Dì thái thái, dùng thân xác để người đàn ông ưa thích, sau đó cuỗm hết tài vật trốn đi.

Có tấm gương ở đó, mọi người coi việc chơi bời ả kỹ viện là điều đáng sợ, có người từng làm một bài thơ thất ngôn luật như sau:

"Mê hồn trận thế khởi bình khang
Mai phục đa ban tử tế phòng!
Liễu chức hoa phan uy mạc địch
Khinh đao lạt phủ dũng nan đương
Tần thư tiếu kiểm câu hồn phách,
Khinh khải chu thần hấp não tương
Hãm nhập võng la thùy đả phá?
Năng chinh mạc nhược bất lâm trường" (8)

(Mê hồn trận thế dấy bình khang
Mai phục đa đoan cẩn thận phòng!
Dệt liễu giăng hoa oai khó địch
Đao nhanh búa nặng thế khôn đương
Hơi tươi mặt ngọc câu hồn phách,
Khẽ hé môi son hút tủy xương
Sa bẫy mắc dò ai thoát được?
Dẫu hơn cũng chớ tới sa trường).

_______________________

(8) Dật Danh, Hải thượng hoa mỵ ảnh, hồi 1.

Không có nhận xét nào:

Đăng nhận xét